Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2014

Việt Nam đang "làm việc" với vũ khí?


.


(Quốc phòng Việt Nam) - Chắc chắn nhiều chuyên gia quân sự không chỉ của đối thủ tiềm tàng mà cả trên khu vực đang dành sự quan tâm của họ đến sách lược hiện đại hóa quân đội của Việt Nam.


Đường lối chiến lược thì rõ rồi, Việt Nam ưu tiên, tiến thẳng lên hiện đại các lực lượng Hải quân, Không quân, Thông tin liên lạc, Radar, trinh sát, Tác chiến điện tử…Nhưng “như thế nào” hay nói cách khác, sách lược ra sao để phù hợp với tình hình cụ thể, thực tế mới là chuyện cần bàn.
Mua sắm, chế tạo vũ khí trang bị phải như thế nào để không thay đổi nghệ thuật quân sự bản sắc dân tộc mà làm cho nghệ thuật quân sự được thăng hoa, phát triển lên tầm cao mới…chính là nghệ thuật, là sách lược.
Vũ khí của Việt Nam chỉ để bảo vệ Tổ quốc!
Trên khu vực châu Á-TBD có quốc gia nào xây dựng quân đội ngoài nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc? Có lẽ chỉ có Trung Quốc và Mỹ, còn lại đều phải như vậy, chỉ là để bảo vệ Tổ quốc.
Nhưng đâu phải quốc gia nào cũng giống nhau. Có quốc gia liên minh quân sự với nước lớn để trông chờ vào sự hỗ trợ về quân sự từ hướng, lĩnh vực nào đó; có quốc gia bảo vệ Tổ quốc bằng mồ hôi, sức lực (để có tiền mua sắm các loại vũ khí trang bị) và bằng máu của mình…
Việt Nam nhất quán tuyên bố với thế giới: trang bị vũ khí  là để bảo vệ Tổ quốc.
Đừng sơ sài với điều này khi cho rằng không nói ai cũng biết. Đây thật ra là gốc rễ sâu bền của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong mọi thời đại.
“…chỉ là để bảo vệ Tổ quốc” có nghĩa là khu vực tác chiến (chiến trường) chủ yếu xảy ra trên lãnh thổ, lãnh hải và không phận của chúng ta, do vậy tất cả mọi vũ khí trang bị mua sắm, chế tạo phải làm sao phát huy được lợi thế và phù hợp nghệ thuật quân sự Việt Nam mà đỉnh cao là nghệ thuật chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.
Nghệ thuật tổ chức xây dựng lực lượng (biên chế, quân số, trang bị) cũng từ đây, xây dựng lối đánh cũng từ đây, chiến thuật kết hợp công nghệ cũng từ đây…
Chính bắt nguồn từ nguồn gốc này mà Việt Nam luôn tạo ra sự khác biệt mang tính độc đáo hay là sáng tạo như giới phân tích quân sự thường gọi, nhưng, thực ra đây là kết quả tất yếu khách quan mà vào hoàn cảnh như Việt Nam thì quốc gia nào cũng phải có sách lược tương xứng.
Hiểu được như vậy thì chúng ta không phải đặt câu hỏi tại sao Việt Nam lại quan tâm đến vũ khí loại này mà không loại kia (tất nhiên cũng chỉ hỏi những loại vũ khí trang bị được minh bạch trên báo chí trong thời gian qua thôi).
Tại sao Việt Nam không mua sắm xe tăng hiện đại?
Người ta thắc mắc tại sao Quân đội Việt Nam chỉ tiến thẳng lên hiện đại gồm các lực lượng: không quân, hải quân…còn lục quân? Phải chăng Việt Nam đánh giá vai trò của lục quân trong tình hình mới đã giảm bớt hay nguy cơ thách thức an ninh trên bộ không lớn?
Về lý thuyết cũng có thể là như vậy bởi biên giới trên bộ với các láng giềng chúng ta có thể coi là ổn. Hơn nữa, một thực tế là thế giới đã từng công nhận, dù chưa tiến thẳng lên hiện đại thì lục quân Việt Nam vẫn mạnh nhất khu vực ĐNA, là lực lượng bất bại.
Lục quân Việt Nam đã từng đối đầu với một lực lượng mạnh nhất (Mỹ) và đặc biệt, đông nhất, bởi vậy, mạnh yếu, sở trường sở đoản của nhau, chiến trường, kinh nghiệm…khiến Việt Nam có đủ sự tự tin. Tuy nhiên, dù không “ồn ào” như không quân, hải quân, nhưng sự chuẩn bị sẵn sàng của lục quân cũng đầy trí tuệ và bản lĩnh.
Nếu hiện đại hóa lục quân thì chủ yếu 2 mặt là pháo binh, tên lửa các loại và xe cơ giới (xe tăng, xe bọc thép) thì quan điểm, nhận thức chúng ta như thế nào?
 Trung Quốc sở hữu khoảng 4.000 xe tăng Type 96 và Type 99.
Trung Quốc sở hữu khoảng 4.000 xe tăng Type 96 và Type 99.
Biết rằng chiến tranh hiện đại chủ yếu là các cuộc xung đột quân sự trong thời gian ngắn với cục diện chiến trường được quyết định bằng sức mạnh hỏa lực, do đó, các nước trên thế giới vẫn liên tục cải thiện sức mạnh tác chiến của lực lượng tăng thiết giáp.
Trung Quốc có hơn 4.000 chiếc xe tăng hiện đại. Nếu đối phương huy động hàng trăm xe tăng chiến đấu chủ lực hiện đại cùng bộ binh cơ động tấn công trên bộ thì lục quân Việt Nam sẽ lấy gì để chống lại chiến thuật xe tăng của đối phương? Và nếu có thì cần có bao nhiêu xe tăng chiến đấu chủ lực hiện đại để đối đầu?
Việt Nam không đủ sức và nếu có cũng chẳng dại gì tổ chức xây dựng lực lượng phòng thủ theo hướng đó cho lãng phí mà thiếu hiệu quả.
Thứ nhất, trên chiến trường Việt Nam (biên giới), xe tăng nhiều hay ít không quan trọng trong tư duy quân sự của Bộ Tham mưu Việt Nam. Bởi lẽ, không bao giờ có chuyện ào ào hàng trăm, ngàn xe tăng như trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 tràn vào lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam không phải là sa mạc và xe tăng dù hiện đại bao nhiêu cũng không thể “leo núi” được.
Thứ hai, Việt Nam không coi trọng sự hiện đại của xe tăng từ vũ khí tiên tiến của nó như bắn xa, diệt mục tiêu trên 5000m hay “vũ khí lade” như Trung Quốc quảng cáo cho xe tăng của họ… mà coi trọng hơn hiệu quả trên chiến trường.
Xe tăng T54/55 là thế hệ xe tăng đã chứng minh tính hiệu quả trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, tính năng kỹ chiến thuật, trọng lượng, thiết kế khá phù hợp với địa hình nhiều rừng núi, đường xá nhỏ hẹp hoặc đồng ruộng lầy lội như ở Việt Nam. Vì thế nó là thứ vũ khí lợi hại mà chúng ta cần, cho nên, nâng cấp, cải tiến loại xe tăng này là phương án khả thi nhất, khôn ngoan nhất.
Phủ nhận vũ khí trang bị hiện đại tiên tiến của xe tăng là tự sát, ai chẳng biết, chẳng thích T-90 của Nga và các loại xe tăng hện đại khác, nhưng trong chiến trường Việt Nam, điều kiện Việt Nam thì chúng ta không mua và nếu sản xuất được cũng không sản xuất bởi vì nó rất đắt tiền trong khi đó sản xuất, chế tạo ra vũ khí để diệt nó lại rẻ hơn và…
Thứ ba là ở chiến trường Việt Nam, xe tăng hiện đại, đắt tiền rất khó sống. Người Việt Nam có quyền tin rằng, tất cả con đường nào mà xe tăng địch có thể đi qua, vị trí nào mà chúng tập trung hay phân tán đều nằm trong dữ liệu pháo binh tầm gần cũng như tầm xa và các bãi mìn chống tăng của các quân khu, quân đoàn chủ lực phòng thủ.
Chưa cần trúng phải một quả đạn pháo 130 ly, một quả 105 ly thôi thì xe tăng đắt tiền đến mấy cũng trở thành quan tài sắt hoặc mất sức chiến đấu hoàn toàn khi hệ thống cảm biến, kính ngắm bên ngoài xe tăng bị hỏng nặng…
Pháo binh, mìn là vũ khí thuộc dạng “không thông minh”, không tự tìm đến mục tiêu… nhưng phát huy hiệu lực đạt hiệu quả rất cao khi cấp tập hay cài vào các tọa độ đã định sẵn.
Pháo tự hành 105 ly trên bánh lốp, tầm bắn 11,5 km do Việt Nam chế tạo đã thu hút nhiều sự quan tâm của giới quân sự nước ngoài.
Pháo tự hành 105 ly trên bánh lốp, tầm bắn 11,5 km do Việt Nam chế tạo đã thu hút nhiều sự quan tâm của giới quân sự nước ngoài.
Như vậy trong vấn đề xe tăng, Việt Nam quan tâm và ưu tiên mua sắm chế tạo ra vũ khí để tiêu diệt nó hơn là mua sắm xe tăng hiện đại để đối đầu.
Vũ khí “thông minh” và vũ khí do con người thông minh, gan dạ, dũng cảm sử dụng, kết hợp sẽ là đối thủ đáng gờm nhất mà các loại xe tăng hiện đại của địch phải đối phó. Đây cũng chính là tư tưởng, nghệ thuật chiến tranh du kích được phát triển cao trong chiến tranh hiện đại.
Nhưng Việt Nam lại mua sắm tàu ngầm…

Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy tư duy về xe tăng khác với tư duy về tàu ngầm của các nhà quân sự Việt Nam.
Cho rằng vì Việt Nam đưa lực lượng Hải quân tiến thẳng lên hiện đại nên phải mua…là hơi khiên cưỡng.
Trong khi đối phương có gần trăm chiếc tàu ngầm hiện đại, đủ loại lớn nhỏ thì Việt Nam vẫn mua sắm 6 chiếc tàu ngầm KILO mà không ưu tiên trước cho mua sắm, tổ chức lực lượng săn ngầm… khiến nhiều người (nhà quân sự nước ngoài) cho là “chu trình ngược”.
Và xem ra nó hoàn toàn ngược với sách lược để đối đầu với xe tăng.
Tiêu diệt xe tăng hiện đại của địch bằng các phương tiện như pháo binh, mìn chống tăng và các loại vũ khí khác…Việt Nam có vô vàn lợi thế. Bất cứ lực lượng nào trong thế trận chiến tranh nhân dân cũng có thể bắn cháy hoặc làm hư hỏng xe tăng. Nhưng săn ngầm bằng máy bay, bằng tàu mặt nước thì còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà báo Đất Việt đã đăng trong bài viết “Mục tiêu của tàu ngầm Việt Nam trên Biển Đông”.
Chỉ cần phân tích 2 vấn đề tàu ngầm và xe tăng và đương nhiên sẽ còn nhiều loại vũ khí trang bị bí mật khác nữa…chúng ta đã thấy được phần nào sự chuẩn bị cho sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc đầy trí tuệ, bản lĩnh của các nhà quân sự Việt Nam.
Vũ khí tiên tiến hiện đại dù không phải do mình tự sản xuất chế tạo, nhưng trong tay Việt Nam nó hoàn toàn mang bản sắc Việt Nam, nó phát huy tác dụng theo nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Lê Ngọc Thống

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

Trần Hoá, một ngừoi bạn đồng đội đã đi xa.


Sau một thời gian dài chống chọi với bệnh tật,đêm qua 23h 02 phút Trần Hoá ngừoi bạn đồng đội thân thiết của chúng ta đã đi xa.Chúng ta không thể quên đựoc ngừoi đồng đội quê Bình Định lúc nào cũng vui đùa hồn nhiên ,trẻ trung so với tuổi đời !Năm 2008 tôi từ trong Nam ra Hải phòng có nhắn tìm gặp anh.Nghe tin có bạn đồng đội cũ ra mặc dù vừa qua một cơn tai biến khiến giọng nói còn khó khăn,nhưng anh vẫn đến tham dự đến phút cuối cùng.Sau một thời gian nghe nói anh lại bị tai biến lại và nằm luôn.Biết rằng  rồi ai cũng phải đi đến chặng cuối của cuộc đời ,nhưng mỗi lần nghe tin một ngừoi quen,nhất là những ngừoi bạn đã cùng ta trải qua những chặng đuòng khó khăn ,gian khổ tim ta lại nhói lên ,cảm thấy hụt hẫng ,cô đơn như mất đi một cái gì quý giá nhất !Anh ra đi khi vừa bứoc qua tuổi 64.Vĩnh biệt anh Hoá bẹp nhé , ngừoi đồng đội của chúng tôi.





