Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2013

Tàu phóng lôi cánh ngầm Việt Nam trong hải chiến hiện đại.

(ĐVO) - Xây dựng và củng cố, phát triển và đào thải lực lượng bao gồm tổ chức, vũ khí trang bị và con người… như thế nào cho phù hợp với nghệ thuật quân sự Việt Nam, phù hợp với điều kiện chiến tranh hiện đại, phù hợp với tình hình đất nước trong bối cảnh Biển Đông hiện nay là một cuộc đấu trí căng thẳng của các nhà quân sự chiến lược Việt Nam.


Từ kinh nghiêm, kết quả của 2 trận đánh của tàu phóng lôi (PL) trong chiến tranh chống Mỹ, một số các nhà phân tích, quân sự, cho rằng khi tàu địch có vũ khí tấn công xa hàng trăm km thì kiểu “đánh gần” như của tàu PL là không còn giá trị trong hải chiến hiện đại và tàu PL Việt Nam ngày nay đã “hoàn thành sứ mạng lịch sử”, cần loại bỏ khỏi biên chế của Hải quân.
Thực tế, Hải quân Việt Nam đã chuyển hết tàu PL dạng Shershen sang lực lượng Cảnh sát biển thời kỳ đầu mới thành lập (và bây giờ CSB cũng ít điều loại tàu này đi làm nhiệm vụ). Tuy nhiên, chưa có dấu hiệu nào cho thấy tàu PL cánh ngầm bị loại khỏi biên chế. Phải chăng giá trị chiến thuật của tàu PL cánh ngầm vẫn còn nhiều ý nghĩa với Bộ TM Hải quân Việt Nam?
Tàu phóng lôi cánh ngầm Hải quân Việt Nam. Vận tốc 45M/h. 4 ống phóng với ngư lôi kiểu 53A (loại chuyên diệt tàu mặt nước). Pháo AK 76 (sau) và pháo 25 ly (trước)trong tay Việt Nam vẫn là một lực lượng đáng gờm.
Tàu phóng lôi cánh ngầm Hải quân Việt Nam. Vận tốc 45M/h. 4 ống phóng với ngư lôi kiểu 53A (loại chuyên diệt tàu mặt nước). Pháo AK 76 (sau) và pháo 25 ly (trước)trong tay Việt Nam vẫn là một lực lượng đáng gờm.
Hải chiến ngày xưa thì lực lượng của hai bên thường tìm cách tiếp cận nhau với những góc mạn thuận lợi để phát huy hỏa lực, gặp nhau là bắn nhau như vãi đạn.
Hải chiến hiện đại ngày nay thì khác, các lực lượng này hiếm khi đối mặt nhau mà chỉ tiêu diệt nhau khi khoảng cách còn rất xa.
Vì thế kẻ nào nhìn xa hơn, vũ khí có tầm bắn xa hơn, độ chính xác cao hơn là kẻ đó thường chiếm ưu thế là rõ ràng không bàn cãi.
Tuy nhiên, đó chỉ là lý thuyết. Hãy xem diễn biến và kết quả của trận hải chiến hiện đại gần nhất vào tháng 10/1973 giữa hải quân Israel với Ai cập và sau đó là Syria.
Tàu tên lửa của hải quân Ai Cập và Syria tầm bắn lớn hơn tàu tên lửa của Israel gấp 2,5 lần. Tàu tên lửa Ai-Cập cách tàu tên lửa Israel 125 km là có thể sử dụng hỏa lực, trong khi đó tàu tên lửa Israel muốn sử dụng hỏa lực phải vượt qua một chặng đường 75 km trong tầm lửa đạn của tàu tên lửa Ai- cập.
Đây là ưu thế chiến thuật hết sức “quyến rũ”, nên thường khiến cho những vị tướng “bàn giấy” hung hăng, hoanh hoang sức mạnh, coi thường đối phương là thế. Nhưng thực tế là…
Khi tàu tên lửa của Ai Cập và Syria tấn công ngoài tầm hỏa lực của tàu tên lửa Israel nhưng không trúng mục tiêu, vì chiến thuật vận động tiếp cận và gây nhiễu rất tốt của tàu tên lửa Israel. Điều đó có nghĩa là tàu tên lửa Israel vận động tiếp cận đã đến đúng tầm hỏa lực của mình mà không bị ngăn chặn và phóng tên lửa đáp trả trong khoảng cách gần. Đương nhiên, trong thế trận này, đánh gần thì hiệu quả hơn đánh xa nhiều lần. Toàn bộ tàu tên lửa của AI Cập bị diệt gọn.
Như vậy có thể nói, hải chiến hiện đại vẫn phải có các hành động đợi cơ, phục kích, hoặc vận động tiếp cận mục tiêu làm sao có lợi nhất để phát huy hỏa lực của mình. Có thể khi công kích (như tàu tên lửa của Israel) hoàn toàn nằm trong tầm hỏa lực địch nhưng vẫn có nhiều biện pháp, chiến thuật để vận động tiếp cận mục tiêu đến tầm sử dụng hỏa lực mà địch không thể ngăn chặn. Đây là giai đoạn tác chiến khó khăn, nguy hiểm nhất, nhưng khi đã vượt qua được thì coi như nắm chắc phần thắng vì đánh gần.
Nếu như cho rằng, chiến hạm địch có tên lửa bắn xa hàng trăm km là nắm chắc phần thắng khi đối đầu với các tàu có tầm bắn ngắn hơn và do đó phải loại bỏ các tàu chiến có tầm bắn ngắn đi thì hoàn toàn vô lý và không phải là cách tư duy của người…Do Thái và càng không phải của người Việt.
Rốt cuộc, nếu vậy, so với hải quân Trung Quốc thì lực lượng của Hải quân Việt Nam còn lại tàu chiến nào để tác chiến ngoại trừ Gepard 3.9?.
Đồng ý là các tàu PL cũ kỹ, tốc độ chậm là phải loại bỏ, nhưng tàu PL cánh ngầm thì không. Chúng sẽ được sử dụng rât linh hoạt trong từng nhiệm vụ mà không “duy ý chí, duy quyết tâm” hay “đánh liều chết” bởi lẽ, thế trận ngày nay đã hoàn toàn khác xưa và đương nhiên sẽ có những phương án tác chiến khác xưa.
Tàu PL chỉ chuyên đánh gần, nếu trong tầm hỏa lực của tàu PL mà tàu PL ra đòn thì khó kẻ thoát. Nhưng làm sao để cho tàu PL tiếp cận được mục tiêu trong tầm sử dụng hỏa lực lại là một vấn đề thuộc về bản lĩnh, trí tuệ…Có thể trong đội hình thực hiện đòn tập kích sở trường, tàu PL cánh ngầm chỉ làm nhiệm vụ đánh bồi, đánh “tảo trừ”…nhưng chắc chắn không bao giờ một tàu  hay một biên đội PL cánh ngầm hoạt động độc lập như ngày xưa.
“Tầm bắn” không phải quyết định tất cả, chỉ là một trong những ưu thế khi tác chiến nhưng vẫn không phải là ưu thế quyết định.
Một hệ thống tác chiến hiện đại không phải là hệ thống vũ khí siêu công nghệ, nó là sự kết hợp giữa trái tim, khối óc người lính. Đó là khả năng thông minh, phản ứng nhanh nhạy, xử lý hiệu quả  các trang thiết bị đang khai thác sử dụng, với tinh thần sẵn sàng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đó là tư duy về chiến thuật trong công tác nghiên cứu địch và phương pháp bố trí trận địa để đánh địch.
Con người vẫn là nhân tố quyết định cho mọi sự thành bại trên chiến trường.
Lê Ngọc Thống

