Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

Ngư lôi có ‘1-0-2’ trang bị cho tàu ngầm Kilo VN.




Ngoài "sát thủ diệt tàu sân bay" Klub, tàu ngầm tấn công Kilo Project 636 của Việt Nam có thể bắn được ngư lôi nhanh nhất thế giới VA-111 Shkval
Ngư lôi nhanh nhất thế giới VA-111 Shkval
Ngư lôi nhanh nhất thế giới VA-111 Shkval.
 
Trong năm 2013, Việt Nam sẽ nhận được 2 tàu ngầm tấn công hiện đại lớp Kilo Project 636 từ phía Nga. Theo một số nguồn tin Nga, tàu ngầm Kilo dành cho Việt Nam được cải tiến mạnh về hệ thống điện tử.
Đặc biệt, tàu ngầm Kilo 636 cho Việt Nam trang bị tổ hợp tên lửa hành trình chống tàu siêu thanh Klub có khả năng tấn công tiêu diệt mục tiêu trên mặt biển ở tầm xa tới 300km. Theo giới quân sự thế giới, tên lửa Klub thể gây hư hỏng hoặc đánh chìm tàu sân bay.
Ngoài tên lửa Klub, Kilo 636 của Việt Nam còn mang được loại ngư lôi có “1-0-2” trên thế giới VA-111 Shkval do Nga chế tạo. Tất nhiên, việc có trang bị hay không còn phụ thuộc vào đơn hàng yêu cầu từ phía Việt Nam.
Lịch sử phát triển
Vào những năm 1960, trước áp lực từ hạm đội tàu ngầm hạt nhân đông đảo của Mỹ. Liên Xô cần một loại ngư lôi mới đủ khả năng vô hiệu hóa mối đe dọa từ tàu ngầm hạt nhân và các loại ngư lôi bắn ra từ các tàu ngầm này.
Để làm được điều này, loại ngư lôi mới phải có tốc độ nhanh hơn các loại ngư lôi thông thường nhằm nắm lợi thế về thời gian. Năm 1969, Liên Xô sát nhập 2 phòng thiết kế NII-24 và GSKB-47 để thành lập Viện nghiên cứu thủy ứng dụng có trụ sở ở Kiev, Ukraine.
Đồ họa ngư lôi VA-111 Shkval di chuyển dưới mặt nước
Đồ họa ngư lôi VA-111 Shkval di chuyển dưới mặt nước.
 
Ngư lôi VA-111 Shkval là sản phẩm của viện thiết kế hợp nhất này. Theo các nguồn tin, loại ngư lôi này được đưa vào sử dụng từ năm 1977, triển khai hoạt động rộng trong hạm đội tàu ngầm Nga từ những năm 1990.
Ngư lôi nhanh nhất thế giới
Với yêu cầu thiết kế một loại ngư lôi tốc độ cao, các nhà khoa học đã ứng dụng một công nghệ hoàn toàn mới là công nghệ tạo ra “siêu bọt khí” bao bọc xung quang ngư lôi. Thiết kế này gần như làm triệt tiêu toàn bộ ma sát của nước tác động lên ngư lôi giúp nó đạt tốc độ nhanh hơn.
Tức là, ngư lôi VA-111 di chuyển dưới nước trong một khoang bong bóng khí nên được gọi là “ngư lôi siêu khoang”. Phần siêu khoang được tạo ra từ một chiếc mũi hình nón đặc biệt.
Với điều đó, ngư lôi siêu khoang VA-111 có thể đạt tốc độ dưới nước vượt quá 370km/h, một tốc độ mà không một loại ngư lôi nào trên thế giới có thể so sánh được.
VA-111 được bắn ra từ máy phóng ngư lôi tiêu chuẩn 533mm với tốc độ 93km/h. Sau đó động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng sẽ được kích hoạt đẩy tốc độ của ngư lôi lên quá 370km/h. Một số nguồn tin gần đây cho biết, tốc độ của ngư lôi có thể lên đến 560km/h nhờ ứng dụng động cơ tên lửa mới.
Theo Phan Nguyễn

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

'Võ sĩ giác đấu' của hải quân Việt Nam.




TPO- Sau khi nhận thêm 2 tàu Projekt 10412 năm 2012, Việt Nam có trong tay tổng cộng 6 tàu tuần tra cao tốc lớp Svetlyak. Cùng với các tàu pháo TP-400 tự sản xuất, đây là các 'đấu sĩ giáp lá cà' trên biển...

Năm 2002, Nga đã chuyển cho Việt Nam hai chiếc tàu tuần tra lớp Svetlyak khác, phiên bản Projekt 10410, mà Việt Nam đặt số hiệu là HQ-261 và HQ-263. Sau khi nhận hai chiếc Projekt 10412 trong năm 2012, Việt Nam đã có trong tay tổng cộng 6 tàu tuần tra biên phòng cao tốc lớp Svetlyak.

Các tàu tuần tra nói trên được cho là sẽ tăng cường đáng kể khả năng tuần tra và phòng thủ biển của Việt Nam. Tàu tuần tra là thành phần không thể thiếu trong hệ thống phòng thủ có chiều sâu bên cạnh các tàu phóng lôi, tàu tên lửa cao tốc Molniya, tàu hộ vệ tàng hình Gepard 3.9, tàu ngầm kilo...Mỗi loại tàu gánh vác chức năng, nhiệm vụ khác nhau, mặc dù không được trang bị 'khủng' như các chiến hạm khác nhưng vai trò của Svetlyak tựa như những người lính canh vòng ngoài cần mẫn. Tuy nhiên, khi lâm trận chúng lập tức có thể biến thành các 'võ sĩ giác đấu' trên biển, phát huy uy lực tối đa trong các trận chiến ở cự ly gần khi mà các tàu tên lửa hay tàu ngầm không có lợi thế.
Tầu tuần biên lớp 10410 và 10412 Svetlyak ( Светляк - đom đóm) là lớp tầu đã có trong biên chế của lực lượng Hải quân Việt Nam, tầu có nhiệm vụ tuần tra bảo vệ đường biên giới trên biển, tài nguyên biển, đảo và quần đảo, chống xâm nhập trái phép và chống mọi hành vi xâm hại chủ quyền quốc gia trên biển và bờ biển.
Tầu tuần biên Type 10410 và Type 10412 được thế giới biết với cái tên khá nổi tiếng là Svetlyak từ trước đến nay luôn là sản phẩm được ưu tiên phát triển của Công ty đóng tầu Almaz.
Thân tầu được thiết kế tối ưu nhất cùng với động cơ diesen tự động làm cho việc khai thác sử dụng tầu thuận lợi nhất và tiết kiệm, đồng thời có tốc độ hải hành cao. Tốc độ cực đại là 30 dặm/giờ (55.56km/h)…tầm xa hoạt động lên đến 2.200 hải lý.
Vũ khí trang bị thân tầu theo biên chế ( thời bình) bao gồm có hệ thống pháo hạm 76,2mm và pháo liên thanh 30mm. Cho phép tầu tuần biên có được uy lực vượt trội hơn so với các tầu khác cũng lượng giãn nước. được trang bị vũ khí của các hãng "OTO Melara", "Bofors" và các hãng tầu khác.
Svetlyak trong xưởng đóng tầu trước khi hạ thủy
Svetlyak trong xưởng đóng tầu trước khi hạ thủy.

Các tầu tuần biên theo dự án 10410 và 10412 được thiết kế và phát triển bởi Trung tâm thiết kế tầu biển của công ty đóng tầu quốc gia Almaz.. Tổng công trình sư là A.L. Ivtrenco.
Mục đích sử dụng:
Ngăn chặn sự xâm nhập biên giới đường biển của quốc gia.;
Kiểm tra theo dõi các tầu nước ngoài trong khu vực kinh tế, bảo đảm cảnh giới các tài nguyên biển trong khu vực lợi ích quốc gia.
Bảo vệ các tuyến đường giao thông vận tải và các công trình nhân tạo, bảo vệ các tầu dân sự khỏi sự tấn công của các lực lượng phá hoại và khủng bố.
Đánh trả hiệu quả các cuộc tấn công từ trên không, trên biển và dưới biển tầu ngầm và người nhái.
Thông số kỹ thuật
Lượng giãn nước (tấn)
375,0
Chiều dài tầu, m
49,5
Chiều rộng nhất của tầu, m
9,2
Chiều cao của tầu tính đến giữa thân tầu, m
4,63
Mực ngấn nước khi dủ trọng tải, m
2,5
Tốc độ hải trình tối đa, max knots
30
Tầm xa hoạt động khi chạy ở chế độ tiết kiệm nhiên liệu Vh = 12 – 13 knots, hải lý
2200
Kíp lái, người
28 đến 40
Thời gian hoạt động trên biển không cần tiếp thực phẩm, nước ngọt, ngày
10
Động lực thân tầu và điện nguồn
Động lực chính của tầu là ba động cơ diesen M 520, mỗi động cơ được nối với một trục chân vịt. Mỗi động cơ có công suất là 3,530 kW (4,800-hp). Cho tổng công suất sử dụng của tầu là 16,200 kW.
Điện nguồn thân tầu được cung cấp bởi 3 động cơ phát điện diesen, cung cấp điện nguồn 3 pha 380V – 50 Hz.
Vũ khí trang bị
(Project 10410)
Pháo hạm
Để tấn công các mục tiêu trên không, trên biển và bờ biển, tầu được trang bị pháo hạm tự động:
Pháo АК-176М cỡ nòng 76,2 mm, cơ số đạn - 152 viên
Pháo АК-630М cỡ nòng 30 мм, cơ số đạn - 3000 viên
Hệ thống điều khiển hỏa lực ra đa РЛС МР-123-02 (chế độ - tự động và dự phòng)
Đối với súng АК-176М, ngoài chế độ tự động, có chế độ bắn tại chỗ bằng thiết bị К221А và VD221 trong ụ súng.
Tên lửa phòng không
Tầu có trong biên chế chính thức 16 hệ thống tên lửa phòng không vác vai loại Igla. Vị trí bắn tên lửa của xạ thủ có tay cầm và bệ tỳ lưng. Tên lửa được đặt trong các thiết bị chứa đạn giảm xóc.
Vũ khí chống tầu
Trên tầu có lắp hai hệ thống phóng ngư lôi ОТА-40А-2 với hệ thống điều khiển phóng SU-406.
Chống người nhái hoặc xuồng đổ bộ, bộ binh.
Súng phóng lựu МRG-1 hoặc DP – 64 .
(Project 10412)
Pháo hạm
Pháo hạm АК-306М cỡ nòng 30 mm – 2 hai ụ pháo hạm, cơ số đạn là 2000 viên đạn cho mỗi ụ súng và 1000 viên dự trữ.
Hệ thống điều khiển hỏa lực SP – 521 Racurs bảo đảm tự động bám mục tiêu và điều khiển hỏa lực. Đồng thời có thể trang bị hệ thống quang ảnh Garnhizon – 5.
Để điều khiển bắn bán tự động từ xa, đã được lắp đặt 2 bộ điều khiển "Kolonka – 219-1”
Hỏa lực bắn thẳng.
Trên tầu có thể lắp súng máy phòng không loại 14,5mm hai hệ thống ụ súng loại MPTU, cơ số đạn là 5000 viên cho mỗi ụ súng.
Vũ khí cá nhân và cơ số đạn nằm trong các hộp chứa đặc biệt dạng hình tháp.
Ngoài ra, dự án 10412 là phiên bản xuất khẩu của dự án 10411, được chế tạo mẫu dành cho xuất khẩu, Almaz chỉ sản xuất có một phiên bản có lắp hệ thống tên lửa chống tầu Uran- E X- 35 với tầm bắn xa 130 km. 8 ống phóng tên lửa mỗi bên. Sử dụng radar dẫn đường và điều khiển hỏa lực Garpun-Bal.
Loại tầu 10411 và 10412 đều là các tầu có khả năng sử dụng vũ khí với sóng biển cấp 5, hoạt động tuần biên với sóng cấp 7, biển động mạnh. Với cơ chế 3 động cơ chân vịt, tầu có khả năng tăng tốc rất nhanh và đột ngột, hệ thống hỏa lực cho phép chặn đứng mọi con tầu cao tốc đột nhâp trong lưới đạn dầy đặc. Đồng thời nếu có xung đột, tầu có khả năng tấn công các mục tiêu lớn hơn bằng tên lửa hành trình X-35 trong điều kiện hải hành tốc độ cao. Cơ bản, lớp tầu Svetlyak là một tầu đa nhiệm tuần biên có thể đáp ứng được cả yêu cầu của chiến tranh hiện đại.
Pháo hạm AK 176
Pháo hạm AK 176.
Pháo hạm AK 630
Pháo hạm AK 630.
Pháo hạm AK 630
Ống phóng ngư lôi 400mmOTA-40A-2.
Súng phóng lựu chống bộ binh loai DP-64
Súng phóng lựu chống bộ binh loai DP-64.

Hệ thống điều khiển lái tầu và thông tin liên lạc
Trên thân tầu lắp hệ thống hoa tiêu dẫn đường cho tầu, đảm bảo điều khiển tầu, định vị tầu trên hải đồ, tính toán đường đi và các thông số về hải trình cho lái tầu, chỉ huy và các cấp chỉ huy tầu.
Hệ thống radar
Hệ thống radar.
Buồng lái
Buồng lái.

Radar hàng hải Liman
Hệ thống định vị/dẫn đường vệ tinh SCh-1
Hệ thống thông tin liên lạc tự động R-784B
Để thuận tiện cho thông tin liên lạc giữa tầu với căn cứ, các tầu khác và với không quân hải quân, trên tầu lắp đặt các hệ thống thiết bị thông tin liên lạc ở các tần số như KV, MV, UKV ở chế độ móc xơ và chế độ telec. Hệ thống liên lạc nội bộ bằng loa và đài phát thanh.
Thân tầu
Thân và sàn tầu, khung sườn được thực hiện bằng phương pháp hàn hiện đại, tôn dùng đóng tầu là loại thép hợp kim thấp. Khung sườn của tầu, sàn tầu và một số các vách ngăn được làm bằng hợp kim nhôm – magiê. Để chống rỉ, tầu được thiết kế hệ thống điều chỉnh âm cực điện cảm ứng.
(theo Tien phong)

Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013

Khám phá uy lực lưới lửa phòng không trên tàu chiến Việt nam



Các vũ khí phòng không trên tàu chiến Việt Nam trước đây có khả năng đánh mục tiêu bay cao khoảng 10km và ở cự ly 15km trở lại, nhưng nay đang được nâng dần lên...
Tàu chiến Việt Nam được trang bị hỏa lực pháo phòng không - tên lửa bảo vệ tàu tiêu diệt mọi mục tiêu trên không (máy bay, tên lửa hành trình chống tàu) ở độ cao và cự ly từ 10km trở lại
Tàu chiến Việt Nam được trang bị hỏa lực pháo phòng không - tên lửa bảo vệ tàu tiêu diệt mọi mục tiêu trên không (máy bay, tên lửa hành trình chống tàu) ở độ cao và cự ly từ 10km trở lại.
Hệ thống pháo phòng không cao tốc Ak-630 trang bị trên các loại tàu chiến mới của Hải quân Việt Nam như: khinh hạm Gepard 3.9; tàu hộ tống tên lửa 1241RE, 1241.8, BSP-500; tàu pháo Svetlyak và TT400TP. Ak-630 được thiết kế chủ yếu để đánh chặn tên lửa hành trình chống tàu hoặc vũ khí chính xác cao. Dù vậy, nó cũng rất hiệu quả khi tấn công máy bay cánh bằng, trực thăng
Hệ thống pháo phòng không cao tốc Ak-630 trang bị trên các loại tàu chiến mới của Hải quân Việt Nam như: khinh hạm Gepard 3.9; tàu hộ tống tên lửa 1241RE, 1241.8, BSP-500; tàu pháo Svetlyak và TT400TP. Ak-630 được thiết kế chủ yếu để đánh chặn tên lửa hành trình chống tàu hoặc vũ khí chính xác cao. Dù vậy, nó cũng rất hiệu quả khi tấn công máy bay cánh bằng, trực thăng. Ảnh: QĐND
Hệ thống pháo Ak-630 gồm các thành phần: pháo 6 nòng cỡ 30mm, hệ thống radar điều khiển hỏa lực MR-123-02 và tổ hợp ngắm bắn quang - điện SP-521. Trong đó, pháo 6 nòng cỡ 30mm có tốc độ bắn 4.000 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 4.000m, tầm bắn tối đa 8.100m. Trong ảnh là pháo Ak-630 khai hỏa tấn công mục tiêu (ảnh minh họa nước ngoài)
Hệ thống pháo Ak-630 gồm các thành phần: pháo 6 nòng cỡ 30mm, hệ thống radar điều khiển hỏa lực MR-123-02 và tổ hợp ngắm bắn quang - điện SP-521. Trong đó, pháo 6 nòng cỡ 30mm có tốc độ bắn 4.000 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 4.000m, tầm bắn tối đa 8.100m. Trong ảnh là pháo Ak-630 khai hỏa tấn công mục tiêu (ảnh minh họa nước ngoài).
Hệ thống pháo-tên lửa phòng không tự động Palma-SU trang bị trên khinh hạm Gepard 3.9 (HQ-011 Đinh Tiên Hoàng và HQ-012 Lý Thái Tổ). Palma-SU thiết kế để tiêu diệt máy bay, tên lửa hành trình chống tàu, tàu cỡ nhỏ. Trong ảnh là tổ hợp Palma-SU lắp trên khinh hạm tên lửa Gepard 3.9 của Hải quân Việt Nam
Hệ thống pháo-tên lửa phòng không tự động Palma-SU trang bị trên khinh hạm Gepard 3.9 (HQ-011 Đinh Tiên Hoàng và HQ-012 Lý Thái Tổ). Palma-SU thiết kế để tiêu diệt máy bay, tên lửa hành trình chống tàu, tàu cỡ nhỏ. Trong ảnh là tổ hợp Palma-SU lắp trên khinh hạm tên lửa Gepard 3.9 của Hải quân Việt Nam.
Hệ thống Palma-SU thiết kế với 2 pháo 6 nòng cỡ 30mm AO-18KD và 8 tên lửa Sosna-R cho phép tiêu diệt mục tiêu ở cự ly 200-8.000m, độ cao 3.500m
Hệ thống Palma-SU thiết kế với 2 pháo 6 nòng cỡ 30mm AO-18KD và 8 tên lửa Sosna-R cho phép tiêu diệt mục tiêu ở cự ly 200-8.000m, độ cao 3.500m.
Pháo phòng không tự động AK-230 trang bị trên tàu cao tốc tên lửa Osa II, tàu phóng lôi lớp Shershen của Hải quân Nhân dân Việt Nam. Trong ảnh là tháp pháo AK-230 lắp trên tàu tên lửa Osa II
Pháo phòng không tự động AK-230 trang bị trên tàu cao tốc tên lửa Osa II, tàu phóng lôi lớp Shershen của Hải quân Nhân dân Việt Nam. Trong ảnh là tháp pháo AK-230 lắp trên tàu tên lửa Osa II.
Pháo AK-230 lắp 2 nòng pháo cỡ 30mm cho phép tấn công tiêu diệt mục tiêu trên không ở cự ly 2.500-4.000m, tốc độ bắn 1.000 phát/phút
Pháo AK-230 lắp 2 nòng pháo cỡ 30mm cho phép tấn công tiêu diệt mục tiêu trên không ở cự ly 2.500-4.000m, tốc độ bắn 1.000 phát/phút.
Pháo phòng không AK-725 trang bị trên tàu phóng lôi lớp Tuyra dùng để tiêu diệt các mục tiêu trên không (không hiệu quả khi chống tên lửa hành trình) hoặc khi cần có thể dùng để bắn phá mục tiêu trên biển. AK-725 thiết kế với 2 nòng pháo 57mm có tầm bắn 8.420m, tốc độ bắn 200 phát/phút
Pháo phòng không AK-725 trang bị trên tàu phóng lôi lớp Tuyra dùng để tiêu diệt các mục tiêu trên không (không hiệu quả khi chống tên lửa hành trình) hoặc khi cần có thể dùng để bắn phá mục tiêu trên biển. AK-725 thiết kế với 2 nòng pháo 57mm có tầm bắn 8.420m, tốc độ bắn 200 phát/phút.
Pháo phòng không AK-726 (góc trái ảnh) trang bị trên các tàu hộ tống săn ngầm lớp Petya II/III. Pháo được trang bị 2 nòng cỡ 76,2mm có tầm bắn 15.700m, độ cao 11.000m. bắn kính sát thương mục tiêu máy bay 8m. Phía góc phải ảnh là các tháp pháo phòng không 37mm 2 nòng, thường được trang bị trên một số tàu pháo kiểu cũ của Việt Nam
Pháo phòng không AK-726 (góc trái ảnh) trang bị trên các tàu hộ tống săn ngầm lớp Petya II/III. Pháo được trang bị 2 nòng cỡ 76,2mm có tầm bắn 15.700m, độ cao 11.000m. bắn kính sát thương mục tiêu máy bay 8m. Phía góc phải ảnh là các tháp pháo phòng không 37mm 2 nòng, thường được trang bị trên một số tàu pháo kiểu cũ của Việt Nam.
Pháo phòng không 2 nòng 25mm trang bị trên tàu phóng lôi lớp Shershen có thể tiêu diệt mục tiêu ở cự ly 2.400-2.800m, độ cao 1.700m, tốc độ bắn 450 phát/phút
Pháo phòng không 2 nòng 25mm trang bị trên tàu phóng lôi lớp Shershen có thể tiêu diệt mục tiêu ở cự ly 2.400-2.800m, độ cao 1.700m, tốc độ bắn 450 phát/phút.
Pháo phòng không 2 nòng 25mm và 2 nòng 37mm trang bị trên các tàu pháo kiểu cũ của Hải quân Nhân dân Việt Nam
Pháo phòng không 2 nòng 25mm và 2 nòng 37mm trang bị trên các tàu pháo kiểu cũ của Hải quân Nhân dân Việt Nam.
Nhiều tàu chiến của Việt Nam, kể cả các tàu hiện đại đều được trang bị bổ sung thêm súng máy phòng không tầm thấp 14,5mm
Nhiều tàu chiến của Việt Nam, kể cả các tàu hiện đại đều được trang bị bổ sung thêm súng máy phòng không tầm thấp 14,5mm.
Theo Kiến thức.

Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013

Tàu cao tốc tên lửa nhanh, mạnh nhất thế giới




Hiện nay, theo đánh giá của các chuyên gia quân sự Mỹ, loạt 4 tàu cao tốc tên lửa lớp Ezzat mà họ đóng cho hải quân Ai Cập chính là loại tàu có tốc độ cao và hỏa lực mạnh nhất thế giới.
Phần mũi tàu được thiết kế mũi tam giác tù chứ không nhọn như các tàu LSC
Phần mũi tàu được thiết kế mũi tam giác tù chứ không nhọn như các tàu LSC.
Loạt tàu này do Công ty đóng tàu VT Holt của Mỹ nghiên cứu, chế tạo dựa trên nguyên mẫu các tàu tác chiến ven bờ (LSC) của Mỹ nên có tính năng tàng hình rất tốt với thiết kế gần như không có góc cạnh, toàn bộ hệ thống vũ khí đều đặt ngầm trong thân. Chiếc đầu tiên trong loạt này là tàu cao tốc tên lửa S. Ezzat đã bàn giao cho hải quân Ai Cập vào ngày 25-10-2011, bắt đầu đưa vào phục vụ trong lực lượng hải quân Ai Cập vào đầu năm 2012.
Chiếc tàu này được vinh dự mang tên của nguyên tư lệnh hải quân Ai Cập, thượng tướng (đô đốc) Suleiman Izzat. Ông chính là người đã đặt nền móng, thành lập và lãnh đạo lực lượng hải quân Ai Cập trong khoảng thời gian 1953 – 1967. 3 chiếc tàu còn lại trong loạt tàu này được mang tên F. Zekry, M. Fahmy và A. Gad, chiếc cuối cùng sẽ được bàn giao vào tháng 12 năm nay. Cả 3 tàu này đều được tăng cường trang bị thêm 1 động cơ nữa là 4 chiếc.
S. Ezzat được nhà máy đóng tàu của công ty VT Holt bắt tay đóng mới vào tháng 11-2009. Nó có chiều dài 63m, lượng giãn nước không tải 550 tấn, thông thường 700 tấn, đầy tải 779 tấn, biên chế 40 thủy thủ, có khả năng hành trình độc lập trên biển 8 ngày, nếu tăng lượng dự trữ có thể lên tới 15 ngày. Tàu được trang bị 3 (4) động cơ Diezen MTU giúp nó đạt vận tốc tối đa 41 hải lý/h (tương đương 73,8km/h), hiện trên thế giới không có loại tàu cao tốc nào có lượng giãn nước tương đương đạt tới tầm vận tốc như vậy.
Cận cảnh tầng thượng và hệ thống vũ khí đều được giấu trong thân giữa tàu
Cận cảnh tầng thượng và hệ thống vũ khí đều được giấu trong thân giữa tàu.
Tàu được trang bị tên lửa chống hạm “Harpoon” của Mỹ, pháo phòng không tầm thấp SRGM “Oto Melara” 76mm của Pháp, hệ thống vũ khí tự động tầm gần (CIWS) “Phalanx” Block 1B và hệ thống Mk-49 phóng tên lửa đánh chặn hồi chuyển RIM-116 (RAM) của hãng Raytheon. Có thể nói, do được trang bị cả hệ thống phòng thủ tên lửa nên S. Ezzat đã trở thành tàu cao tốc tên lửa mạnh nhất trong các tàu cùng chủng loại.
Tham số:
Thuộc lớp: Ezzat, bao gồm 4 chiếc: S. Ezzat, F. Zekry, M. Fahmy và A. Gad.
Động cơ: 4 động cơ Diezen MTU16V 595TE90, mỗi chiếc công suất 23,175Hp.
Tốc độ tuần hành: 34 hải lý/h.
Tốc độ tối đa: 41 hải lý/h.
Hành trình tối đa: 2000 hải lý với vận tốc 15 hải lý/h.
Thủy thủ đoàn: 35 – 40 người.
Tàu có thiết kế khí động học tối ưu giúp tăng khả năng tàng hình và nâng cao tốc độ
Tàu có thiết kế khí động học tối ưu giúp tăng khả năng tàng hình và nâng cao tốc độ.
Hệ thống vũ khí:
1 bệ pháo phòng không tầm thấp SRGM “Oto Melara” 76mm.
8 quả tên lửa chống hạm “Harpoon” BlockII của Mỹ, hệ thống phóng đặt giữa thân tàu, hệ thống nâng ống phóng bằng động cơ điện.
1 hệ thống Mk-49 /21 ống phóng tên lửa đánh chặn hồi chuyển RIM-116 (RAM) của hãng Raytheon.
1 hệ thống vũ khí tự động tầm gần (CIWS) “Phalanx” Block 1B.
2 khẩu súng máy M60 7,62mm.
Hệ thống radar và thiết bị điện tử
Radar đối không/đối hải MRR-3D ES và 2 radar dẫn đường đều của hãng Thales (Pháp).
Hệ thống chỉ huy tác chiến TACTICOS của hãng Thales.
Hệ thống thông tin HF-5000.
Theo Nguyễn Ngọc