Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012

Sức mạnh 'ong độc' của Hải quân Việt Nam


Ngoài việc được biên chế 2 hộ vệ hạm tên lửa Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ, Quân chủng Hải quân còn có tàu tên lửa cực kỳ cơ động, cao tốc Molnya. Dưới đây là những hình ảnh mới nhất của loại chiến hạm được gọi là “ong độc”.

Hai chiếc này nằm trong hợp đồng mua 12 chiếc Taratul V mà Việt Nam ký với Nga. Số còn lại sẽ do Việt Nam tự đóng theo công nghệ được chuyển giao.
Tàu tên lửa Molnya (NATO gọi là Tarantul V) của Hải quân Nhân dân Việt Nam. Đây là một trong 2 tàu tên lửa cao tốc đầu tiên thuộc Project 1241.8 mà Việt Nam mua của Nga.

So với những tàu tên lửa Molnya cơ sở thuộc Project 1241.1 mà Việt Nam nhận của Nga trước đó, tàu Molnya thuộc Project 1241.8 có một số thay đổi đặc biệt là ở hệ thống vũ khí
Tàu tên lửa cao tốc Molnya Project 1241.8 được lắp đặt hệ thống tên lửa Uran-E , vận tốc cận âm 3M-23E (SS-N-25 Switchblade); tên lửa có khối lượng 600kg mang đầu đạn 145kg, được phóng từ container phóng/vận chuyển và có thể tiêu diệt mục tiêu ở cự ly đến 130km.
Ngoài ra, các tàu tên lửa Molnya Project 12418 còn được trang bị 12 tên lửa phòng không...
Cận cảnh tàu tên lửa Molnya.
Đây là một trong những tàu tên lửa Molnya thuộc Project 1241.1 (NATO gọi là tàu hộ tống lớp Tarantul I) mà Nga cung cấp cho Hải quân Việt Nam trong những năm 1999.
Các tàu tên lửa Molnya được sử dụng để tác chiến tại các vùng cửa biển và ven bờ. Với lượng giãn nước chỉ hơn 500 tấn, tính cơ động cao, tấn công và sơ tán nhanh, Molnya có khả năng độc lập tác chiến và chiến đấu hiệp đồng trong đội hình biên đội, tạo nên thế trận cực kỳ linh hoạt.
Tàu tên lửa cao tốc BPS-500 lắp ráp tại Việt Nam từ năm 1999 với kỹ thuật của Nga, tàu tên lửa cao tốc BPS-500 có chiều dài 62 m, tải trọng 517 tấn...

Tàu tên lửa cao tốc BPS-500.

Pháo hạm Svetlyak thuộc lớp Project 10412 mang số hiệu HQ-261.

Pháo hạm Svetlyak thuộc lớp Project 10412.

Tàu tên lửa Molnya, hộ vệ hạm tên lửa Đinh Tiên Hoàng.

Thứ Tư, 22 tháng 8, 2012

Chiêm ngưỡng tàu biển 'khủng' nhất thế giới


Khi cần phải chuyên chở cùng lúc 22 xà lan, mỗi cái nặng gần 3.000 tấn, chu du nửa vòng thế giới, bạn sẽ cần một tàu vận tải “khủng” tới cỡ của Blue Marlin – một trong những tàu biển dị thường nhất từng lướt mình trên các đại dương.

Tàu Blue Marlin đang chuyên chở cùng lúc 23 xà lan có trọng lượng tổng cộng gần 60.000 tấn. Ảnh: Daily Mail

Theo tờ Daily Mail, Blue Marlin là tàu vận tải bán ngầm hạng nặng, có chiều dài 217m, chiều cao mớn nước 42m và sở hữu boong tàu có kích cỡ bằng 2 sân bóng đá. Tàu vận hành nhờ động cơ diesel 17.000 mã lực và đạt vận tốc tối đa 24km/h.

Người ta mô tả, việc lái con tàu khổng lồ này giống như kiểm soát một tòa cao ốc văn phòng nổi. Với trọng tải 75.000 tấn, thay vì chở các hàng hóa thông thường như tivi, đồ chơi, cà phê, đồ gia dụng – điện tử, tàu Blue Marlin thường được giao nhiệm vụ “cõng” trên lưng các tàu thuyền nhỏ hơn và cả các giàn khoan dầu.

Blue Marlin lập kỷ lục vận tải khi chuyên chở giàn khoan Thunder Horse nặng 60.000 tấn của BP từ Okpo, Hàn Quốc tới Corpus Christi, Mỹ năm 2004. Ảnh: Daily Mail

Khi lực lượng Hải quân Mỹ muốn đưa tàu khu trục hỏng hóc USS Cole về nhà, họ nhờ tới Blue Marlin. Và khi Hải quân Australia muốn mang một hàng không mẫu hạm từ Tây Ban Nha về nước, họ cũng yêu cầu duy nhất sự trợ giúp của tàu vận tải bán ngầm hạng nặng này.