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2013

Trung Quốc ‘ngán’ tàu Kilo, đặc công ở Biển Đông.


Việc xuất hiện lữ đoàn tàu ngầm Việt Nam chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc lo ngại một thế trận trên Biển Đông bất lợi nếu như có hành động dùng vũ lực chiếm Biển Đông, biến thành “ao nhà” của mình.
Thực ra, Trung Quốc có hơn 70 chiếc tàu ngầm, gấp hơn 10 lần Việt Nam, mà loại nào cũng có, kể cả tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân.
Nhưng Trung Quốc dù có phô trương, huyênh hoang sức mạnh đến mấy thì vẫn rất lo ngại KILO Việt Nam khi muốn chiếm Biển Đông để biến thành “ao nhà”.
Họ lo ngại không phải vì KILO Việt Nam tiên tiến, trang bị vũ khí khủng hơn KILO của họ mà họ lo ngại bởi trước hết là ưu thế và lợi thế của KILO của Việt Nam khi tác chiến. Tại sao?
Muốn chiếm Biển Đông, biến thành “ao nhà”, Trung Quốc gặp rất nhiều vấn đề lớn nguy hiểm, bất lợi, tồn tại trong thế trận mà không thể và chưa thể giải quyết trước mắt.
Đó được coi như những “tử huyệt” của Trung Quốc mà khi phạm vi, mức độ, tính chất của cuộc xung đột quân sự trên biển càng lớn thì càng bộc lộ rõ nét, càng sâu sắc và “bất khả kháng”.
Thế trận Biển Đông này ngay hoặc thế trận khi tấn công đánh chiếm hết Trường Sa của Việt Nam khi không có KILO cũng đã làm đau đầu giới quân sự Trung Quốc khiến họ không thể mạo hiểm.
Đặc công nước + Tàu ngầm KiLo = Lối đánh kiểu Việt Nam
Đặc công nước + Tàu ngầm KiLo = Lối đánh kiểu Việt Nam.
Mạo hiểm, bởi nếu không có tuyến sau hay tuyến sau bị đối phương cắt đứt thì tuyến trước (lực lượng đổ bộ và tàu hộ tống bảo vệ) không đủ khả năng đương đầu, tháo chạy hoặc bị diệt là vấn đề thời gian ngắn mà thôi, cho nên, đòi hỏi kế hoạch tác chiến đảm bảo hậu cần, kỹ thuật (tuyến sau) của Hải quân Trung Quốc phải khả thi cao nhất và an toàn tuyệt đối.
Tuy nhiên, ý thức và thực tế là khác nhau, giới quân sự Trung Quốc chưa có, chưa tìm ra một khả năng nào để triệt tiêu một thực tế khách quan rành rành: “Bất kỳ một cố gắng nhỏ nào của phía Việt Nam cũng gây tác hại lớn cho hệ thống hậu cần, kỹ thuật (tuyến sau) của Trung Quốc”.
Để tổ chức cho 32 tàu cá xâm phạm đánh bắt trái phép tại phía Tây quần đảo Trường Sa thì Trung Quốc vẫn phải có 2 tàu Ngư chính đi sau phục vụ hậu cần và kỹ thuật. Huống chi, tổ chức một chiến dịch đánh chiểm Trường Sa thì không đơn giản một chút nào.
Trong tình hình chiến sự xảy ra thời gian tính bằng phút, hoạt động, vận hành của các phương tiện ở mức độ tối đa thì sự cố xảy ra là không tránh khỏi (chưa bàn đến sự cố do bị đối phương giáng trả), chