Thứ Năm, 28 tháng 6, 2012

Quân cảng Cam Ranh: Điều chưa được biết!


(Petrotimes) - Ít người nhớ rằng, cách đây tròn 10 năm, ngày 4/5/2002, những người lính Nga cuối cùng đã bước chân lên tàu Xakhalin từ biệt căn cứ Cam Ranh sau gần 1/4 thế kỷ có mặt tại nơi này. Cam Ranh đã được gửi lại cho Việt Nam, như một căn cứ nền tảng để trở nên hùng mạnh. Và dường như cho đến tận bây giờ, phần đông trong số chúng ta không thực sự biết gì nhiều về căn cứ ấy.

1. Ngày 23/4/2012, khi ba chiến hạm Mỹ cập cảng Tiên Sa, Đà Nẵng để bắt đầu hoạt động giao lưu, trao đổi hải quân “phi tác chiến” với Việt Nam, một hãng thông tấn nước ngoài đã bình luận rằng, nếu các chuyến ghé cảng này được nói một cách công khai, thì có một khía cạnh hợp tác Mỹ – Việt khác ít được loan báo: Đó là chiến hạm Mỹ đã được gửi đến sửa chữa, bảo trì tại các cảng Việt Nam. Tàu Hải quân Mỹ đã có lần được gửi đến sửa chữa tại các xưởng đóng tàu Việt Nam. Gần đây nhất, vào năm 2012, chiếc USNS Rappahannock (T-AO-204) đã có chuyến đến bảo trì tại Nhà máy Đóng tàu Cam Ranh.

Cán bộ vùng 4 Hải quân chụp ảnh lưu niệm với sĩ quan thủy thủ tàu khu trục Hải quân Nga tại Cảng Cam Ranh (năm 1982)

Một thông tin thú vị trong không khí biến động thời cuộc không ngừng của Biển Đông. Cam Ranh đã âm thầm phát triển, trở thành một tổ hợp hải quân và không quân hùng mạnh, với các trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại có thể đánh trả mọi đe dọa chiến tranh với Việt Nam, như lời Trung tướng, Viện sĩ A.V Phêđôrôvích nhận xét. Lời Trung tướng A.V Phêđôrôvích hoàn toàn có cơ sở, bởi ông là một trong số những người Xôviết có mặt ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ trước và ông không xa lạ gì với căn cứ này.

Giới chuyên gia quân sự đã thừa nhận vị trí của Cam Ranh có tầm ảnh hưởng to lớn tới bản đồ địa – chiến lược toàn cầu, cho dù họ có đứng ở các chân trời quan điểm nào đi chăng nữa. Năm 1888, Hải hạm của Nga mang tên “Tráng sĩ” trong chuyến đi vòng quanh thế giới đã cập cảng Cam Ranh, sau đó, nơi đây đã trở thành quân cảng của các nước lớn thay nhau đồn trú trong vòng gần 100 năm trở lại đây. Trong cuộc chiến Nga – Nhật 1905, hơn 100 chiến thuyền thuộc Hạm đội Thái Bình Dương số 2 của Hải quân Nga Hoàng đã từng tập trung tại Cam Ranh.

Năm 1935, thực dân Pháp bắt đầu cho xây dựng căn cứ hải quân tại Cam Ranh. Năm 1940, Cam Ranh rơi vào tay Nhật Bản, trở thành bàn đạp để Nhật Bản tiến đánh Malaysia và các quần đảo thuộc địa của Hà Lan (nay là Indonesia).

Ngày 18/10/1946, Cam Ranh là nơi diễn ra cuộc hội kiến giữa Hồ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cao ủy Pháp DArgenlieu. Cuộc gặp gỡ được tổ chức trên thiết giáp hạm Suffren, có các vị chỉ huy hải, lục, không quân Pháp và các nhà báo nước ngoài. Trong bữa tiệc trên chiến hạm Suffren, khi DArgenlieu bóng gió nói: “Thưa ngài Chủ tịch, ngài thật đang bị đóng trong cái khung”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mỉm cười và trả lời: “Nhưng mà ngài Đô đốc biết đấy, chính bức tranh làm nên giá trị cái khung”. DArgenlieu lại nói: “Chủ tịch thật quen với biển cả, có lẽ xin tặng Người danh hiệu “Người thủy thủ nhỏ” như quân đội Pháp đã quý mến tặng Napoleon cái tên “Người đội trưởng nhỏ!”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đáp lại: “Phải, người thủy thủ nhỏ của Hải quân Việt Nam”.

Từ năm 1965 đến 1972, Mỹ đã xây dựng Cam Ranh thành một căn cứ quân sự khổng lồ được coi là “bất khả xâm phạm” để làm cứ điểm tiếp liệu và khí tài quân sự cho chiến tranh, đồng thời khống chế hành lang phía tây Thái Bình Dương.

Vào năm 1969, Lyndon B. Jhonson đã đến thị sát căn cứ này, và đó là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng thống Mỹ khi tới Việt Nam. Lúc đó, căn cứ không quân của Mỹ ở vịnh Cam Ranh rất lớn, bao gồm hai sân bay cho máy bay phản lực và một sân bay cho máy bay trực thăng, mỗi sân bay có sức chứa hơn 100 máy bay. Người Mỹ còn tiến hành khoét núi Cam Ranh, xây dựng kho chứa máy bay trong lòng núi, nâng cấp đường băng lớn có thể cho máy bay ném bom chiến lược B52 cất và hạ cánh. Vào lúc cao điểm, sân bay quân sự Cam Ranh có tần suất hạ cánh và cất cánh cao nhất thế giới.

Năm 1972, người Mỹ trao lại căn cứ này cho quân đội Sài Gòn và 3 năm sau quân đội nhân dân Việt Nam đã giải phóng Cam Ranh. Khi tiếp quản, Cam Ranh đã bị phá hủy hoàn toàn các bến neo tàu, đường sá, sân bay, hệ thống đường dây tải điện cũng như các khu nhà ở.

Hải quân Liên Xô tại Cam Ranh 1982

2. Chuẩn đô đốc E.I Prokôpievich, người cuối cùng lên cầu tàu thủy Xakhalin-9 rời Việt Nam năm 2002 trong cương vị Chỉ huy trưởng Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật 922 của Cam Ranh nhận định, căn cứ quân sự trước đây của Mỹ trên bán đảo Cam Ranh – Khánh Hòa đã thu hút sự chú ý Liên Xôviết bằng chính vị trí địa lý của nó, xét về mọi phương diện thì hoàn toàn ưu việt cho việc triển khai một căn cứ hải quân. Nó cho phép khống chế các eo biển Malaysia và Philippines, có thể tiến hành trinh sát điện tử Biển Đông, biển Philippines, Đông Hải, thậm chí tới tận khu vực vịnh Pécxích hay vùng bắc Ấn Độ Dương. Bán đảo Cam Ranh bọc trong mình hai vịnh Bình Ba và Cam Ranh, nơi không chịu ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết, có độ lớn và sâu để có thể neo đậu mọi loại chiến hạm và tàu hộ tống, kể cả tàu sân bay.

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, Hải quân Liên Xô đã vươn ra biển lớn, bắt đầu tiến hành trực ban chiến đấu trên các đại dương. Tàu chiến, tàu ngầm, máy bay hải quân được triển khai trên các đại dương nhằm mục đích bình ổn cục diện chung. Việc mở rộng quy mô cũng như vùng hoạt động của tàu thuyền và không quân trên biển yêu cầu phải có mạng lưới hậu cần kỹ thuật hải quân rộng khắp. Vì không có căn cứ quân sự ở nước ngoài nên Liên Xô đã xây dựng trạm cung ứng vật tư kỹ thuật trên lãnh thổ các nước có quan hệ thân thiện, đương nhiên Cam Ranh là một điểm sáng tô son. Cuối năm 1978, nhóm sĩ quan đại diện cho các tổng cục của Bộ Tư lệnh Hải quân và của Hạm đội Thái Bình Dương đáp máy bay sang Việt Nam để ngày 30/12 đã thỏa thuận xong và ký biên bản ghi nhớ làm cơ sở đàm phán xây dựng và cùng khai thác Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật.

Ngày 2/5/1979, Chính phủ LB CHXHCN Xôviết và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã ký hiệp định về việc sử dụng Cam Ranh làm Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật cho Hạm đội Thái Bình Dương của quân đội Liên Xô – trong 25 năm. Ngay ngày hôm đó, thi hành lệnh của Bộ tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô và Chỉ thị số 13/1/0143 của Cục Tham mưu hạm đội Thái Bình Dương ngày 28/8/1980 đã thành lập Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật trên bán đảo Cam Ranh mang phiên hiệu đơn vị 31350.

Theo quy định trong Hiệp định, tại quân cảng Cam Ranh cùng lúc có thể tập trung từ 8-10 tàu chiến Liên Xô, 4-8 tàu ngầm có khu neo nổi và tối đa 6 tàu hộ tống. Tại sân bay cùng lúc có thể tiếp nhận từ 14-16 máy bay mang tên lửa, 6-9 máy bay trinh sát do thám và 2-3 máy bay vận tải. Tùy theo tình hình chiến sự cụ thể, số lượng máy bay và tàu chiến có thể tăng lên theo thỏa thuận giữa hai Bộ Quốc phòng Liên Xô và Việt Nam.

Tháng 5/1979, các tàu chiến Liên Xô bắt đầu đi vào hải phận Cam Ranh. Mùa Hè năm đó, tàu ngầm nguyên tử phóng ngư lôi K-45 đã neo đậu tại Cam Ranh, sau đó ít lâu, các máy bay hải quân của hạm đội Thái Bình Dương bắt đầu hạ cánh.

Tháng 12/1979, Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô, Đô đốc X. Gorskốp tới Cam Ranh và ông đã dành hẳn một ngày để quan sát vịnh biển này, giống y như cách Tổng thống Mỹ Giônxơn đã tới để ngắm nhìn địa thế “sông núi nước Nam” 10 năm về trước. Phân đội đầu tiên của Hạm đội Thái Bình Dương gồm 54 người đến đây tháng 4/1980 và tháng 8 năm đó quân số được bổ sung thêm 24 người thuộc bộ phận thông tin liên lạc.

Bộ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang và Chính phủ Liên Xô đã giao cho Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật 922 nhiệm vụ làm giảm nhẹ đáng kể áp lực cho Hạm đội Thái Bình Dương nói riêng và toàn bộ Hải quân Liên Xô nói chung trong việc cung cấp những dự trữ cần thiết cho các chiến hạm và tàu hộ tống đang làm nhiệm vụ tại Biển Đông trong tình hình chiến sự lúc đó của khu vực Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Và Cam Ranh trở thành căn cứ hải quân lớn nhất của Liên Xô ở nước ngoài, căn cứ duy nhất bên bờ Biển Đông, nơi cách cảng gần nhất của Nga 2.500 hải lý.

3. Từ mùa Thu năm 1983 đến tháng 8/1991, hải đoàn cơ động số 17 triển khai tại Cam Ranh, từ tháng 8/1991 đến tháng 12/1991 được thay thế bằng hải đoàn cơ động số 8 và sau đó là hải đội tàu hỗn hợp 119. Thời điểm năm 1986, trên sân bay triển khai trung đoàn không quân hỗn hợp độc lập gồm 4 máy bay Tu-95, 4 chiếc Tu-142, phi đoàn máy bay Tu-16 khoảng 20 chiếc các loại, phi đoàn MiC25 khoảng 15 chiếc, hai máy bay vận tải An-24 và 3 máy bay lên thẳng Mi-8. Ngoài ra trung đoàn còn quản lý và chỉ huy căn cứ chống tàu ngầm, tiểu đoàn tên lửa và tiểu đoàn kỹ thuật.

Tháng 2/1984, theo đề nghị của phía ViệtNam, Chính phủ Xôviết đã quyết định khôi phục và xây dựng thêm một loạt công trình tại căn cứ Cam Ranh. Việc xây dựng Cam Ranh bước sang một giai đoạn mới, chuyển từ hình thức tự hạch toán kinh tế sang hình thức đấu thầu khoán gọn, bắt đầu giai đoạn xây dựng kiên cố thay cho các kết cấu lắp ghép tạm thời. N.M Zariphôvich – Phó tổng giám đốc Công ty Xây lắp Liên Xô tại Việt Nam giai đoạn 1987-1989 đã kể lại trong cuốn “Liên Xô – một từ không bao giờ quên” (Nguyễn Đình Long dịch) rằng, Cục kỹ thuật xây dựng nước ngoài thuộc Bộ Quốc phòng Liên Xô, đơn vị có nhiều kinh nghiệm xây dựng các công trình ở hơn 60 nước trên thế giới đảm nhiệm việc lựa chọn và đưa chuyên gia đến Cam Ranh. Họ là những chuyên gia tài năng của các đơn vị trong và ngoài quân đội được các tổ chức Đảng, Đoàn giới thiệu, được chở sang bằng đường hàng không qua Mátxcơva hay Vlađivôxtốc theo hành trình Mátxcơva – Tasken – Karachi (đôi khi là Bombay) – Kancútta – Hà Nội – Cam Ranh.

Dựng tượng lên bệ ngày 12/11/2009

4. Trên cơ sở Hiệp định ký giữa Liên Xô và Việt Nam ngày 20/4/1984, hai bên đã ký hợp đồng xây dựng cụm đài rađar số ba, là công trình viện trợ không hoàn lại. Tính chung từ năm 1984 đến năm 1987, Tổng Công ty Xây lắp Liên Xô do E.X Bôprênhép làm Tổng giám đốc đã xây dựng tổng cộng 28 nhà ở và công trình chuyên dụng các loại. Lúc đó tổng số người Liên Xô sống trong khu quân sự là 6.000 người, kể cả công nhân xây dựng.

Theo thỏa thuận trong mục 71 của Hiệp định ký ngày 20/4/1984, các công trình xây dựng xong sẽ bàn giao cho phía Việt Nam sử dụng. Các hạng mục đầu tiên được xây dựng xong từ tháng 12/1987, sau đó các chuyên gia Liên Xô bắt đầu sử dụng theo hình thức thuê miễn phí.

Có thể thấy rằng, về cơ bản, các công trình được Liên Xô – Nga xây dựng ở Cam Ranh bao gồm: Khu nhà ở của Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật, trong đó có chỉ huy sở đơn vị 31350 và doanh trại cho quân số biên chế của đơn vị, nhà ăn 250 chỗ, lò bánh mỳ, tổ hợp tắm hơi – giặt là, CLB, trường phổ thông số 183, 18 tòa nhà ở, kho tổng hợp lưu giữ và cấp phát vật tư, đội xe (gồm cả xe chuyên dụng); Vùng bến nhỏ; Bể chứa ngầm thể tích 14.000m3 dùng để chứa nhiên liệu; hai hầm lạnh dung tích 270 tấn dùng để chứa thực phẩm lưu trữ; 12 kho khung sắt dùng để chứa các loại vật tư khác nhau; Hai bể lọc giếng khoan, một dùng cho sinh hoạt, một dùng cho chiến hạm và các tàu hộ tống; Trạm phát điện trung tâm công suất 24.000kW cấp điện cho tất cả các công trình thuộc khu quân sự và của Việt Nam trên bán đảo…

Khi từ biệt Cam Ranh, người Nga đã chở đi 588 người, 819 tấn hàng trong đó có 50 chiếc ôtô và xe chuyên dụng, 190 tấn dầu diezel, 133 tấn dầu mỡ các loại, vũ khí đạn dược cũng như tài liệu lưu trữ và tài liệu mật, bằng cả đường hàng không và đường biển. Đồng thời, người Nga bàn giao cho phía ViệtNam57 tòa nhà và công trình thuộc căn cứ, 85km đường dây tải điện lưới, 62km đường điện cáp, 25km công trình ngầm, 250m cầu cảng, sân bay và hệ thống quản lý kho.

Những người Nga đã sống và làm việc như thế tại Cam Ranh. U.X Ivanôvích, Đại tá quân dự bị, cựu binh Cam Ranh kể lại rằng, cho đến tận năm 1992, khi Liên Xô tan rã, thủ tục ra vào khu quân sự vẫn do phía Việt Nam quy định. Theo thỏa thuận thì mỗi tháng chỉ cho phép 4 chuyến xe đi ra ngoài theo kế hoạch định trước với số lượng người hạn chế, chủ yếu là dành cho thủy thủ Hạm đội Thái Bình Dương. Còn đối với số nhân viên kỹ thuật của Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật thì do “nhiều yếu tố” nên ra “vùng tự do” là vi phạm luật. Những người lính Nga đã ra đi, nhưng những hình ảnh của họ còn đọng lại mãi trong lòng nhân dân Việt Nam.

Năm 2007, Hội đồng Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro đã quyết định xây dựng tượng đài những người lính Nga ở Cam Ranh và đó là tượng đài của tình hữu nghị Việt – Nga.

Nguyễn Huy Minh
(Báo Năng lượng Mới số 117 ra ngày 4/5/2012)


Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2012

Đọc báo giùm bạn :Chiếc mỏ neo lính biển

Đ

QĐND - 40 năm, thời gian như nước chảy với bộn bề việc chung việc riêng, những chuyến đi kế tiếp, đan xen nhau, vậy mà tôi không ngờ nỗi vấn vương, tiếng gọi của những đồng đội ngày đầu nhập ngũ, nỗi nhớ những chiếc áo yếm chiến sĩ Hải quân có những vạch dài xanh màu nước biển lại ám ảnh, da diết mình đến thế.

Năm 1972 ấy, mọi giảng đường đại học đều xao động chưa từng có. Ngày 16 tháng 4, không quân Mỹ bất ngờ đánh bom hủy diệt Hải Phòng,Gia Lâm (Hà Nội). Phía Nam, Quảng Trị, Tây Nguyên… đỏ lửa khốc liệt. Chỉ trong vài ngày, hàng ngàn sinh viên trở thành chiến sĩ. Chúng tôi chỉ là một phần nhỏ trong số đó, cùng nhập vào đội ngũ của một tiểu đoàn của Sư đoàn 338. Rồi số chiến sĩ mới của tiểu đoàn chia đôi, một nửa về Quân chủng Hải quân, một nửa về Quân chủng Phòng không-Không quân. Lúc ấy nghe nói các quân chủng cần chiến sĩ có trình độ văn hóa nhất định để về các đơn vị kỹ thuật. Biết vậy, nhưng là chiến sĩ kiểu gì thì cũng cần sức khỏe, sức chịu đựng trước hết. Vậy mà mới hành quân bộ mươi cây số chân đã mỏi dừ, bàn chân xước tấy vì dép cao su mới; đeo chiếc ba lô con cóc chỉ vài bộ quần áo đã sưng đỏ vai. Buổi tập đêm đeo sọt rèn hành quân xuyên rừng, anh nào anh nấy tỏ vẻ hiểu biết lắm, nào là nhìn sao trời đoán hướng, nào là lấy thanh gỗ mục có lân tinh làm ánh sáng soi đường… Vậy mà chẳng ai bảo ai, nhiều anh len lén vứt bớt từng cục đá khỏi sọt cho đỡ nặng. Mang tiếng là lính Hải quân vậy mà có lắm chàng tập cả tuần cũng chả biết bơi, cứ loanh quanh trên bãi cát hay vầy nước ven bờ. Đã thế, có những buổi hành quân di chuyển hay làm nhiệm vụ lại cứ có mấy cô gái trong xóm lẵng nhẵng bám theo, trông thật "yếu lính". Lại còn cái bệnh hay tranh luận, cái gì cũng kể lể, phân tích căn nguyên khoa học, đông tây kim cổ, trên trời, dưới biển. Ờ thì sinh viên, có một số đã hoàn thành chương trình đại học, thuộc đủ các khoa Toán, Lý, Hóa, Văn, Sử, Địa của Đại học Tổng hợp (Đại học Quốc gia hiện nay), đủ các khoa của Đại học Kinh tế kế hoạch (Đại học Kinh tế quốc dân), rồi Đại học Mỹ thuật, Đại học Hàng hải. Tranh luận với nhau thật vui, thật thích nhưng trong lúc tập hợp, trong cuộc họp lại cứ lắm ý kiến, lại hay hỏi nhiều các cán bộ trung đội, đại đội, thuyền trưởng, chính trị viên, những người đã có chiến tích ở chiến trường nhưng chưa học hết phổ thông. Được cái, các thủ trưởng cũng lắm cách xử lý. Một trong số đó là mở cuộc ca hát tự chọn, tự diễn. Tiếng hát nối nhau, chen nhau, những giọng ca, những bài hát cả tiếng Việt, tiếng Nga, tiếng Anh, Trung Quốc. Mà tự dưng, kho bài hát về biển, về Hải quân vốn có sao nhiều thế. "Dạt dào biển mênh mông…" nối tiếp "Jingle Bell", "Hắc Hải của tôi" kéo theo "Chiều hải cảng", "Lửa đèn" của Nga gọi theo "Ngọn đèn đứng gác" của Việt Nam… Rồi đến "Hãy sẵn sàng thế chỗ".

Cựu chiến binh sinh viên Hải quân gặp mặt nhân Ngày truyền thống Hải quân Việt Nam. Ảnh tư liệu.

Tôi cũng như mọi anh em đều thật thích bài hát Nga này do Nguyễn Đức Hiển, dân "Địa mạo biển" hát bằng tiếng Nga. Bài hát có mấy câu thế này: Nếu mọi niềm vui, nỗi buồn đều là của chung. Tất cả chúng ta đều là một. Biển trào lên những đợt sóng như những tấm lưng trần kế tiếp nhau… Thì bạn hỡi, chúng ta sẵn sàng thế chỗ nhau trên con tàu này… Nếu tất cả đều mến yêu một cô gái… thì chúng ta cũng sẵn sàng nhường nhau… Nếu… Chúng ta sẵn sàng nhường nhau, thay thế nhau trên con tàu cũng như trong cuộc sống…

*

* *

Thế rồi, vừa tập bơi, bắn, võ… chúng tôi vừa đi gánh đất đắp đê giúp dân. Chỉ một tuần, đôi vai đã dày chai. Chúng tôi đi đào đắp làm hầm phòng thủ cho tiểu đoàn, làm hầm cho Viện Quân y Quân chủng. Cũng chỉ vài đợt, tay cầm cuốc xẻng, dao xây đã quen. Ra đảo Cát Hải làm hầm, chúng tôi bùi ngùi thắp hương trên khu mộ mới bảy chiến sĩ cùng một con tàu bị trúng tên lửa từ máy bay Mỹ. Dãy mộ nằm thẳng một hàng bên bờ cát.

Thế rồi, chúng tôi được chia nhau phối thuộc cùng các con tàu đi phá bom từ trường của Mỹ thả dày đặc trên cửa biển Nam Triệu phong tỏa Cảng Hải Phòng. Có nhóm theo tàu phóng từ. Nhóm chúng tôi đánh mìn kích nổ. Hải, Siêu, Quân, Tuấn, Hiển, Nam, Bình… Những cánh tay thư sinh bây giờ đã khác, cầm chiếc búa nặng hơn một cân giáng thẳng xuống kíp nổ to gần bằng phích nước gắn trên thùng phuy thuốc nổ. Sau tiếng đập mạnh là hè nhau đẩy thùng thuốc nổ qua mạn tàu xuống nước trong khi con tàu phóng hết tốc lực về phía trước. Ngoảnh lại, những tiếng ùng ục dưới biển và cột nước bốc cao. Bom mìn Mỹ đã bị phá…

Thế rồi, 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972, chúng tôi cũng được tham gia trận chiến bảo vệ tàu, bảo vệ Cảng. Từ các trận địa pháo cao xạ ở gần nhà máy điện, nhà máy chai, từ các trận địa tên lửa ở gần Bến Bính và xung quanh Hải Phòng, các bạn sinh viên-chiến sĩ của chúng tôi đã cùng đồng đội phóng những đường đạn bắn hạ B52 Mỹ. Trên các con tàu Hải quân, các cỡ súng 14 ly 5, 12 ly 7, 37 ly cũng nổ đỏ nòng nhằm vào lũ máy bay chiến thuật bay thấp…

Sau khi cùng anh em thủy thủ kiền ghép con tàu 533 của mình với các con tàu khác ven sông Cấm để phòng ngừa một cơn bão lớn sắp đổ bộ vào Hải Phòng, tôi khoác ba lô lên tàu về Hà Nội nhận nhiệm vụ ở Báo Quân đội nhân dân. Xa tàu, xa đồng đội, sao không nhớ, nhất là những bạn bè sinh viên ở đoàn tàu không số - Trung đoàn 125, Đoàn Đặc công nước 126, Đoàn tàu phóng lôi, tên lửa 172. Đó là những đơn vị phải giữ bí mật cao độ. Nhờ vậy nên hễ có dịp gặp một con tàu, con thuyền ở bến sông bến cảng nào là tôi đều xin được xuống thăm. Leo qua cầu tàu, đi đi lại lại một chút mặt boong, ngắm nghía khoang buồm dây, khoang bếp, nằm lại chiếc giường tầng nhỏ xíu có cửa sổ mạn nhìn ra sông biển… Và hít thở mùi dầu máy quen quen…

*

* *

Một nhóm sinh viên Đại học Kinh tế Kế hoạch (nay là Đại học Kinh tế Quốc dân) là chiến sĩ Hải quân năm 1972. Ảnh tư liệu

"Người đánh cá nhìn thấy người đánh cá đầu tiên" - câu ngạn ngữ Nga lũ lính sinh viên - chiến sĩ Hải quân chúng tôi hay nói với nhau sao nghiệm thế. Mùa xuân năm 1975, trên đường vào mặt trận phía Nam, thoáng qua Cửa Việt, Quảng Trị, thấy tàu quen, tôi biết thế nào cũng có bạn tôi ở các Đoàn 171, 125 chở xe tăng vào đây. Sau này có dịp hỏi lại quả đúng vậy. Buổi sáng ngày 30-4, là phóng viên đi cùng Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 đang cùng Lữ đoàn xe tăng 203 tiến vào Sài Gòn, tôi đã phải dừng lại khá lâu bên cầu Rạch Chiếc. Quân địch ở đây chống trả quyết liệt quá, anh em các đơn vị đặc công đã phải đánh đi đánh lại giữ cầu 3 ngày đêm liền để cho đại quân thần tốc hành tiến. Trong một đơn vị đặc công ấy có bạn sinh viên của tôi từng cùng huấn luyện Trung đoàn đặc công nước 126. Sau ngày Sài Gòn giải phóng, tôi ra Vũng Tàu, rồi theo tàu Hải quân ra đón anh em tù chính trị ở Côn Đảo. Lại được gặp những con tàu, những gương mặt quen thân của Đoàn 125, 171. Rồi nữa là những con tàu, những bè bạn ra giải phóng Trường Sa, những thuyền trưởng, thủy thủ trên những con tàu Hải quân - Quân tình nguyện Việt Nam trên các vùng biển, hải cảng Cam-pu-chia. Lại có cả người chiến sĩ Hải quân trên chiến hào biên giới phía Bắc năm 1979…

Cái đích của chiến tranh là hòa bình, dựng xây. Cái đích của sinh viên là cống hiến bằng nghề nghiệp mình được học hành, nghiên cứu. Sau chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam, trừ một số sinh viên đã tốt nghiệp chúng tôi được phân công công tác trong quân đội hoặc chuyển ngành, phần lớn sinh viên - chiến sĩ Hải quân đều đã trở lại các giảng đường đại học. Có số vào học ở các trường quân đội, trong đó có Học viện Hải quân. Cái đích hòa bình, học hành và cống hiến của mọi người đều đã đạt. Chỉ chưa đến 200 sinh viên - chiến sĩ thuở ấy, nhưng hầu như mỗi người mỗi thành công ở những cương vị khác nhau. Có người là thuyền trưởng chịu sóng giỏi nhất Vùng 5 Hải quân. Có các anh binh nhì năm ấy đã là đại tá, phó giáo sư, phó giám đốc và chuẩn đô đốc, giáo sư, giám đốc Học viện Hải quân. Có nhiều người là đại tá, thượng tá công tác ở Bộ tư lệnh Hải quân, ở các cơ quan Bộ Quốc phòng. Có giáo sư viện trưởng Viện nghiên cứu Xã hội học, có nhiều phó giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu, giảng dạy Toán học, Sử học, Địa lý, Địa chất, Triết học, Kinh tế…, nhiều giám đốc, tổng giám đốc doanh nghiệp, doanh nhân, các nhà kỹ thuật, nghệ sĩ, luật sư, nhiều cán bộ, công chức uy tín công tác trong các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương… Riêng trong nhóm tốt nghiệp khoa Sử chúng tôi, chàng chuẩn úy Hải quân chuyển ngành, nhà khảo cổ học trẻ Nguyễn Việt đã khởi sự và chủ biên một công trình nghiên cứu khá công phu về lịch sử thủy quân Việt Nam. Năm 1983, cuốn sách “Quân thủy Việt Nam trong lịch sử” đã ra mắt. Năm 2012 này, cuốn sách sẽ được bổ sung, tái bản…

Chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong hàng ngàn, hàng vạn sinh viên ra trận, chúng tôi cũng chẳng phải lập nên chiến tích, công trạng gì nhưng điểm lại tất cả đều đã được vinh dự góp chút lửa đời mình vào sự nghiệp chung, cả trong kháng chiến và xây dựng, bảo vệ hòa bình.

Ngày mai, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh và ngôi nhà sàn của Người, chúng tôi sẽ lại cùng nhau đội lại chiếc mũ Hải quân Việt Nam, mặc lại chiếc áo yếm chiến sĩ có những vạch vải xanh nước biển, sẽ cùng ngắm lại đôi quân hàm binh nhì, binh nhất có mỏ neo ở giữa. Cái mỏ neo binh nhì binh nhất ấy đã khởi đầu cho những cuộc đời, mà theo thời gian cũng mãi neo giữ tất cả chúng tôi với Hải quân, với biển xanh Tổ quốc.

Bút ký của Mạnh Hùng(báo QĐND)

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2012

Đọc báo giùm bạn :Chân dung các thuyền trưởng tàu không số (Kỳ 7) .


QĐND - Thứ Ba, 13/09/2011, 19:55 (GMT+7)

Kỳ 7: Thuyền trưởng Lưu Đình Lừng và niềm tự hào về Tàu 42

QĐND - Theo lời hẹn trước, chúng tôi đến thăm gia đình Thuyền trưởng tàu Không số Lưu Đình Lừng vào một ngày chủ nhật đẹp trời. Trong ánh nắng ấm áp buổi sớm đầu thu, ông đón chúng tôi với nụ cười rạng rỡ, chân thành như bản tính hiếu khách của người dân miền biển Đồ Sơn. Ở tuổi xưa nay hiếm, tóc đã bạc, da đã nhăn nhưng bước đi hoạt bát, và ánh mắt tinh tường thì vẫn vẹn nguyên.

Ngôi nhà khang trang nằm sâu trong hẻm 171, phường Ngọc Hải, thị xã Đồ Sơn, tổ ấm của gia đình ông với bốn thế hệ cùng chung sống hạnh phúc. Trong căn phòng khách rộng rãi và thoáng mát, rất nhiều bức ảnh chụp những con tàu không số - khi ông và đồng đội làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam được phóng to, treo trang trọng trên tường. Trà xanh được rót ra mời khách. Ông cười và chỉ tay vào bức ảnh được phóng to nhất:

- Hình ảnh con tàu 42 đấy. Đây là con tàu anh hùng. Tôi đã có 10 chuyến đi trên con tàu này, và chỉ ở tàu này mà thôi - Giọng ông từ tốn vang lên rành rọt, sang sảng của người miền biển.

Câu chuyện của chúng tôi xoay quanh con tàu 42. Những ký ức sâu thẳm, tha thiết trong cuộc đời binh nghiệp của ông bừng thức, ào ào dữ dội như sóng biển khơi, nhấp nhô, ẩn hiện hình ảnh con tàu và những người thủy thủ, mưu trí, dũng cảm, vượt qua giông bão, vượt qua tuyến phòng thủ dày đặc của địch, mang cả tình thương của miền Bắc, đưa từng khẩu súng, viên đạn... tới miền Nam ruột thịt, góp sức tiêu diệt quân thù.

- Năm 1964, tôi nhập ngũ vào Đoàn tàu Không số, là thủy thủ của Tàu 42. Đời tôi thật may mắn khi được đi trên con tàu này, được làm việc với một người chỉ huy thông minh, trí tuệ, dũng cảm như thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng.

Tàu 42 trên đường chở vũ khí vào Nam. Ảnh tư liệu.

Một thoáng buồn hiển hiện trên khuôn mặt hiền hậu, sạm nắng gió của ông khi nói về người thuyền trưởng năm xưa giờ không còn nữa. Sự xúc động như được đè nén trong ánh mắt đang nhìn xa xăm kia. Ngưng một lát, ông tiếp tục:

- Thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng đi hàng hải thiên văn giỏi lắm. Anh em đã học tập được nhiều điều từ người thuyền trưởng ấy. Những lúc khó khăn, nguy hiểm mới thấy cái tài của người thuyền trưởng này. Ông điều động tàu tránh địch rất giỏi, biết lợi dụng sơ hở của địch vượt qua sự kiểm soát chặt chẽ trên biển của chúng. Trên mỗi chặng, địch xây dựng các trạm ra-đa quan sát chặt chẽ. Có lần, thuyền trưởng Cứng đã đưa tàu đi qua giao điểm vùng quét ra-đa của hai trạm. Bọn địch đều phát hiện được nhưng trạm nọ tưởng trạm kia báo cáo về sở chỉ huy, ỷ vào nhau, thế là tàu chạy thoát. Thật là tài, chi tiết này không phải ai cũng biết.

Một trong những chuyến đi mà tôi nhớ mãi đó là chuyến đi năm 1965, sau khi xảy ra sự kiện Vũng Rô.

Sự kiện Vũng Rô, ai cũng biết, con đường vận chuyển đã bị lộ. 8 tháng nằm im chờ đợi, tìm phương thức vận chuyển mới, ngày 15-10-1965, tại bến K15-Đồ Sơn (Hải Phòng), Tàu 42 được cải dạng thành tàu đánh cá nước ngoài, nhổ neo ra khơi. Tàu có 16 thủy thủ do thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng và Chính trị viên Trần Ngọc Ẩn chỉ huy, đi theo phương pháp hàng hải thiên văn, tức là đi theo các vì sao. Nhiệm vụ được giao là nghiên cứu tuyến đường vận chuyển mới, làm tiền đề cho những chuyến sau nhưng phải bảo đảm bí mật, bất ngờ. Chuyến đi này ngoài 60 tấn vũ khí tàu còn chở thêm 4 quả thủy lôi KB, mỗi quả nặng tới một tấn. Dưới tàu còn găm hàng tấn thuốc nổ, nếu bị địch phát hiện thì tất cả anh em sẽ điểm hỏa và cảm tử cùng tàu để giữ bí mật cho con đường.

Mọi đồ dùng cá nhân phải xóa hết dấu vết, tuýp đánh răng Ngọc Lan, vỏ bao thuốc lá... phải cạo hết nhãn mác. Mấy khẩu súng đằng trước, đằng sau đều được ngụy trang. Mọi người đều mang mặc trang phục dân đánh cá nước ngoài. Trông con tàu của chúng tôi chẳng khác gì một tàu câu cá song. Vậy mà anh em vẫn không khỏi lo lắng bởi đây là chuyến mở đường sau một thời gian dài ngừng vận chuyển, địch lại phong tỏa chặt chẽ con đường. Chúng xây dựng hàng loạt trạm ra-đa ngày đêm quan sát chặt chẽ vùng biển. Ngoài khơi, Hải quân Mỹ thực hiện việc ngăn chặn. Hải quân ngụy thực hiện tuần tiễu ven bờ. Để dễ bề quản lý và phân định trách nhiệm, Mỹ-ngụy chia vùng biển Việt Nam làm 9 khu vực chiến sự. Ở mỗi khu vực, hải quân Mỹ-ngụy giành quyền kiểm soát mọi tàu, thuyền qua lại, kể cả tàu buôn nước ngoài. Tình hình bến bãi, luồng lạch thay đổi ra sao, khó mà lường hết được!

Ông Lưu Đình Lừng thắp hương tưởng nhớ đồng đội tại Bến K15 Đồ Sơn (Hải Phòng). Ảnh: Trịnh Dũng.

Từ bến K15, tàu chúng tôi vượt qua Long Châu đi về phía đảo Hải Nam. Đêm đó sóng rất lớn, gió cấp 6, cấp 7, những con sóng lớn chồm lên như muốn nhấn chìm chúng tôi xuống biển. Suốt một ngày đêm vật lộn với sóng gió, ai cũng mệt nhoài vì say sóng, đêm sau tàu đến eo biển Hải Nam. Gần tới khu vực quần đảo Trường Sa bị máy bay Mỹ phát hiện, chúng vòng đi vòng lại hai lần, theo dõi hoạt động của tàu. Thuyền trưởng cho tàu giảm tốc độ, chạy vào hướng đảo Trường Sa để câu cá. Mọi người tất bật kéo lưới, gỡ cá như dân đánh cá thực thụ. Khi máy bay đi khỏi chúng tôi liền thay biển số, chuyển hướng vào Cà Mau. Gần tới khu vực Hòn Khoai, chúng tôi phát hiện thấy vệt sáng đèn di chuyển phía trước. Tất cả vào vị trí chiến đấu. Các vị trí quan sát đều báo cáo trước mũi tàu, sau lái tàu, bên trái, bên phải đều có ánh đèn và cứ 400-500m lại có một chiếc tàu đỗ. Vậy là Tàu 42 đã lọt vào giữa vòng vây của địch. Một cuộc hội ý chớp nhoáng trong cấp ủy và quyết định: Tàu giảm tốc độ, chạy theo hướng Đông, chạy vòng theo hướng bao vây của tàu địch, khi tới gần bờ, thuyền trưởng hạ lệnh tắt đèn hành trình, quặt tay lái tăng tốc chuyển hướng vào bờ...

Những lúc thế này anh em mới thấy hết tài thao lược, mưu trí đặc biệt của thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng. Khi Tàu 42 lọt vào trong cửa Bồ Đề, nhìn xa xa thấy vài tàu địch đậu ở đó... Người trong bến cho xuồng ra đón, sau khi phát tín hiệu nhận nhau, tàu chúng tôi được đưa vào bến Rạch Kiến Vàng an toàn. Ngoài súng đạn, cũng là lần đầu tiên chúng tôi đưa được thủy lôi sừng chạm vào cho bộ đội đặc công thủy, góp phần làm nên những trận đánh rung chuyển các căn cứ Hải quân Mỹ-ngụy. Chuyến này đi, chúng tôi đã đi hơn 1.200 hải lý, cả đi lẫn về 20 ngày.

Chuyến đi mở đường thắng lợi của Tàu 42 trong tình hình địch phong tỏa ác liệt có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Ta đã nắm được quy luật hoạt động ngoài khơi và gần bờ của địch để tìm cách ứng phó linh hoạt. Tiếp đó, ta đã tổ chức hai chuyến tiếp theo đều thắng lợi.

Sau chuyến đi này, ban chỉ huy tàu vinh dự được báo cáo kết quả chuyến đi với Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; được Đảng và Quốc hội tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và được Bác Hồ tặng mấy tút thuốc lá có ghi dòng chữ “Bác Hồ tặng”.

Với bề dày thành tích, qua 7 năm liên tục, Tàu 42 luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, giữ vững quyết tâm, anh dũng, mưu trí, linh hoạt, khắc phục vượt khó khăn trong mọi tình huống, gặp địch đã chiến đấu kiên cường, dũng cảm. Ngày 8-10-1972, Tàu 42 vinh dự được Đảng, Nhà nước ta tặng danh hiệu cao quý: “Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân”.

Và năm 2005, Thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng, người đã trực tiếp chỉ huy 15 chuyến đi thành công, được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Tàu anh hùng, thuyền trưởng anh hùng. Còn vinh dự nào hơn!

Còn ông Lưu Đình Lừng, trong suốt 10 năm gắn bó với con tàu 42, ông đã đi 10 chuyến vận chuyển trên con đường biển mang tên Bác Hồ (5 chuyến thành công, 5 chuyến bị địch phát hiện phải quay về), từ một thủy thủ đã trở thành một thuyền trưởng dạn dày kinh nghiệm. Nhưng theo ông, những ngày được làm việc bên người thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng, được sống trong một tập thể đoàn kết, anh dũng, đó là những tháng ngày quý báu để ông học hỏi, trưởng thành và vững bước trên con đường đời sau này.

------------

Kỳ 1: Thuyền trưởng tàu không số đầu tiên

Kỳ 2: Thuyền trưởng tàu sắt đầu tiên

Kỳ 3: Từ du kích trở thành thuyền trưởng

Kỳ 4: Nguyễn Phan Vinh, bản hùng ca bất tử

Kỳ 5: Đồng Xuân Chế: “Biển gọi tôi suốt cuộc đời”

Kỳ 6 : Nắm đất của Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh

Kỳ 8: Nguyễn Chánh Tâm, người anh hùng sống mãi

Bài và ảnh: Trịnh Dũng - Thu Hương

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012

Sự nguy hiểm của Yakhont và chiến thuật bầy sói


Để bảo vệ vững chắc vùng biển Tổ quốc, Hải quân Nhân dân Việt Nam đã trang bị, làm chủ hệ thống phòng thủ Bastion-P với nòng cốt là tên lửa chống hạm siêu âm Yakhont.

Để duy trì môi trường an ninh biển hòa bình và ổn định, cùng hợp tác và phát triển, các nước ASEAN đang từng bước củng cố lực lượng hải quân của mình.

Đất Việt
xin giới thiệu với bạn đọc đôi nét về lực lượng hải quân một số nước ASEAN, từ truyền thống tới hiện đại.

Hải quân các nước ASEAN:

>> HQND Việt Nam: Hiển hách những chiến công
>> Bộ đôi 'kình ngư' trên biển Đông

Để bảo vệ vững chắc vùng biển Tổ quốc, Hải quân Nhân dân Việt Nam đã trang bị, làm chủ hệ thống phòng thủ Bastion-P với nòng cốt là tên lửa chống hạm siêu âm Yakhont

Xe bệ phóng Bastion-P với 2 ống phóng thẳng đứng.

Sự ghê gớm của Bastion-P và Yakhont

Đúng như tên gọi “pháo đài”, Hệ thống vạn năng Bastion-P do công ty quốc phòng NPO của Nga thiết kế, chế tạo, xứng đáng là “lá chắn thép” của các quốc gia có bờ biển dài, hải phận rộng lớn nhờ sự linh hoạt và uy lực của hệ thống này.

Một tổ hợp chiến đấu Bastion-P gồm có các xe chỉ huy, bảo đảm chiến đấu và quan trọng nhất là xe bệ phóng, lắp trên khung gầm 8 bánh lốp, với 2 ống phóng tên lửa chống hạm.

Nhờ đó, Bastion-P có thể triển khai ở bất kỳ nơi nào trong lãnh thổ, để trong 5 phút là sẵn sàng phóng loại tên lửa có sức mạnh ghê gớm Yakhont, tiêu diệt các mục tiêu đe dọa an ninh từ phía biển.

Cái tên Yakhont (“Hồng ngọc”, biến thể xuất khẩu của tên lửa Onyx, “Bạch ngọc”) gợi lên vẻ đẹp danh giá nhưng đây sẽ là một vẻ đẹp ghê gớm. Bởi loại tên lửa này nặng tới 3 tấn, có thể mang đầu đạn nặng 200-250 kg.

Dù nặng nhưng nhờ động cơ phản lực dòng thẳng sử dụng nhiên liệu lỏng, Yakhont có thể đạt tốc độ siêu âm ở mọi giai đoạn bay, (tối đa là Mach 2,6), tạo nên uy lực công phá rất mạnh mẽ, đủ sức vô hiệu hóa mọi loại tàu chiến đang có mặt trên khắp các đại dương.

Trong một cuộc thử nghiệm, tên lửa Yakhont thể hiện khả năng tấn công chính xác của mình khi bắn trúng mục tiêu cỡ một tấm bảng đen trong lớp học. Vì vậy, giới chuyên gia quân sự đánh giá: Yakhont khiến Mỹ và đồng minh phải “dựng tóc gáy” (>> chi tiết), đẩy lùi các vũ khí tương đương của NATO xuống phía sau trong cuộc đua của các tên lửa chống hạm.

Chiến thuật thông minh

Là tên lửa chiến thuật, chiến dịch thế hệ 4, được phát triển từ cuối những năm 197, đầu những năm 1980, Yakhont được lập trình để có quỹ đạo bay phức tạp. Sau khi cất cánh, tên lửa sẽ bay cao nhằm tiết kiệm nhiên liệu (tối đa 15km).

Lúc tới gần mục tiêu, tên lửa sẽ hạ độ cao cách mực nước biển chừng 5-15m, trước khi lao vào tàu chiến đối phương và thực hiện sứ mệnh hủy diệt. Cùng với lớp vỏ đặc biệt hấp thụ sóng radar, chế độ bay này của Yakhont nhằm giảm thiểu tối đa khả năng đánh chặn của đối phương.

Minh họa chiến thuật phòng thủ bờ biển sử dụng hệ thống Bastion-P.

Tuy nhiên, để đảm bảo hoành thành nhiệm vụ với xác suất 100%, những người điều khiển Bastion-P thường sử dụng chiến thuật “bầy sói”. Khi đó, có ít nhất 3 quả tên lửa Yakhont được phóng đi, một quả sẽ bay cao, bật radar chủ động dẫn đường cho 2 quả còn lại hạ gục mục tiêu.

Không chỉ vậy, loại tên lửa này có khả năng độc lập phân cấp mức độ nguy hiểm và lựa chọn mục tiêu dựa vào dữ liệu chiến đấu rất phong phú, có thể nhận dạng tàu sân bay, tàu tuần dương, tàu đổ bộ tới tàu vận tải...

Trong trường hợp đối phó với biên đội tàu chiến, sau khi tiêu diệt mục tiêu chính, những tên lửa còn lại sẽ tự động tiến công những mục tiêu khác, không để xảy ra tình trạng 2 tên lửa tấn công 1 mục tiêu cùng lúc. Do đó, khi tác chiếnm kíp chiến đấu của Bastion-P chỉ cần “bắn và quên”.

Nới rộng tầm bảo vệ

Theo tính năng kỹ chiến thuật mà nhà sản xuất công bố, hệ thống Bastion-P có tầm bắn ngoài đường chân trời, (300km, khoảng 162 hải lý). Tuy nhiên, Yakhont là một tên lửa rất linh hoạt, có nhiều biến thể cho phép triển khai trên nhiều phương tiện mang khác ngoài bệ phóng trên đất liền.

Từ lâu, Yakhont đã được thử nghiệm thành công khi phóng đi từ các tiêm kích Su-27 và “hậu duệ” là Su-30. Tháng 4/2011, Indonesia đã phóng thử thành công Yakhont từ các tàu chiến ở vịnh Zond.

Tên lửa chống hạm Yakhont có thể phóng đi từ tiêm kích đa năng Su-27/30.

Tới đây, Ấn Độ sẽ phóng thử tên lửa Brahmos (biến thể nội địa của Yakhont ở Ấn Độ) từ tàu ngầm vào cuối năm 2011. Do đó, nước nào sở hữu Bastion-P và Yakhont hoàn toàn có khả năng nới tầm bảo vệ hải phận của mình dựa vào các phương tiện mang.

Đặc biệt, trong trường hợp, sử dụng Su-30MK2 để mang phóng, tầm xa 300km của Yakhont hầu như không có ý nghĩa với tầm hoạt động lên tới 3.000km (1.620 hải lý) của loại tiêm kích đa năng được thiết kế để chiến đấu trên biển này.

Triển vọng trong tương lai

Từ lúc được sản xuất tới nay, tuy chưa tham chiến nhưng Yakhont và Bastion-P vẫn dành được sự tín nhiệm cao từ các bạn hàng của Nga. Có thể nói không ngoa, đây là một trong những hệ thống phòng thủ bờ biển “đắt khách” nhất thế giới.

Một loạt quốc gia đã và đang ký hợp đồng để sở hữu tên lửa và hệ thống phòng thủ bờ biển này gồm Ấn Độ, Syria, Venezula, Indonesia… Trong đó, Ấn Độ và Nga đã hợp tác phát triển biến thể của Yakhont là Brahmos (tên ghép của 2 con sông Brahmaputra và Moskva).

Trong tương lai, tên lửa Brahmos II, biến thể phát triển từ nguyên mẫu Brahmos (ảnh) sẽ có tốc độ ghê gớm hơn nữa.

Đẩy mạnh ưu điểm của Yakhont/Brahmos, Ấn Độ tìm cách nâng tốc độ tên lửa Brahmos II lên tới Mach 5 (>> chi tiết), tốc độ chóng mặt trong thế giới của các tên lửa chống hạm. Còn hợp đồng với Syria liên tục bị Israel chỉ trích do lo ngại sự xuất hiện của tên lửa Yakhont sẽ làm cán cân quân sự trong khu vực. (>> chi tiết)

Với các quốc gia phải đối mặt với các mối đe dọa từ hướng biển, hệ thống Bastion-P và tên lửa Yakhont là giải pháp hiệu quả, giúp giảm gánh nặng chi phí đầu từ phát triển các hạm đội tàu ngầm và tàu mặt nước. Hiện Nga đang có kế hoạch triển khai Bastion-P cùng với nhiều vũ khí hiện đại ở Kuril, quần đảo mà Nhật Bản tranh chấp với nước này. (>> chi tiết)

Là nước đầu tiên sở hữu Bastion-P ở Đông Nam Á, Việt Nam có thể yên tâm giữ cho hải phận “sóng yên, biển lặng”. Nếu kế hoạch sản xuất Yakhont với sự trợ giúp của Nga tiến triển, (>> chi tiết) tiềm lực phòng thủ bờ biển của Hải quân Nhân dân Việt Nam sẽ trở nên đáng gờm trong khu vực.

Xe bệ phóng của Bastion-P có thể đạt vận tốc tối đa 80 km/h, với dự trữ hành trình 1.000km; Thời gian độc lập trực chiến 24 giờ, nếu có thêm xe đảm bảo có thể kéo dài lên tới 30 ngày; Cơ số đạn tối đa của 1 hệ thống 36 quả, nhịp phóng 2-5 giây/quả;

Tên lửa Yakhont có chiều dài 8,9m, chiều rộng 0,9 m, trọng lượng 3 tấn, đầu đạn nặng 250 kg, sải cánh rộng 1,7m; tên lửa còn có 4 cánh đuôi giúp chuyển động linh hoạt khi đang bay.


(Nguồn Đất Việt)

Thứ Năm, 14 tháng 6, 2012

Đọc báo giùm bạn :Chân dung các thuyền trưởng đoàn tàu không số (Kỳ 6) .


Kỳ 6: Nắm đất của Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh

QĐND - Có biết bao câu chuyện cảm động về tình cảm, tấm lòng của quân dân miền Nam nơi bến bãi với cán bộ, chiến sĩ Đoàn tàu không số làm nhiệm vụ chở vũ khí chi viện cho chiến trường. Chuyện về nắm đất Vũng Rô - hiện vật đang được lưu giữ tại Bảo tàng Hải quân do Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh trao tặng là một trong những câu chuyện đó.

Chúng tôi gặp ông Hồ Đắc Thạnh - người thuyền trưởng Tàu không số nổi tiếng của tỉnh Phú Yên ngay tại Hải Phòng. Dường như chất lính vẫn còn đọng lại rất nhiều trong ông ở dáng dấp nhanh nhẹn, âm giọng Phú Yên dõng dạc và đôi mắt sắc sảo... đôi khi làm chúng tôi bối rối. Tôi gợi lại chuyện, hỏi thêm về nắm đất năm xưa ông đã trao tặng Bảo tàng Hải quân... Ông ồ lên: “Nhớ chứ, quên sao được...! Đó là câu chuyện cảm động, gắn với những chuyến hàng cảm tử vào Vũng Rô của chúng tôi mà...".

Ông Hồ Đắc Thạnh thuộc lớp thuyền trưởng đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam được đào tạo bài bản để phục vụ cho con đường vận chuyển chiến lược bí mật sau này. Thuở nhỏ, lúc Hồ Đắc Thạnh chuẩn bị vào lớp nhất thì Cách mạng Tháng Tám 1945 nổ ra ở thị xã Tuy Hòa. Lập tức, ông xếp bút nghiên tham gia đoàn biểu tình chống Pháp, đi diễu hành khắp phố phường. Sau một thời gian làm trinh sát cho thị đội Tuy Hòa, ông vào lực lượng bộ đội chính quy và tập kết ra Bắc trên chuyến tàu cuối cùng, chuyến tàu thứ 7 xuất phát từ cảng Quy Nhơn.

Ông Hồ Đắc Thạnh (ngoài cùng, bên phải) cùng đồng đội tại Bến k15 Đồ Sơn (Hải Phòng).

Ông kể: “Tôi đặt chân lên đất Thanh Hóa ngày 19-5-1955 và được biên chế vào Trung đoàn 90, Sư đoàn 324 đóng tại thị trấn Còng của huyện Tĩnh Gia, làm nhiệm vụ chống địch cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam”. Sau khi cùng sư đoàn hành quân về Đô Lương (Nghệ An) và xây dựng doanh trại tại đây, Hồ Đắc Thạnh được điều về trường huấn luyện hạ sĩ quan của Sư đoàn để đào tạo. Ông nhớ rõ: “Giữa năm 1958, khi tôi đang học được nửa khóa đào tạo trung đội trưởng thì được Quân chủng Hải quân về tuyển chọn, toàn Sư đoàn chỉ có 6 đồng chí được chọn. Chúng tôi được đưa xuống Hải Phòng và theo yêu cầu của Cục Phòng thủ bờ biển (tiền thân của Bộ tư lệnh Hải quân), anh em tôi được đi tuyển quân về huấn luyện thành bộ đội hải quân”.

Tại Hải Phòng, Hồ Đắc Thạnh đã trải qua nhiều khóa huấn luyện đào tạo từ hàng hải đến phóng ngư lôi và những chiến thuật chiến đấu khác trên biển. Đầu 1960, khi Trường Sĩ quan Hải quân được thành lập tại Quảng Yên, Thuyền trưởng dự bị tàu phóng lôi Hồ Đắc Thạnh được điều về học trường này.

Trong cuộc đời chiến đấu của mình, Hồ Đắc Thạnh cũng là một trong những người bạn thân thiết của Anh hùng Tàu không số Nguyễn Phan Vinh. Kể chuyện với chúng tôi, ông Thạnh luôn tự hào mình đã có 12 chuyến chở vũ khí vào các bến ở Bến Tre, Trà Vinh, Cà Mau, Quảng Ngãi và Phú Yên. Ông bảo, lần đầu tiên đưa vũ khí vào Nam Bộ, gặp những anh chị em dân công đi len lỏi trong rừng đước, bốc dỡ vũ khí, ông cảm thấy niềm vui khó tả vì đã trực tiếp góp sức vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Có thể nói, hạnh phúc lớn nhất, kỷ niệm sâu sắc nhất của Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh là 3 chuyến chở vũ khí về quê hương. Những chuyến đi thật sâu nặng nghĩa tình. Đáng nhớ là lần ăn Tết trên con tàu không số và đó cũng là kỷ niệm liên quan đến câu chuyện về "Nắm đất Vũng Rô".

- Đó là khoảng cuối năm 1964, đầu năm 1965. Ông Thạnh nhớ lại. Có thể nói, đây là giai đoạn "hoàng kim" của con đường vận chuyển trên biển. Tàu 41 chúng tôi liên tiếp được giao nhiệm vụ vận chuyển vũ khí vào bến Vũng Rô thuộc chiến trường Khu V. Vũng Rô khi đó được coi là điểm đổ hàng lý tưởng vì đây là một vịnh nước sâu, kín gió, nằm ngay dưới chân đèo Cả. Tuy Vũng Rô không có nơi trú ẩn như các bến bãi miền Tây Nam Bộ, từ đây ra biển chỉ có một cửa, lại nằm trong tầm kiểm soát từ xa của địch, nguy hiểm luôn rình rập, nhưng Vũng Rô tạo được yếu tố bất ngờ cho công tác vận chuyển. Chuyến thứ nhất, rồi chuyến thứ hai, mọi việc đều thuận lợi, Tàu 41 đều lọt vào bến trong đêm an toàn. Hàng hóa, vũ khí được xử lý kịp thời bảo đảm tàu rời bến trước khi trời sáng.

Cũng phải kể thêm, những lần vào bến, anh em tôi luôn day dứt bởi điều kiện sinh hoạt, ăn uống của quân dân ở đây rất thiếu thốn. Do địch khống chế Quốc lộ 1A, cắt hết chi viện nên anh em thường xuyên phải ăn khoai mì và quả sung. Chính vì vậy, chuyến tàu thứ hai, ngoài 60 tấn vũ khí chúng tôi còn chở thêm 3 tấn gạo tám thơm của Bộ tư lệnh Hải quân gửi tặng dân quân Vũng Rô...

Chuyến đi thứ ba vào Vũng Rô được tiến hành đầu tháng 11-1964. Sau một chuyến hàng thành công từ Cà Mau trở về, ông Thạnh được Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân thông báo kế hoạch đưa vũ khí vào chiến trường Khu V, nơi chiến sự đang diễn ra ác liệt nhưng lại vô cùng thiếu thốn vũ khí. Chuyến đi này được dự báo là cam go, bởi địa điểm này rất dễ bị địch phát hiện do không có nơi trú ẩn an toàn, lại chỉ có một cửa ngõ ra Biển Đông duy nhất, đó là khoảng giữa Mũi Điện và Hòn Nưa, nếu địch dùng tàu chặn thì coi như không còn đường ra. Thêm nữa, hệ thống ra-đa Cù lao Ré và Chóp Chài gần như “quét” đầy đủ mọi ngóc ngách trên địa bàn. “Sau khi nghiên cứu kỹ hải đồ và tính toán chi tiết, Bộ tư lệnh quyết định chỉ đưa tàu vào lúc giữa đêm, tiến hành bốc dỡ vũ khí ngay và quay trở ra hải phận quốc tế vào lúc 3 giờ sáng” - ông Thạnh nhớ lại. Đó là phương án tối ưu, bởi nếu ở miền Nam, những rừng đước, rừng tràm rậm rịt chính là nơi có thể đưa tàu vào nghỉ ngơi, ở đây chỉ có biển và núi.

Bia di tích Đoàn tàu không số tại Vũng Rô.

Tàu 41 nhận lệnh cập bến Vũng Rô đúng đêm Giao thừa Tết Nguyên đán Ất Tỵ. Kể sao hết niềm vui sướng của anh em tàu và bến được nhận vũ khí vào thời khắc bước sang năm mới cùng lời chúc Tết của Bác Hồ kính yêu qua chiếc ra-đi-ô trên tàu. Mọi người tranh thủ liên hoan đón Tết. Bánh chưng, trà Thái Nguyên, bia Trúc Bạch, thuốc lá Điện Biên do anh em tàu chuẩn bị trước chuyến đi (đã được bóc hết nhãn mác để bảo đảm bí mật) được bày lên. Trong lúc đang liên hoan vui vẻ thì cô gái dân quân Nguyễn Thị Tản lặng lẽ đến bên Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh và trao cho ông một nắm đất bọc trong một cái khăn mùi xoa rất đẹp: “Em xin gửi nắm đất Phú Yên theo tàu các anh đi ra Bắc. Xin hứa với các anh, với Đảng và Bác Hồ, dù mảnh đất này bom cày, đạn xới nhiều lần nhưng chúng em vẫn giữ vững niềm tin chiến thắng vì đã có vũ khí của Đảng, của Bác từ miền Bắc chi viện”.

Thuyền trưởng Thạnh đón nhận nắm đất từ tay người con gái và chuyền nắm đất cho từng đồng đội. Khó có thể nói hết được tâm trạng anh em Tàu 41 lúc này. Mọi người càng nhận thấy trách nhiệm lớn lao của mình với mảnh đất và người dân nơi đây, với nhiệm vụ giải phóng quê hương, giải phóng miền Nam.

Đó là kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời quân ngũ của Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh. Hình ảnh xúc động đó đã theo ông trên khắp chặng đường binh nghiệp và cho tới tận bây giờ - khi ông đã trở về với đời thường tại thành phố Tuy Hòa (Phú Yên). Nắm đất của cô dân quân Nguyễn Thị Tản đã được cán bộ, thủy thủ Tàu 41 nâng niu, gìn giữ suốt chặng đường trở về miền Bắc và sau này ông Thạnh đã trao tặng cho Bảo tàng Hải quân. Hình ảnh người nữ dân quân Nguyễn Thị Tản trao nắm đất cho vị thuyền trưởng sau này đã được tái hiện bằng nghệ thuật điêu khắc tượng đồng đặt tại Nhà truyền thống Lữ đoàn 125 anh hùng.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Thuyền trưởng Tàu không số Hồ Đắc Thạnh tiếp tục công tác trong Quân chủng Hải quân. Năm 1984, đang đảm nhiệm chức vụ Phó tham mưu trưởng Vùng 3 Hải quân thì ông xin nghỉ hưu sớm để lo toan công việc gia đình... Nhiều đồng chí, đồng đội muốn làm hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho ông nhưng ông đã cảm ơn và nói muốn dành danh hiệu đó để tặng các liệt sĩ, đồng đội đã hy sinh trên con đường huyền thoại. Ông nói: “Tôi còn sống để chứng kiến đất nước thay da đổi thịt sau 36 năm giải phóng đã là điều rất mãn nguyện rồi”.

---------------

Kỳ 1: Thuyền trưởng tàu không số đầu tiên

Kỳ 2: Thuyền trưởng tàu sắt đầu tiên

Kỳ 3: Từ du kích trở thành thuyền trưởng

Kỳ 4: Nguyễn Phan Vinh, bản hùng ca bất tử

Kỳ 5: Đồng Xuân Chế: “Biển gọi tôi suốt cuộc đời”

Kỳ 7: Thuyền trưởng Lưu Đình Lừng và niềm tự hào về Tàu 42

Bài và ảnh: Trịnh Dũng – Thu Hương

Thứ Hai, 11 tháng 6, 2012

Việt Nam đàm phán mua thêm 2 tổ hợp Bastion.


Tờ Ruvr của Nga đăng tải phát biểu của Thiếu Tướng Anatoly Pozdeev cho biết, Việt Nam đang tiếp tục đàm phán để mua thêm 2 tổ hợp Bastion của Nga.

Việc mua thêm 2 tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển Bastion sẽ nâng cao đáng kể khả năng bảo vệ bờ biển cho quân đội Việt Nam.

(ĐVO) Các tên lửa này sẽ bảo vệ bờ biển của Việt Nam trước các mối đe dọa từ biển. "Bastion là hệ thống tên lửa di động bờ biển, là loại vũ khí hiện đại nhất và mạnh nhất trên thế giới", tướng Pozdeev cho biết.

“Tại Việt Nam tên lửa phòng không SAM (chủ yếu là SAM-2) của Nga được biết đến rất rộng rãi. Chỉ riêng trong thời chiến tranh chống Mỹ, 95 tổ hợp tên lửa như vậy đã được chuyển giao đến cho Việt Nam. Các tên lửa SAM đã tiêu diệt 1.300 chiếc máy bay của Mỹ trên bầu trời Việt Nam”, tướng Pozdeev nói.

Nhưng đó là những tên lửa đất - đối - không, trong những năm kháng chiến trống Mỹ, Việt Nam không sử dụng tên lửa tấn công các mục tiêu mặt đất hoặc trên biển của đối phương.

Ngày nay, các hệ thống Bastion hiện tại được trang bị tên lửa đất - đối - biển, có thể tiêu diệt tàu chiến các loại, ngay cả khi đối mặt với sự kháng cự hỏa lực và chế áp điện tử mãnh liệt của đối phương.

Tướng Pozdeev còn tuyên bố: Hiện nay hải quân các nước trên thế giới chưa có phương tiện quân sự nào có thể đối chọi với tên lửa của tổ hợp Bastion.

Như vậy, với việc đàm phán mua thêm 2 hệ thống Bastion, trong tương lai số tổ hợp phòng thủ bờ biển sẽ được nâng lên con số 4.

Hiện tại, Việt Nam đã được bàn giao 2 hệ thống Bastion, việc nhận thêm 2 tổ hợp nữa sẽ tăng cường đáng kể khả năng giám sát và bảo vệ bờ biển của đất nước.

Khi đó, với 4 tổ hợp Bastion, tầm bảo vệ lãnh hải sẽ lên tới 2.400 km, chiếm khoảng 75% chiều dài bờ biển.

Mỗi tổ hợp tên lửa Bastion có thể bao gồm 36 quả tên lửa có cánh Yakhont. Các tên lửa tự dẫn siêu thanh chống tàu với đầu đạn nặng hơn 200 kg này có thể đánh trúng các mục tiêu ở khoảng cách lên tới 300 km. Mỗi tổ hợp có thể bảo vệ dải bờ biển dài hơn 600 km và giám sát vùng biển có diện tích 200 km2.

(Nguồn Đất Việt)

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

Đọc báo giùm bạn :Chân dung các thuyền trưởng đoàn tàu không số (Kỳ 5)



Kỳ 5: Đồng Xuân Chế: “Biển gọi tôi suốt cuộc đời”

QĐND - Làng biển Nam Sơn (Nghi Sơn, Tĩnh Gia, Thanh Hóa) những ngày đầu năm 2011. Từ tinh mơ mờ đất, cha con ông Đồng Xuân Chế đã vác lưới ra biển. Ông đi đến đâu là đánh thức bà con đến đấy bởi giọng nói hào sảng. Đã bước sang tuổi 75 nhưng ông vẫn còn nhanh nhẹn lắm. Tay ông vẫn thoăn thoắt thả lưới, bắt chẻo, câu mực..., vẫn lăn lộn với sóng gió để mang về cho vợ con miếng cơm manh áo.

Ông bảo: "Biển gọi tôi suốt cuộc đời". Có lẽ thế mà tuổi già đã không ngăn cản được bước chân ông. Các con ông cũng muốn bố nghỉ ngơi nhưng ông thì không muốn. Bởi một ngày không làm việc với ông thật xa xỉ.

Sau một ngày đầu năm đi biển lấy may, ông trở về trong tâm trạng phấn khởi nên vừa gặp chúng tôi, ông đã hồ hởi bắt chuyện.

- 35 năm trước, khi mới rời quân ngũ trở về làng, tôi đã được dân làng tín nhiệm bầu là Chủ nhiệm hợp tác xã liên hiệp nghề cá.

Thuyền trưởng Đồng Xuân Chế. Ảnh Trịnh Dũng.

Thời chiến tranh, quê tôi là túi đạn bom của giặc Mỹ, làng mạc bị tàn phá, cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn, ngư cụ khai thác cá biển thiếu thốn đủ bề... Trước tình hình đó, tôi đã cùng với chi ủy, chi bộ ra sức động viên nhân dân khắc phục khó khăn đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống. Rồi tôi bàn với anh em bạn hữu động viên dân làng, hãy bám biển mà sống, bỏ biển, bỏ làng là có tội với Đảng và Chính phủ. Nhân dân lắng nghe, họ chủ động đóng thuyền, vá lưới ra biển đánh cá. Chẳng bao lâu, cuộc sống nhân dân được cải thiện đáng kể. Lúc này, xã có chủ trương cho 30 lao động trong thôn đi học cơ khí và khai thác cá biển để về phục vụ sản xuất. Sau khi chúng tôi đi học về đã trực tiếp hướng dẫn bà con cách đánh bắt, sử dụng ngư lưới cụ và các phương tiên thông tin đi biển. Chúng tôi bắt tay vào đánh bắt, các đoàn tàu đi biển thu về từng khoang cá đầy. Nhân dân phấn khởi, làng biển lúc nào cũng rộn vang tiếng cười.

Ông cho chúng tôi xem những tấm huân huy chương đã nhuốm màu thời gian, nói như khoe: “Đây là những tài sản quý giá nhất của đời tôi. Mỗi lần nhìn nó, tôi thấy đồng đội mình đang ở đó, thấy những cung đường biển đầy sóng và gió mà một thời chúng tôi đã vượt qua”.

Rồi như chạm vào mạch nguồn cảm xúc, ông kể:

… Tháng 9-1970, tôi được điều động về Tàu 54-Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 125 làm thuyền phó 1, nhận lệnh chở 70 tấn vũ khí đi Rạch Gốc (Cà Mau). Chuyến đi này khung cán bộ có anh Hai Đặng là thuyền trưởng, anh Hai Hiệu là Chính trị viên, tôi và anh Chử Thái Bình làm thuyền phó.

Chúng tôi xuất phát tại cảng K35 Hải Phòng. Để tạo yếu tố bí mật, bất ngờ, tàu đã thẳng hướng sang đảo Hải Nam (Trung Quốc), đi dọc phía Đông quần đảo Trường Sa tiếp giáp Phi-líp-pin. Khi đang ở vùng biển Phi-líp-pin thì cơn bão số 8 xuất hiện, tàu nằm trong tâm bão, một cơn bão mạnh cấp 12. Con tàu nhỏ nhoi oằn mình giữa cơn cuồng phong của biển cả. Hòm đạn súng B41, đạn ĐKZ cố định trên mặt boong đều bị bật tung, liệng đi liệng lại trên mặt boong, 2 bộ phận giảm lắc của tàu bị sóng đánh gãy nên tàu rất tròng trành.

Do bão nên việc xác định vị trí tàu bằng thiên văn không thể tiến hành được, buộc chúng tôi phải dùng phương pháp tính nhích dần để xác định vị trí tàu. Để chống chọi với bão lớn, phần đông cán bộ, chiến sĩ đã ngậm sâm làm việc, qua mấy chục giờ mọi người gần như kiệt sức. Hơn một ngày một đêm chiến đấu vật lộn với bão tố, tưởng chừng có lúc bão đã nhấn chìm con tàu nhỏ bé xuống đáy đại dương. Nhưng cũng do có bão lớn nên kẻ thù đã nới lỏng kiểm soát trên biển, vì vậy chúng tôi đã vượt qua vòng kiểm soát của địch.

Chúng tôi chuyển hướng về phía bến nhưng vì thời tiết quá phức tạp không xác định được vị trí tàu, chúng tôi phải chuyển sang xác định vị trí tàu bằng phương pháp nhích dần. Dự tính 3 giờ sáng thì tàu vào bến, song 4 giờ đến 5 giờ, 6 giờ, tàu vẫn chưa phát hiện được bến. Đến 7 giờ sáng thì tàu phơi lưng ở ven bờ Cà Mau. Tình huống nguy hiểm ngoài dự kiến do người ở bến đón dẫn đường chúng tôi chờ quá thời gian hiệp đồng đã rút đi, tàu nằm chềnh ềnh ở ven bờ, nếu địch phát hiện được thì vô cùng nguy hiểm. Không có người dẫn đường, chúng tôi đã nhanh chóng tự tìm rạch để vào. Đang cơ động vào bến, bỗng có máy bay địch ở sân bay Bạc Liêu gần đó cất cánh đi tuần ven biển, toàn tàu sẵn sàng chiến đấu. Nếu địch phát hiện được tàu ta thì đây sẽ là tình huống vô cùng nguy hiểm. Nhưng thật may, địch không phát hiện ra chúng tôi. Hơn một tiếng sau, chúng tôi nhanh chóng đưa tàu vào bến an toàn và tiến hành ngụy trang. Mọi người ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm và phấn khởi vì đã đưa được vũ khí vào tận tay đồng bào, chiến sĩ miền Nam.

Kể đến đây, giọng ông phấn chấn hẳn: Một tuần ở bến bốc xong vũ khí, chúng tôi được lệnh trở về miền Bắc. Tình huống bất ngờ nguy hiểm khác lại đến, đó là vào lúc 19 giờ, tàu được lệnh gỡ ngụy trang, một thuyền máy đuôi tôm B10 của bến chuyển cho chúng tôi một ít hàng. Đang chuyển hàng thì bỗng dưng thuyền máy bị bốc cháy, đạn nổ, tỏa ra một quầng lửa sáng rực. Nghe tiếng đạn nổ và vùng lửa sáng, máy bay địch gần đó đã nhanh chóng cất cánh lùng sục. Lưỡng lự không xử lý nhanh lúc này tàu sẽ trở thành mồi cho đạn bom của giặc. Ban chỉ huy chúng tôi hội ý chớp nhoáng và quyết định cho tàu khẩn trương rời khỏi khu vực nguy hiểm. Nổ máy tăng tốc độ vừa ra khỏi rạch thì máy bay địch ở sân bay Bạc Liêu bám theo sát chúng tôi, ngoài biển thấy đèn tàu địch thấp thoáng, hình như địch đã phát hiện ra chúng tôi và đang đón lõng để bắt sống hoặc tiêu diệt tàu. Chúng tôi báo động toàn tàu sẵn sàng chiến đấu và khôn khéo cho tàu bám bờ đi theo hướng Ghềnh Hào để lợi dụng tuyến bờ che lấp tránh ra đa của địch phát hiện. Khoảng 1 giờ 30 phút sau, quả nhiên địch bị mất mục tiêu, máy bay không bám theo, ngoài biển cũng không thấy tàu và đèn thấp thoáng nữa, chúng tôi nhanh chóng chuyển hướng cho tàu đi về hướng Đông Đông Bắc, 6 giờ sáng thì ra đến hải phận quốc tế. 7 giờ sáng chúng tôi lại thấy một tàu lạ bám theo cả ngày và sau đó đêm thì một chiếc máy bay thay tàu bám theo. Chúng tôi bình tĩnh tiếp tục hành trình coi như không có gì xảy ra.

Đây thực sự là một chuyến đi đầy khó khăn, gian khổ, tàu đã phải vượt qua bão tố và sự truy cản của kẻ địch để chở hàng chi viện cho chiến trường miền Nam. Chuyến đi hơn một tháng đã vắt kiệt sức. Tôi và anh Bình thuyền phó phải đi nằm viện chữa bệnh. Sau khi ra viện tôi nhận quyết định của Đoàn điều động về tàu 56 ở Tiểu đoàn 2 nhận nhiệm vụ mới và sau đó đổi số tàu thành 649-Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 125.

Trung tuần tháng 8-1971, Tàu 649 nhận nhiệm vụ chở 70 tấn vũ khí vào chiến trường miền Nam. Trên tàu, ngoài 18 cán bộ, chiến sĩ còn có 3 đồng chí của Đoàn 126 Đặc công. Đầu tháng 11 tàu xuất phát, đi xuyên qua phía Nam đảo Hải Nam để tạo yếu tố bí mật, bất ngờ đánh lừa Hạm đội 7 của Mỹ, chúng tôi đã lựa chọn cách đi trên các bãi cạn của quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Trong chuyến đi này biển lặng nhưng căng thẳng nhất là phải đi lách trên các bãi đá ngầm Hoàng Sa, Trường Sa nên yêu cầu xác định vị trí tàu bằng thiên văn và lái tàu phải thật chuẩn xác, chỉ cần sơ suất một chút là tàu có thể cưỡi lên đá ngầm. Vượt qua nhiều bãi đá ngầm, bãi cạn san hô và ra khỏi quần đảo Trường Sa, xuống phía Nam tàu lách về phía vùng biển Phi-líp-pin.

Đến cuối tháng 11-1971, vào gần đến nơi theo kế hoạch, ban chỉ huy tàu họp bàn nhận định: Đây là thời cơ tốt cần nhanh chóng cơ động vào bến ngay trong đêm thứ bảy, vì lúc đó địch thường hay mất cảnh giác. Nếu đi theo kế hoạch cũ thì sang tối chủ nhật mới vào bến và thả hàng được. Cấp trên nhất trí theo phương án của chi ủy và chỉ huy tàu. 23 giờ chúng tôi đến vùng biển Thái Lan và chuyển hướng về đảo Cô Công (Cam-pu-chia). Chúng tôi bắt liên lạc thả vũ khí, nhưng bến lại trả lời sai tín hiệu. Thời gian thả hàng đã quá gấp, không thể chờ đợi thêm được nữa. Chúng tôi cử đồng chí Phan Đình Nhu và đồng chí Nhật, cùng 2 đồng chí đặc công người nhái tập kích bắt sống người đánh tín hiệu trả lời của bến. Hóa ra đúng là người của ta. Chúng tôi cấp tốc về bến thả hàng, lúc đó là 0 giờ 10 phút, tàu phân công 9 đồng chí trực chiến đấu, còn lại 9 đồng chí bốc vũ khí từ dưới hầm hàng có độ cao 4m và thả xuống biển. Tàu không thả neo, chúng tôi thả hàng thành 2 đống với tốc độ của tinh thần thần tốc. Chỉ với 9 người và trong 3 giờ 10 phút chúng tôi đã đưa lên mặt boong và thả xuống bến 70 tấn vũ khí, trung bình mỗi đồng chí bốc gần 8 tấn vũ khí. Sau khi chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ trở về, đồng chí Lê Duẩn đã đánh giá: “Đây là sức mạnh diệu kỳ”.

Suốt cuộc đời quân ngũ, ông Chế luôn cố gắng phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Bản thân ông được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương và được tặng ảnh Bác Hồ. Giờ đây, cuộc đời ông đã bắt đầu được hưởng những quả ngọt cuối mùa. Ông khoe với tôi: "Cháu à. Bác thông báo một tin vui đây. Ban liên lạc Cựu chiến binh Đoàn tàu Không số tỉnh Thanh Hóa vừa họp và đề nghị Quân chủng Hải quân xây dựng nhà tình nghĩa cho bác đấy. Bác cũng vừa nhận được chế độ trợ cấp hằng tháng đối với người phục vụ trong quân ngũ trên 15 năm.

-----------

Kỳ 1: Thuyền trưởng tàu không số đầu tiên

Kỳ 2: Thuyền trưởng tàu sắt đầu tiên

Kỳ 3: Từ du kích trở thành thuyền trưởng

Kỳ 4: Nguyễn Phan Vinh, bản hùng ca bất tử

Kỳ 6: Nắm đất của Thuyền trưởng Hồ Đức Thạnh

Bài và ảnh: Trịnh Dũng – Thu Hương

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

“Vua” ở quân cảng Cam Ranh


(Petrotimes) - Sáng mờ sương, chiếc xe loại UAZ 469 huyền thoại chở chúng tôi xuyên qua những trảng cát lúp xúp bụi cây, những đầm phá nhỏ xen giữa các triền đồi thấp. Sau chừng 20 phút chạy từ sân bay Cam Ranh, đã thấy trước mặt một vùng trời nước. Vịnh Cam Ranh tĩnh lặng như nàng tiên nằm ngủ yên lành giữa những triền núi thẳm xanh, dù phía xa kia Biển Đông không ngơi sóng gió.

Đặc trưng địa lý khu vực Đông Nam Á với thềm lục địa ngắn, dốc, biển ăn sâu vào đất liền thể hiện rất rõ nơi vùng đất này. Biển đang mênh mông, khi vào đến đây chợt gặp bán đảo Cam Ranh như cánh tay vươn dài, với núi Ao Hồ thuộc phần nam của dãy núi Đồng Bò sừng sững, cao gần 500m án ngữ, bao bọc lấy một vùng nước rộng bên trong. Dường như thấy rằng chừng ấy cũng chưa đủ chở che, thiên nhiên đã kiến tạo thêm một hòn đảo nằm ở đầu mút bán đảo Cam Ranh – đảo Bình Ba, án ngữ nơi cửa vịnh cùng tên. Ở phần cuối vịnh Bình Ba về hướng tây bắc, biển đột nhiên thu hẹp lại thành một eo nước nhỏ, hai bên là hai mũi đất cao – Mũi Điện và Mũi Hời. Xuyên qua eo Bé là vịnh Cam Ranh mênh mông, thẳm sâu nhưng tĩnh lặng.

Chiến hạm Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ tuần hành trên biển

Thiên nhiên đã dành cho Cam Ranh một thế núi biển ngọa hổ tàng long. Thế nên, từ lâu vùng đất hiểm trở này đã được sử dụng vào mục đích quân sự. Sau khi khởi sự công cuộc thực dân tại Đông Dương vào nửa cuối thế kỷ XIX, người Pháp đã chọn Cam Ranh để xây dựng quân cảng. Trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật hồi đầu thế kỷ trước, khi quân Nga liên tiếp thất trận ở Thái Bình Dương, Nga hoàng Nicholas II đã lệnh cho Đô đốc Zinovy Rozhestvensky chỉ huy Hạm đội Baltic sang Thái Bình Dương tiếp viện. Đội tàu Baltic đã làm một chuyến hải trình từ Đại Tây Dương xuống cực nam châu Phi rồi vòng lên Ấn Độ Dương. Sau khi vào Biển Đông, vào năm 1905, Đô đốc Rozhestvensky đã chọn Cam Ranh làm nơi đồn trú trong chừng một tháng trời để chuẩn bị cho trận hải chiến tại eo biển Tushima.

Tập bắn mục tiêu trên không

Khi bóng dáng những chiến hạm của Nga vừa khuất giữa mịt mù sóng nước Biển Đông cũng là lúc người Pháp ráo riết biến Cam Ranh từ một quân cảng nho nhỏ thành căn cứ quân sự lớn, phục vụ cho các chiến dịch thực dân khắp Đông Nam Á. Kể từ giờ phút đó, Cam Ranh với địa thế đắc địa hiếm hoi bên bờ Biển Đông luôn giữ vai trò là quân cảng quan trọng của Pháp. Sau này, người Mỹ cũng đã xây dựng Cam Ranh thành căn cứ không quân, hải quân lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Lúc cao điểm, có tới hơn 30.000 quân Mỹ và đồng minh cùng các đội tàu khu trục, hộ tống, tàu đổ bộ và máy bay tuần tra, tiêm kích, cường kích đóng ở Cam Ranh.

Sau ngày đất nước thống nhất, Cam Ranh dần trở thành một căn cứ quân sự lớn của Liên Xô, làm thế đối trọng với quân Mỹ tại căn cứ Subic ở Philippines. Vào thời điểm năm 1986, có tới hơn 6.000 người Nga bao gồm quân nhân, kỹ sư, công nhân đóng tại Cam Ranh, kèm theo đó là một đội tàu hùng mạnh, với khu trục hạm, tiểu khu trục, tàu hộ tống, tàu ngầm hạt nhân và tàu cao tốc. Tháng 5 năm 2002, quân nhân Nga cuối cùng rời Cam Ranh, chấm dứt thời kỳ hiện diện của các lực lượng quân sự nước ngoài tại quân cảng này.

Sẵn sàng chiến đấu

Người Nga rời đi, nhưng Cam Ranh với thế núi chở che biển cả vẫn giữ nguyên giá trị chiến lược đặc biệt của mình.

Đến Cam Ranh lần này, chúng tôi không có ý định tìm hiểu nhiều về lịch sử của quân cảng vốn được mệnh danh là “pháo đài bên bờ Thái Bình Dương”. Chúng tôi đến đây để “yết kiến” hai vị vua Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ. Tên của hai vị hoàng đế thuộc thời kỳ đầu của kỷ nguyên độc lập dân tộc giờ đây được đặt tên cho hai chiến hạm tối tân nhất của một lực lượng Hải quân đang trên đường hiện đại hóa – hai tàu hộ vệ tên lửa lớp Gepard 3.9.

Khi chiếc UAZ 469 còn ở trên triền dốc xa, chúng tôi đã thấy bóng dáng những chiếc tàu xám trên nền nước ửng hồng buổi bình minh. Có thể dễ dàng nhận ra hai chiến hạm Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ qua vóc dáng đồ sộ, cũng như lớp vỏ thép nhẵn nhụi vốn là đặc trưng của những tàu chiến tàng hình, nằm giữa những chiến hạm nhỏ hơn, thuộc các lớp Molniya, đậu theo đội hình gần đấy.

Thiếu tá Nguyễn Đình Giảng

Tàu Gepard 3.9 được đóng tại Nhà máy Zelenodolsk ở nước Cộng hòa Tatarstan thuộc Nga. Đây là loại tàu chiến hiện đại, có khả năng tàng hình và hỏa lực rất mạnh, với hệ thống vũ khí chống ngầm, chống hạm và phòng không ứng dụng các công nghệ mới nhất. Tàu được thiết kế để chịu các điều kiện đại dương khắc nghiệt nhất và có thể hoạt động liên tục trong nhiều ngày liền. Hiện nay, chỉ mới có Nga – nước sản xuất – và Việt Nam đưa vào biên chế hải quân loại tàu này.

Chiếc Gepard 3.9 đầu tiên chính thức được biên chế vào Lữ đoàn 162 thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân đóng tại Cam Ranh vào tháng 3/2011 và được đặt tên theo người anh hùng đã bình định 12 sứ quân để lên ngôi vua – Đinh Tiên Hoàng. Chiếc thứ hai được biên chế vào cùng đơn vị hồi tháng 8/2011, và mang tên vị vua dời đô Lý Thái Tổ. Như vai trò của hai vị hoàng đế thuộc thời kỳ đầu của kỷ nguyên độc lập, hai chiến hạm Gepard 3.9 mang tên Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ đóng vai trò tiên phong trong công cuộc hiện đại hóa quốc phòng của Việt Nam, với ưu tiên hướng tới Hải quân và Không quân. Chủ trương này đã được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng – Đại tướng Phùng Quang Thanh nêu rõ vào ngày 3/8/2011: “Phương hướng xây dựng quân đội sẽ theo hướng cách mạng, chính quy tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó Hải quân, Phòng không – Không quân, Thông tin liên lạc, Tác chiến điện tử… đi thẳng vào hiện đại để bảo vệ đất nước”.

Luyện tập bắt mục tiêu

Quân đội sẽ từng bước được hiện đại, riêng Hải quân và Không quân sẽ được hiện đại hóa nhanh chóng. Trong xu hướng đó, sắp tới đây, các chiến hạm Gepard tân tiến hơn, với các tính năng chiến đấu mạnh mẽ hơn, sẽ được bổ sung vào lực lượng Hải quân Việt Nam. Song song đó là các nỗ lực tự chế tạo tàu chiến và tên lửa đã, đang và sắp được triển khai. Lúc tới thăm quân cảng Cam Ranh, chúng tôi đã tận mắt chứng kiến không khí hối hả trên công trường xây dựng căn cứ cho tàu ngầm lớp Kilo. Sau vài năm nữa, một lữ đoàn tàu ngầm hiện đại sẽ chính thức ra mắt tại đây, như chính tuyên bố của Đại tướng Phùng Quang Thanh vào ngày 3/8/2011: “Trước mắt, trong 5, 6 năm tới, ta sẽ có một lữ đoàn tàu ngầm với 6 tàu hiện đại”.

Trong căn phòng nhỏ nằm giữa thân chiến hạm Lý Thái Tổ, Thượng úy Nguyễn Hải Dương dán mắt vào màn hình radar, bên tai anh, chốc chốc lại vang lên khẩu lệnh của Thuyền phó – Thiếu tá Nguyễn Đình Giảng từ phòng chỉ huy trên cao vọng về: “Mạn phải 30, góc tầm 45, mục tiêu bay vào…”. Trên màn hình xuất hiện tín hiệu chiếc máy bay mục tiêu lúc này đang đảo vòng trên bầu trời vịnh Cam Ranh. Chiếc máy bay lúc ẩn lúc hiện, như cố tìm cách thoát ra khỏi “vùng phủ sóng” của radar, nhưng bất kể thế nào, Dương và tổ chiến đấu của anh vẫn khóa chặt được “con mồi”. Nếu đây là thực tiễn chiến đấu, chàng sĩ quan trẻ chỉ cần nhấn nút phát hỏa là mục tiêu bị hạ.

Nguyễn Hải Dương vốn là học sinh chuyên toán ở Nghệ An. Thế rồi tình yêu biển đã thôi thúc anh gia nhập Hải quân. Sau khi ra trường, anh nhanh chóng trở thành một chuyên gia súng pháo, tên lửa cừ khôi trên các tàu tên lửa. Chuẩn bị cho tiến trình hiện đại hóa Hải quân nhanh chóng, Nguyễn Hải Dương cùng nhiều sĩ quan thuộc thế hệ trên dưới 30 tuổi như anh đã được chọn đào tạo bài bản để tiếp nhận loại tàu chiến hiện đại Gepard 3.9. Từ khi lên tàu mới, Dương như chú đại bàng biển mọc thêm cánh. Những kỹ năng chiến đấu của anh và đồng đội không ngừng được hoàn thiện. Chỉ sau một thời gian ngắn, Dương và đồng đội đã làm chủ được con tàu.

Cập cảng Cam Ranh

Trong chừng hai tiếng đồng hồ, lực lượng trên hai chiến hạm Lý Thái Tổ và Đinh Tiên Hoàng đã thực hành bài bắn hạ mục tiêu trên không. Mục tiêu là một chiếc tàu lượn bay rất cao, ẩn hiện giữa những quầng mây xám trên biển. Các vị trí chiến đấu từ chỉ huy tàu, sĩ quan tính hiệu, sĩ quan cao xạ, súng, pháo, radar và tên lửa đã phối hợp với nhau nhuần nhuyễn, dồn tất cả hỏa lực vào mục tiêu. Thuyền phó Nguyễn Đình Giảng cho biết: “Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ thuộc thế hệ tàu chiến hiện đại, có khả năng tác chiến độc lập trên biển rất cao. Chiến thuật được áp dụng với loại tàu này cũng có nhiều khác biệt so với truyền thống.

Thế nên, việc đào tạo cho các sĩ quan chỉ huy là rất quan trọng. Anh em chúng tôi ở đây đều là những sĩ quan từng kinh qua các lớp tàu tên lửa thế hệ trước, giờ được đào tạo rất kỹ càng ở trong và ngoài nước nên làm chủ phương tiện rất nhanh. Sau hai năm đào tạo, giờ đây từ sĩ quan chỉ huy tàu tới sĩ quan các bộ phận đều đã thành thạo các kỹ năng chiến đấu”. Còn Thượng tá Đỗ Quốc Tuấn – Thuyền trưởng tàu Đinh Tiên Hoàng chia sẻ: “Không chỉ tiếp thu các thao tác kỹ thuật để điều khiển tàu từ các chuyên gia Nga, anh em còn dịch thuật tài liệu, nghiên cứu các bài tập chiến thuật mới để hoàn thiện kỹ năng chiến đấu. Trên cơ sở chiến thuật của nước ngoài, chúng tôi kết hợp với chiến thuật của Việt Nam, đặc biệt là từ kinh nghiệm chiến đấu của các thế hệ cha anh, để áp dụng vào loại tàu chiến hiện đại này”.

Rời quân cảng Cam Ranh vào buổi chiều muộn, khi buổi thao luyện vừa kết thúc, chúng tôi cảm nhận được nhiệt tình và quyết tâm của các anh qua từng cái bắt tay chắc nịch. Từ những chiếc “xuồng tên lửa”, giờ đây các anh đã bước lên những chiếc tàu chiến tối tân, đại diện cho một lực lượng Hải quân Việt Nam hiện đại.

Từ chốn cỏ lau, Đinh Bộ Lĩnh đã dấy binh dẹp loạn, lên ngôi hoàng đế, đem thái bình thịnh trị khắp cõi trời nam, đặt nền móng vững chắc cho một quốc gia độc lập. Lý Thái Tổ dời đô từ chốn chật hẹp ra chỗ mênh mông, cũng với quyết tâm tạo nên một chỗ đứng vững chắc, một vị thế đĩnh đạc cho nước nhà trong bối cảnh vừa thoát khỏi sự đô hộ của phương Bắc. Trên tinh thần đó, hai chiến hạm Gepard 3.9 ở quân cảng Cam Ranh, mang hiệu hai vị hoàng đế thuộc thời đầu của kỷ nguyên độc lập dân tộc, là một minh chứng cho quyết tâm không gì lay chuyển được, là biểu trưng cho ý nguyện của toàn dân Việt Nam trong việc bảo vệ vững chắc từng tấc đất, tấc biển mà cha ông ngàn xưa để lại.

Tên vịnh Cam Ranh có nghĩa là “bến nước ngọt”, nằm ở cực Nam của tỉnh Khánh Hòa phía Nam Việt Nam, là đỉnh tột cùng nhô ra nổi bật nhất của đường bờ biển hình vòng cung phía Đông Nam Việt Nam, là vị trí yết hầu chiến lược kiểm soát cả Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Khoảng cách từ vị trí này đến tuyến hàng hải quốc tế ở hai đại dương nói trên chỉ bằng hải trình một tiếng đồng hồ, vì thế Cam Ranh có vị trí chiến lược hết sức đắc địa, từ trước đến nay vẫn luôn là vị trí giành giật tất yếu của các nhà quân sự.

Vịnh Cam Ranh bốn bề được bao bọc bởi một quần thể núi đá cao khoảng 400m, ăn sâu vào đất liền 17km, rộng 6km, diện tích thủy vực rộng hơn 100km2. Độ sâu trong vịnh bình quân từ 16 đến 25m, chỗ sâu nhất đến 32m, là một trong những cảng nước sâu tự nhiên có giá trị nhất thế giới. Trong vịnh có thể đỗ được hàng trăm tàu cỡ lớn hàng vạn tấn, kể cả tàu sân bay. Nội cảng được phân thành hai khu vực là cảng quân sự và cảng thương mại, trong đó cảng quân sự nằm ở thị trấn Cam Ranh bờ phía đông, sâu 14m, có 6 cầu tàu chính, xưởng đóng tàu có thể sửa chữa các tàu cỡ lớn và đóng tàu cỡ nhỏ, còn có kho chứa dầu, kho đạn dược và kho quân nhu đảm bảo cơ sở vật chất, hệ thống trinh sát điện tử và thông tin cũng tương đối hoàn thiện. Khu ngoại cảng hay còn gọi là đảo Bình Ba, sâu trung bình từ 10 đến 22m, tương đối thuận tiện, có đường sắt và đường bộ liền nhau.

Châu Minh Linh