Với những chuyến hàng nặng hàng chục ngàn tấn như 22 chiếc xà lan xuất cảng từ Hàn Quốc tới địa điểm hoàn thiện ở Rotterdam (Hà Lan), không chiếc cần trục nào trên thế giới đủ lớn để có thể nâng chúng lên boong của tàu Blue Marlin. Và đây chính là lúc con tàu thể hiện sự ưu việt vượt trội của mình.

Hãng Diamond Offshore cũng đặt hàng Blue Marlin chở giàn khoan Ocean Monarch từ Singapore tới Corpus Christi, Mỹ. Ảnh: Daily Mail

Boong tàu Blue Marlin được thiết kế có khả năng lặn, giúp nó biến mất dưới 13m nước khi các khoang chứa hàng được bơm ngập nước. Các món hàng như giàn khoan, tàu thuyền khi đó có thể cho thả nổi trước khi boong tàu Blue Marlin được nâng lên bằng cách làm trống các khoang chứa.

Đối với chuyến hàng hơn 20 chiếc xà lan, hãng điều hành đã phải chế tạo các giàn giữ đặc biệt cho Blue Marlin. Các xà lan được chia nhóm và thả nổi, rồi chất lên boong tàu thành nhiều lần.

Blue Marlin đang chở chuyến hàng "nhẹ" hơn gồm 2 tàu ngầm hạt nhân hạng Viktor III dọc bờ biển Nga. Ảnh: Daily Mail

Cho tới hiện tại, chuyến hàng lớn nhất của Blue Marlin là vận chuyển giàn khoan Thunder Horse của hãng BP, trị giá gần 1 tỷ USD và nặng 60.000 tấn, đi suốt quãng đường gần 25.750km từ Hàn Quốc tới Vịnh Mexico.

Blue Marlin được hạ thủy lần đầu tiên vào năm 1999 và hiện là tàu vận tải hạng nặng lớn nhất trên thế giới. Tuy nhiên, nó dự kiến sẽ bị tụt xuống vị trí thứ 2 khi người chị em Dockwise Vanguard, có trọng tải 110.000 tấn, chính thức rời xưởng đóng tàu ở Hàn Quốc vào cuối năm nay.

Tuấn Anh

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

"Sát thủ tàu sân bay" - siêu ngư lôi Squall


Kể từ cuối những năm 1970 của thế kỷ trước, hải quân Nga có một loại ngư lôi mà nếu so với loại thông thường và chiến thuật phổ biến thì chẳng khác nào so sánh cung tên cổ xưa với súng máy và đại bác. Đó là siêu ngư lôi Squall.

Đầu đạn hạt nhân mạnh chết người của siêu ngư lôi Squall.

Nga bắt đầu nghiên cứu chế tạo ngư lôi tốc độ cao từ năm 1963. Một năm sau đó, nguyên mẫu đầu tiên ra mắt tại hồ Issyk-Kul.

Mặc dù "tuổi thọ" lâu như vậy nhưng đến nay, nó vẫn không có đối thủ. Nhiều chi tiết của nó vẫn còn trong vòng bí mật.

Sự độc đáo của siêu ngư lôi này là tốc độ. Tốc độ ngư lôi thông thường là 60-70 hải lý, trong khi đó, Squall có thể phát triển với tốc độ 200 hải lý (370km/h hoặc 100 m/s) - một kỷ lục tuyệt đối cho các đối tượng dưới nước.

Ở trong nước, tốc độ như vậy không dễ ngăn chặn ở dưới nước. Tốc độ đó lớn gấp 1.000 lần so với trong không khí. Vì vậy, Squall sử dụng động cơ tên lửa đẩy.

Bộ tăng tốc nhiên liệu rắn khởi động với lực đẩy vài chục tấn, đẩy các quả ngư lôi với tốc độ sau 4 giây, sau đó cháy trở lại. Theo đó, tên lửa đẩy bắt đầu hoạt động.

Nó cũng dùng nhiên liệu phản ứng nước.

Nhưng, ngay cả các động cơ phản lực cũng không đủ khả năng để chống lực cản của môi trường nước ở tốc độ rất lớn. Điểm đặc biệt của Squall nằm trong hiệu ứng siêu xâm thực tạo bọt. Nó không nổi, mà bay trong bong bóng khí do chính nó tạo ra.

Tuy nhiên, sự ra mắt của Squall không thể ngụy trang: Nó tạo ra rất nhiều tiếng ồn, còn bọt khí nổi lên mặt nước thành dấu vết hoàn toàn có thể nhìn thấy.

Mỹ đôi khi gọi Squall là "sát thủ tàu sân bay" bởi một trong những tính năng của Squall là vô hiệu hóa tàu sân bay, hoặc thậm chí toàn bộ nhóm vận chuyển (đầu đạn hạt nhân ngư lôi giả định). Do đó, mặc dù khó tàng hình và "đơn giản" nhưng Squall rất khó để chống lại. Nhất là khi hai quả ngư lôi được phóng kép, trong vòng 100 giây, nó "bay" dưới nước tới mục tiêu nên tàu lớn hoặc tàu ngầm không thể đủ thời gian để đổi hướng hay tăng tốc, hoặc đưa ra bất kỳ biện pháp đối phó nào. Kết quả, Squall chỉ chệch khỏi mục tiêu không nhiều hơn 15-20 mét, với một đầu đạn hạt nhân mạnh chết người.

Nam Anh - Theo RUVR

Thứ Ba, 14 tháng 8, 2012

Quân cảng Cam Ranh, điều ít biết



Cách đây tròn 10 năm, ngày 4/5/2002, những người lính Nga cuối cùng đã bước chân lên tàu Xakhalin từ biệt căn cứ Cam Ranh, sau gần 25 năm có mặt tại nơi này.

(ĐVO) Cam Ranh đã được gửi lại cho Việt Nam, như một căn cứ nền tảng để trở nên hùng mạnh. Và dường như cho đến tận bây giờ, phần đông trong số chúng ta không thực sự biết gì nhiều về căn cứ ấy.

Ngày 23/4/2012, khi ba chiến hạm Mỹ cập cảng Tiên Sa, Đà Nẵng để bắt đầu hoạt động giao lưu, trao đổi hải quân “phi tác chiến” với Việt Nam, một hãng thông tấn nước ngoài đã bình luận, nếu các chuyến ghé cảng này được nói một cách công khai, có một khía cạnh hợp tác Mỹ – Việt khác ít được loan báo: Đó là chiến hạm Mỹ đã được gửi đến sửa chữa, bảo trì tại các cảng Việt Nam.

Tàu Hải quân Mỹ đã có lần được gửi đến sửa chữa tại các xưởng đóng tàu Việt Nam. Gần đây nhất, vào năm 2012, chiếc USNS Rappahannock (T-AO-204) đã có chuyến đến bảo trì tại Nhà máy Đóng tàu Cam Ranh.

Cán bộ vùng 4 Hải quân chụp ảnh lưu niệm với sĩ quan thủy thủ tàu khu trục Hải quân Nga tại Cảng Cam Ranh (năm 1982).

Một thông tin thú vị trong không khí biến động thời cuộc không ngừng của Biển Đông, Cam Ranh đã âm thầm phát triển, trở thành một tổ hợp hải quân và không quân hùng mạnh, với các trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại có thể đánh trả mọi đe dọa chiến tranh với Việt Nam, như lời Trung tướng, Viện sĩ A.V Phêđôrôvích nhận xét.

Lời vị Trung tướng hoàn toàn có cơ sở, bởi ông là một trong số những người Xô Viết có mặt ở Việt Nam từ những năm 1980 và ông không xa lạ gì với căn cứ Cam ranh.

Giới chuyên gia quân sự đã thừa nhận vị trí của Cam Ranh có tầm ảnh hưởng to lớn tới bản đồ địa – chiến lược toàn cầu, cho dù họ có đứng ở các chân trời quan điểm nào đi chăng nữa. Năm 1888, Hải hạm của Nga mang tên “Tráng sĩ” trong chuyến đi vòng quanh thế giới đã cập cảng Cam Ranh, sau đó, nơi đây đã trở thành quân cảng của các nước lớn thay nhau đồn trú trong vòng gần 100 năm trở lại đây. Trong cuộc chiến Nga – Nhật 1905, hơn 100 chiến thuyền thuộc Hạm đội Thái Bình Dương số 2 (Hạm đội Bantic khi làm nhiệm vụ ở Thái Bình Dương) của Hải quân Nga Hoàng đã từng tập trung tại Cam Ranh.

Năm 1935, thực dân Pháp bắt đầu cho xây dựng căn cứ hải quân tại Cam Ranh. Năm 1940, Cam Ranh rơi vào tay Nhật Bản, trở thành bàn đạp để Nhật Bản tiến đánh Malaysia và các quần đảo thuộc địa của Hà Lan (nay là Indonesia).

Ngày 18/10/1946, Cam Ranh là nơi diễn ra cuộc hội kiến giữa Hồ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cao ủy Pháp Dargenlieu. Cuộc gặp gỡ được tổ chức trên thiết giáp hạm Suffren, có các vị chỉ huy hải, lục, không quân Pháp và các nhà báo nước ngoài.

Trong bữa tiệc trên chiến hạm Suffren, khi DArgenlieu bóng gió nói: “Thưa ngài Chủ tịch, ngài thật đang bị đóng trong cái khung”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mỉm cười và trả lời: “Nhưng mà ngài Đô đốc biết đấy, chính bức tranh làm nên giá trị cái khung”. DArgenlieu lại nói: “Chủ tịch thật quen với biển cả, có lẽ xin tặng Người danh hiệu “Người thủy thủ nhỏ” như Quân đội Pháp đã quý mến tặng Napoleon cái tên “Người đội trưởng nhỏ!”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đáp lại: “Phải, người thủy thủ nhỏ của Hải quân Việt Nam”.

Từ năm 1965 đến 1972, Mỹ đã xây dựng Cam Ranh thành một căn cứ quân sự khổng lồ được coi là “bất khả xâm phạm” để làm cứ điểm tiếp liệu và khí tài quân sự cho chiến tranh, đồng thời khống chế hành lang phía tây Thái Bình Dương.

Vào năm 1969, Lyndon B. Jhonson đã đến thị sát căn cứ này, và đó là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng thống Mỹ khi tới Việt Nam. Lúc đó, căn cứ không quân của Mỹ ở vịnh Cam Ranh rất lớn, gồm hai sân bay cho máy bay phản lực và một sân bay cho máy bay trực thăng, mỗi sân bay có sức chứa hơn 100 máy bay.

Người Mỹ còn tiến hành khoét núi Cam Ranh, xây dựng kho chứa máy bay trong lòng núi, nâng cấp đường băng lớn có thể cho máy bay ném bom chiến lược B-52 cất và hạ cánh. Vào lúc cao điểm, sân bay quân sự Cam Ranh có tần suất hạ cánh và cất cánh cao nhất thế giới.

Năm 1972, người Mỹ trao lại căn cứ này cho Quân đội Sài Gòn và 3 năm sau Quân đội Nhân dân Việt Nam đã giải phóng Cam Ranh. Khi tiếp quản, Cam Ranh đã bị phá hủy hoàn toàn các bến neo tàu, đường sá, sân bay, hệ thống đường dây tải điện cũng như các khu nhà ở.

Hải quân Liên Xô tại Cam Ranh 1982

Chuẩn đô đốc E.I Prokôpievich, người cuối cùng lên cầu tàu thủy Xakhalin-9 rời Việt Nam năm 2002 trong cương vị Chỉ huy trưởng Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật 922 của Cam Ranh nhận định, căn cứ quân sự trước đây của Mỹ trên bán đảo Cam Ranh – Khánh Hòa đã thu hút sự chú ý Liên Xô bằng chính vị trí địa lý của nó, xét về mọi phương diện thì hoàn toàn ưu việt cho việc triển khai một căn cứ hải quân.

Nó cho phép khống chế các eo biển Malaysia và Philippines, có thể tiến hành trinh sát điện tử Biển Đông, biển Philippines, Đông Hải, thậm chí tới tận khu vực vịnh Ba Tư hay vùng bắc Ấn Độ Dương.

Bán đảo Cam Ranh bọc trong mình hai vịnh Bình Ba và Cam Ranh, nơi không chịu ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết, có độ lớn và sâu để có thể neo đậu mọi loại chiến hạm và tàu hộ tống, kể cả tàu sân bay.

Từ những năm 1960 của thế kỷ trước, Hải quân Liên Xô đã vươn ra biển lớn, bắt đầu tiến hành trực ban chiến đấu trên các đại dương. Tàu chiến, tàu ngầm, máy bay hải quân được triển khai trên các đại dương nhằm mục đích bình ổn cục diện chung. Việc mở rộng quy mô cũng như vùng hoạt động của tàu thuyền và không quân trên biển yêu cầu phải có mạng lưới hậu cần kỹ thuật hải quân rộng khắp.

Vì không có căn cứ quân sự ở nước ngoài nên Liên Xô đã xây dựng trạm cung ứng vật tư kỹ thuật trên lãnh thổ các nước có quan hệ thân thiện, đương nhiên Cam Ranh là một điểm sáng tô son. Cuối năm 1978, nhóm sĩ quan đại diện cho các tổng cục của Bộ Tư lệnh Hải quân và của Hạm đội Thái Bình Dương đáp máy bay sang Việt Nam để ngày 30/12 đã thỏa thuận xong và ký biên bản ghi nhớ làm cơ sở đàm phán xây dựng và cùng khai thác Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật.

Ngày 2/5/1979, Chính phủ LB CHXHCN Xô Viết và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã ký hiệp định về việc sử dụng Cam Ranh làm Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật cho Hạm đội Thái Bình Dương của quân đội Liên Xô – trong 25 năm.

Ngay ngày hôm đó, thi hành lệnh của Bộ tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô và Chỉ thị số 13/1/0143 của Cục Tham mưu hạm đội Thái Bình Dương ngày 28/8/1980 đã thành lập Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật trên bán đảo Cam Ranh mang phiên hiệu đơn vị 31350.

Theo quy định trong Hiệp định, tại quân cảng Cam Ranh cùng lúc có thể tập trung từ 8-10 tàu chiến Liên Xô, 4-8 tàu ngầm có khu neo nổi và tối đa 6 tàu hộ tống. Tại sân bay cùng lúc có thể tiếp nhận từ 14-16 máy bay mang tên lửa, 6-9 máy bay trinh sát do thám và 2-3 máy bay vận tải. Tùy theo tình hình chiến sự cụ thể, số lượng máy bay và tàu chiến có thể tăng lên theo thỏa thuận giữa hai Bộ Quốc phòng Liên Xô và Việt Nam.

Tháng 5/1979, các tàu chiến Liên Xô bắt đầu đi vào hải phận Cam Ranh. Mùa Hè năm đó, tàu ngầm nguyên tử phóng ngư lôi K-45 đã neo đậu tại Cam Ranh, sau đó ít lâu, các máy bay hải quân của hạm đội Thái Bình Dương bắt đầu hạ cánh.

Tháng 12/1979, Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô, Đô đốc X. Gorskốp tới Cam Ranh và ông đã dành hẳn một ngày để quan sát vịnh biển này, giống y như cách Tổng thống Mỹ Johnson đã tới để ngắm nhìn địa thế “sông núi nước Nam” 10 năm về trước.

Phân đội đầu tiên của Hạm đội Thái Bình Dương gồm 54 người đến đây tháng 4/1980 và tháng 8 năm đó quân số được bổ sung thêm 24 người thuộc bộ phận thông tin liên lạc.

Hải quân Liên Xô tại Cam Ranh 1982

Bộ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang và Chính phủ Liên Xô đã giao cho Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật 922 nhiệm vụ làm giảm nhẹ đáng kể áp lực cho Hạm đội Thái Bình Dương nói riêng và toàn bộ Hải quân Liên Xô nói chung trong việc cung cấp những dự trữ cần thiết cho các chiến hạm và tàu hộ tống đang làm nhiệm vụ tại Biển Đông trong tình hình chiến sự lúc đó của khu vực Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Và Cam Ranh trở thành căn cứ hải quân lớn nhất của Liên Xô ở nước ngoài, căn cứ duy nhất bên bờ Biển Đông, nơi cách cảng gần nhất của Nga 2.500 hải lý.

Từ mùa Thu năm 1983 đến tháng 8/1991, hải đoàn cơ động số 17 triển khai tại Cam Ranh, từ tháng 8/1991 đến tháng 12/1991 được thay thế bằng hải đoàn cơ động số 8 và sau đó là hải đội tàu hỗn hợp 119.

Thời điểm năm 1986, trên sân bay triển khai trung đoàn không quân hỗn hợp độc lập gồm 4 máy bay Tu-95, 4 chiếc Tu-142, phi đoàn máy bay Tu-16 khoảng 20 chiếc các loại, phi đoàn MiG-25 khoảng 15 chiếc, hai máy bay vận tải An-24 và 3 máy bay lên thẳng Mi-8. Ngoài ra trung đoàn còn quản lý và chỉ huy căn cứ chống tàu ngầm, tiểu đoàn tên lửa và tiểu đoàn kỹ thuật.

Tháng 2/1984, theo đề nghị của phía Việt Nam, Chính phủ Liên Xô quyết định khôi phục và xây dựng thêm một loạt công trình tại căn cứ Cam Ranh. Việc xây dựng Cam Ranh bước sang một giai đoạn mới, chuyển từ hình thức tự hạch toán kinh tế sang hình thức đấu thầu khoán gọn, bắt đầu giai đoạn xây dựng kiên cố thay cho các kết cấu lắp ghép tạm thời. N.M Zariphôvich – Phó tổng giám đốc Công ty Xây lắp Liên Xô tại Việt Nam giai đoạn 1987-1989 đã kể lại trong cuốn “Liên Xô – một từ không bao giờ quên” (Nguyễn Đình Long dịch) rằng, Cục kỹ thuật xây dựng nước ngoài thuộc Bộ Quốc phòng Liên Xô, đơn vị có nhiều kinh nghiệm xây dựng các công trình ở hơn 60 nước trên thế giới đảm nhiệm việc lựa chọn và đưa chuyên gia đến Cam Ranh. Họ là những chuyên gia tài năng của các đơn vị trong và ngoài quân đội được các tổ chức Đảng, Đoàn giới thiệu, được chở sang bằng đường hàng không qua Moscow hay Vladivostock theo hành trình Moscow – Tasken – Karachi (đôi khi là Bombay) – Kancútta – Hà Nội – Cam Ranh.

Dựng tượng lên bệ ngày 12/11/2009

Trên cơ sở Hiệp định ký giữa Liên Xô và Việt Nam ngày 20/4/1984, hai bên đã ký hợp đồng xây dựng cụm đài radar số ba, là công trình viện trợ không hoàn lại. Tính chung từ năm 1984 đến năm 1987, Tổng Công ty Xây lắp Liên Xô do E.X Bôprênhép làm Tổng giám đốc đã xây dựng tổng cộng 28 nhà ở và công trình chuyên dụng các loại. Lúc đó tổng số người Liên Xô sống trong khu quân sự là 6.000 người, kể cả công nhân xây dựng.

Theo thỏa thuận trong mục 71 của Hiệp định ký ngày 20/4/1984, các công trình xây dựng xong sẽ bàn giao cho phía Việt Nam sử dụng. Các hạng mục đầu tiên được xây dựng xong từ tháng 12/1987, sau đó các chuyên gia Liên Xô bắt đầu sử dụng theo hình thức thuê miễn phí.

Có thể thấy rằng, về cơ bản, các công trình được Liên Xô – Nga xây dựng ở Cam Ranh bao gồm: Khu nhà ở của Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật, trong đó có chỉ huy sở đơn vị 31350 và doanh trại cho quân số biên chế của đơn vị, nhà ăn 250 chỗ, lò bánh mỳ, tổ hợp tắm hơi – giặt là, CLB, trường phổ thông số 183, 18 tòa nhà ở, kho tổng hợp lưu giữ và cấp phát vật tư, đội xe (gồm cả xe chuyên dụng); Vùng bến nhỏ; Bể chứa ngầm thể tích 14.000m3 dùng để chứa nhiên liệu; hai hầm lạnh dung tích 270 tấn dùng để chứa thực phẩm lưu trữ; 12 kho khung sắt dùng để chứa các loại vật tư khác nhau; Hai bể lọc giếng khoan, một dùng cho sinh hoạt, một dùng cho chiến hạm và các tàu hộ tống; Trạm phát điện trung tâm công suất 24.000kW cấp điện cho tất cả các công trình thuộc khu quân sự và của Việt Nam trên bán đảo…

Khi từ biệt Cam Ranh, người Nga đã chở đi 588 người, 819 tấn hàng trong đó có 50 chiếc ôtô và xe chuyên dụng, 190 tấn dầu diezel, 133 tấn dầu mỡ các loại, vũ khí đạn dược cũng như tài liệu lưu trữ và tài liệu mật, bằng cả đường hàng không và đường biển. Đồng thời, người Nga bàn giao cho phía Việt Nam 57 tòa nhà và công trình thuộc căn cứ, 85km đường dây tải điện lưới, 62km đường điện cáp, 25km công trình ngầm, 250m cầu cảng, sân bay và hệ thống quản lý kho.

Những người Nga đã sống và làm việc như thế tại Cam Ranh. U.X Ivanôvích, Đại tá quân dự bị, cựu binh Cam Ranh kể lại rằng, cho đến tận năm 1992, khi Liên Xô tan rã, thủ tục ra vào khu quân sự vẫn do phía Việt Nam quy định.

Theo thỏa thuận, mỗi tháng chỉ cho phép 4 chuyến xe đi ra ngoài theo kế hoạch định trước với số lượng người hạn chế, chủ yếu là dành cho thủy thủ Hạm đội Thái Bình Dương. Còn đối với số nhân viên kỹ thuật của Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật thì do “nhiều yếu tố” nên ra “vùng tự do” là vi phạm luật. Những người lính Nga đã ra đi, nhưng những hình ảnh của họ còn đọng lại mãi trong lòng nhân dân Việt Nam.

Năm 2007, Hội đồng Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro đã quyết định xây dựng tượng đài những người lính Nga ở Cam Ranh và đó là tượng đài của tình hữu nghị Việt – Nga.

(Nguồn Đất Việt)

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012

Đọc blog bạn : TRƯỜNG SA ĐÔNG NHỚ TRƯỜNG SA TÂY


Mai Thanh Hải - Vinh quê Thanh Hóa, là Thượng úy, Phân đội trưởng chiến đấu trên đảo Trường Sa Đông, khi chỉ huy bộ đội đẩy xuồng chúng mình vượt khỏi bãi cạn lúc nước triều xuống, tuy mệt đứt hơi, thở hổn hển nhưng vẫn cười tươi, răng trắng lấp lóa trên gương mặt đen nhẻm, giống y quảng cáo kem đánh răng và hát to: "Đường ra trận mùa này đẹp lắm. Trường Sa Đông nhớ Trường Sa Tây!".

Trường Sa Đông thì sừng sững hiên ngang bên quần đảo đây rồi. Còn Trường Sa Tây?. Vinh cười, răng vẫn trắng lấp lóa: "Ngoài này, chiều chiều nhìn về phương mặt trời lặn phía Tây. Đó là đất liền đó anh!". Ừ! Gọi đất liền là Trường Sa Tây, cũng có gì là sai đâu?..
Năm trước mình ra Trường Sa Đông, ở ngoài sân vẫn còn mấy cây phong ba mọc la đà mặt đất, trên đó có treo mấy cái võng, ngồi rất thích.

Năm nay ra, có lẽ do tiến nhanh lên "chính quy hiện đại", nên chỉ huy đảo chặt béng mấy cây đó, lấy diện tích làm nơi chào cờ, nghi lễ, bộ đội chơi thể thao... nên mình mất chỗ ngồi võng ngắm đảo quen thuộc, tiếc tiếc là.

Định dạng về Trường Sa Đông, phải nói rõ thế này: Đảo nằm ở 8055’ vĩ độ Bắc; 122021’ kinh độ Đông, cách đảo Đá Tây 8,5 hải lý về phía Bắc, cách đảo Đá Đông 12 hải lý về phía Tây Bắc và nằm trên phía Đông của bãi san hô ngập nước, dài khoảng 1 hải lý.

Lịch sử Hải quân Việt Nam ghi rõ: Tháng 3/1978, tình hình khu vực quần đảo Trường Sa có nhiều diễn biến phức tạp, các nước trong khu vực tăng cường hoạt động thăm dò bằng máy bay, tàu thuyền xâm phạm các đảo chúng ta đang đóng giữ.

Trước tình hình đó, Đảng uỷ Quân chủng Hải quân đã ra Nghị quyết chỉ rõ “Phải tập trung, khẩn trương mọi nỗ lực cao nhất của toàn Quân chủng vào việc chuẩn bị chiến đấu, sẵn sàng đánh thắng kẻ thù xâm lược, giành cho được thắng lợi từ trận đầu, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc”.

Chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng, ngày 4/4/1978, tàu HQ-681 thuộc Lữ đoàn 125 đưa 19 cán bộ, chiến sỹ do đồng chí Nguyễn Trung Cang, Tham mưu trưởng Trung đoàn 146 chỉ huy 1 lực lượng ra đóng giữ đảo.

Ngày 19/4/1978, một lực lượng khác gồm 17 cán bộ chiến sĩ, ra thay cho bộ phận của đồng chí Nguyễn Trung Cang. Chỉ huy trưởng lúc này là đồng chí Bùi Xuân Nhã.

Do làm tốt công tác giáo dục, quán triệt và xác định tốt nhiệm vụ, sau gần một tháng khẩn trương xây dựng trận địa, công sự chiến đấu hoàn tất, đời sống cán bộ, chiến sỹ ổn định, khắc phục khó khăn quyết tâm bám trụ, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Đảo chạy dài theo hướng Đông-Tây. Trên đảo không có giếng nước ngọt.

Để trồng cây và rau xanh, cán bộ, chiến sỹ trên đảo phải vận chuyển từng bao đất nhỏ trong đất liền ra, tận dụng vật liệu xây dựng che chắn bồn rau, tiết kiệm từng giọt nước ngọt ươm mầm cây xanh.

Trải qua hơn 3 thập kỷ sau ngày giải phóng với ý chí và nghị lực của cán bộ, chiến sỹ nơi đây, đảo Trường Sa Đông đã được cải tạo từ đảo bãi đá san hô cằn cỗi trở thành một hòn đảo xanh tươi, rợp bóng mát của các loại cây như bàng vuông, phong ba, muống biển...

Cũng từ những khó khăn trong việc tăng gia, với nghị lực, sự sáng tạo của người lính canh biển, cán bộ, chiến sỹ đảo Trường Sa Đông đã thiết kế thành công lò ấp trứng gia cầm, thủy cầm đầu tiên trên quần đảo Trường Sa.

Đến nay, cán bộ, chiến sỹ đảo Trường Sa Đông là một trong những đơn vị dẫn đầu trong phong trào tăng gia, chăn nuôi của Lữ đoàn 146. Năm 2010, tổng sản lượng tăng gia của đảo đạt trên 100 triệu đồng. Trong đó, rau xanh 15.610 kg, cá các loại 300 kg và thịt gia súc, gia cầm trên 2.000 kg.

Hơn 30 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành cán bộ, chiến sỹ đảo Trường Sa Đông đã lập được nhiều thành tích xuất sắc: Năm 1982, đảo được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhất, nhiều năm được Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân tặng danh hiệu “Đơn vị quyết thắng” và các Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế tặng Bằng khen.

Nửa ngày ở Trường Sa Đông, mấy đồng hương Hải Phòng chúng tìm tụ tập tìm nhau và la cà đến giường ngủ của từng người, để gọi là... thăm nhà.
Các đồng hương dẫn mình ra vườn rau xem lá rau mồng tơi to bằng bàn tay, nháy mắt cười: "Chục lá rau là đủ nồi canh cho cả phân đội!", hình như để mình quên đi nỗi băn khoăn, khi vào bếp ăn, thấy ghi trên bảng toàn thịt hộp, rau hộp, quả hộp... đến hoa cả mắt vì chữ hộp.

Lang thang ra bãi cát rìa đảo, túm tụm ngồi trên xác chiến xe tăng han rỉ, cùng nhìn qua biển về phía Tây, nơi mặt trời đang nhúng chân chờ tắm và kể nhau nghe về những góc đường, nóc phố thân quen của thành phố "Hoa cải đỏ", tự dưng thấy đất liền được kéo lại thật gần, như trước mắt những thằng con trai Đất Cảng đang ngồi vỉa hè với bia cỏ, vi na gôn...

Chia tay nhau, các đồng hương hè nhau bế tọt mình lên xuống và ghé vai đẩy xuồng cùng chiến sĩ, hòa với nhau lời hát: "Đường ra trận mùa này đẹp lắm. Trường Sa Đông nhớ Trường Sa Tây", lấy sức cho đáy xuồng sượt qua cát sạn, đá san hô rơi nhẹ xuống lạch nước sâu ra với con tàu HQ.

Vẫy tay chào nhau, người ngâm mình dưới nước, kẻ kiễng chân vẫy đến mỏi tay trên xuồng, cứ rưng rưng nhớ lại hình ảnh: Chị Yên Hưng, một nhà khoa học bên Viện Nghiên cứu KHKT Nông nghiệp ra Trường Sa để tìm thuốc, chống sâu hại cây lá - rau cỏ trên đảo, ngồi trên xuồng cứ nắm chặt tay cậu chiến sĩ sinh năm 1992, bằng tuổi con trai, đang gò lưng đẩy xuống dưới biển và thút thít khóc vì thương lính trẻ bé bỏng...

Hình như, nhưng khoảnh khắc thân thương này đã kịp in dấu trong tâm tưởng những người ra với Trường Sa, để họ thực sự thấm thía tâm cảm của con người, qua câu hát: "Trường Sa Đông nhớ Trường Sa Tây", vẫn thường bật lên trong mắt những người lính biển, cứ mỗi buổi chiều nhìn về phía Tây, nhung nhớ đất liền...

Tạm biệt nhé! Và sẽ gặp lại cùng nhau!. Ơi Trường Sa Đông!..
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Phía trước là Trường Sa Đông
Điện gió trên đảo
Xuồng CQ tuần tra quanh đảo
Biển quanh đảo, trong vắt đến lạ kỳ
Chào cở Tổ quốc, trên đảo thân yêu
Chồi xanh - lính trẻ
Gác bên cột mốc chủ quyền
Trực canh trên đài quan sát
Làm dáng với lính trẻ
Chỗ để bàn chải, kem đánh răng
Bếp nấu ăn
Thế này, dễ dùng nhầm lắm
Lá mồng tơi to bằng bàn tay mình
Nước là máu
Rau muống biển bao quanh đảo
Gợi nhớ lại những tháng năm chiến đấu giữ đảo
Đội Gang thép Thái Nguyên nhìn thấy, chắc tiếc lắm
Các chị đồng nát mà ra, thì có mà...
Đẩy xuồng ra nào
Mẹ và con
Chia tay nhé! Trường Sa Đông.
Mai Thanh Hải