Trần Hoá đứng thứ 3 từ phải qua .Hình chụp năm 1974 tại căn cứ trung đoàn 172.



Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014

Đào tạo sĩ quan chỉ huy tàu ngầm ở Nga


TT - Sĩ quan chỉ huy tàu ngầm học hành bài bản, trải qua sàng lọc kỹ càng. Ứng viên chỉ huy sẽ được xem xét nhiều yếu tố: thời gian phục vụ, trình độ bơi lội, kiến thức chiến trường, sự thăng tiến...
Ông Dmitry Medvedev (giữa), khi còn làm tổng thống thăm một tầu ngầm của Nga.
Trước đây các học viện quân sự của hải quân Nga đào tạo ra sĩ quan nhưng trên bằng cấp ghi là “trưởng ban trực chiến”. Trên các tàu hải quân họ đảm nhận các chức vụ chỉ huy (hoa tiêu) cấp 1, 2 hoặc 3. Sau khi hoàn thành khóa học theo chuyên ngành, các sĩ quan có thể ngay lập tức trở thành chỉ huy tàu ngầm.
Sau này, khi số lượng khí tài trang bị trên tàu ngầm tăng lên đáng kể, các học viện đã chuyển sang đào tạo sĩ quan theo nhiều chuyên ngành khác nhau như hoa tiêu, tên lửa, thủy lôi... và sau đó một vài trong số đó sẽ được lựa chọn làm sĩ quan chỉ huy tàu.
Bài học từ thất bại
Khác biệt với sĩ quan chỉ huy tuần dương hạm (tàu nổi)
Trước hết, sĩ quan chỉ huy tàu ngầm hạt nhân chiến lược có uy tín, vị thế cao hơn so với chỉ huy tàu nổi, ngoại trừ chỉ huy các tàu sân bay. Chỉ huy tàu ngầm hạt nhân có thể giải quyết những nhiệm vụ mang tính chiến lược nhờ các loại vũ khí chiến lược có trên tàu. Trong khi đó, chỉ huy tàu nổi chỉ có thể thực hiện những nhiệm vụ chiến thuật. Chỉ huy tàu ngầm hạt nhân chiến lược có thể được xem như cá nhân có thể tự mình khơi mào chiến tranh, thực hiện các hoạt động quân sự có sử dụng vũ khí hạt nhân, hủy diệt một quốc gia hay giành thắng lợi trong một cuộc chiến nào đó.
Đã có một vài chương trình thí điểm, theo đó vị trí chỉ huy tàu được giao cho những sĩ quan chuyên ngành điện tử hay thậm chí là hóa học. Và tất cả đều không thành công. Khi phân tích những tai nạn và sự cố xảy ra, người ta nhận thấy một điều: nếu chỉ huy tàu được chọn từ sĩ quan hoa tiêu thì không có sự cố nào xảy ra liên quan đến định vị hàng hải; nếu chỉ huy tàu chọn từ sĩ quan tên lửa hay thủy lôi thì không xảy ra sự cố nào liên quan đến vũ khí, và các vụ bắn thủy lôi hay tên lửa đều được thực hiện hoàn hảo.
Tuy nhiên, vẫn còn một dạng chỉ huy nữa là chỉ huy tàu ngầm hạt nhân, những người được chọn từ sĩ quan chuyên ngành động cơ diesel. Cuối những năm 1950, đầu 1960 là thời gian hình thành các hạm đội tàu ngầm hạt nhân. Khi đó một hạm đội tàu ngầm bao gồm cả trăm chiếc tàu ngầm động cơ diesel loại M thiết kế (project) 615, loại C project 613 hay loại B project 611 (614) với các biến thể khác nhau.
Khi đó tồn tại một trật tự như sau: chỉ huy tàu ngầm diesel loại M thường được cân nhắc lên vị trí chỉ huy tàu hạng trung (loại C) project 613, sau đó trở thành chỉ huy tàu hạng nặng (loại B) project 611 hay 614. Và từ số đó chọn ra những sĩ quan chỉ huy tàu ngầm hạt nhân cấp I.
Thực tế cho thấy đó là một giải pháp đúng đắn, kỹ lưỡng. Trong thời gian 10-15 năm phục vụ trên tàu ngầm, các sĩ quan chỉ huy cấp I đảm nhận vị trí chỉ huy từ 7-10 năm. Lối tư duy, suy nghĩ của họ khác hoàn toàn so với những sĩ quan chỉ huy đi lên từ vị trí chỉ huy nhóm đến vị trí chỉ huy tàu. Những sĩ quan chỉ huy cấp I thường có nhiều kinh nghiệm phục vụ ở vị trí chỉ huy tàu, nhưng họ không giỏi lắm về những chi tiết trong hệ thống năng lượng điện và các loại vũ khí tên lửa mới. Họ phải được tiếp tục đào tạo về những vấn đề đó trên bờ cũng như trên biển.
Kiến thức chuyên ngành, kỹ năng trên biển, kinh nghiệm thực tế, sự phát triển chung và văn hóa, sự tôn trọng dành cho thuộc cấp, khả năng bảo vệ ý kiến của mình trước cấp trên... tạo nên uy tín của người chỉ huy tàu ngầm. Sĩ quan chỉ huy phải chịu trách nhiệm về an toàn di chuyển của tàu, phải chỉ huy con tàu một cách dũng cảm, quyết đoán, mạnh mẽ, không sợ chịu trách nhiệm về những chuyển động mạo hiểm và quyết định gây tranh cãi của mình.
Chỉ huy là người ưu tú nhất
Chỉ huy tàu ngầm là một phạm trù quân sự đặc biệt. Mắt xích trung tâm giữ cho hạm đội tàu ngầm hoạt động không phải là những sĩ quan chỉ huy đơn vị hay chỉ huy phân hạm tàu ngầm trong hạm đội, mà chính là sĩ quan chỉ huy các tàu trong hạm đội.
Số tai nạn và sự cố tàu ngầm có thể giảm rất nhiều nếu như giải quyết được bài toán nâng cao chất lượng đào tạo sĩ quan chỉ huy tàu ngầm. Để nâng cao chất lượng, khi một ứng viên được đề bạt vào vị trí chỉ huy tàu ngầm người ta sẽ xem xét rất nhiều yếu tố, ví dụ như thời gian phục vụ trên tàu ngầm, trình độ bơi lội, kiến thức chiến trường, sự thăng tiến và thời hạn nhận quân hàm các bậc trong thời gian phục vụ, phản ứng của sĩ quan đối với những thay đổi tình huống khi tàu chạy với vận tốc tối đa, biểu hiện và hành động khi có sự cố hay tai nạn (nếu từng trải qua), những thành công đạt được trong khi đảm nhiệm các chức vụ trước đó, điểm số các bài tập kiểm tra, sai sót và khuyết điểm trong thời gian giữ chức vụ chỉ huy tạm thời, ưu điểm so với những ứng viên khác và nhận xét của chỉ huy những tàu ngầm khác.
Hiện nay ở Nga, ngoài việc học tại các trung tâm huấn luyện thủy thủ tàu ngầm, êkip điều khiển tàu ngầm phải nghiên cứu các kỹ thuật quân sự ngay trong thời gian chiếc tàu ngầm (mà sau này họ lái) đang được chế tạo trong xưởng. Sự hợp tác như thế giữa êkip điều khiển tàu và đội ngũ chế tạo đem lại rất nhiều lợi ích cho họ.
Khi thực hiện các bài kiểm tra điều khiển tàu, một sĩ quan chỉ huy phải tường tận đến từng chi tiết các bộ phận, thiết bị của tàu. Không có bất cứ một hệ thống hay cơ quan máy móc nào là ngoại lệ. Họ phải nắm rõ nguyên lý hoạt động của chúng. Ngoài ra mỗi sĩ quan phải biết rõ ràng, tường tận chi tiết về tất cả thành viên của êkip điều khiển: họ tên, quê quán, năm sinh, đặc điểm, hoàn cảnh gia đình... Việc đào tạo, chuẩn bị cho sĩ quan chỉ huy về tinh thần, tâm lý cũng hết sức quan trọng và được thực hiện ở mức cao nhất với tất cả những ứng dụng tâm lý học hiện đại nhất.
Tiến sĩ NGUYỄN NHƯ MẪN
(giảng viên Đại học Hàng không Matxcơva)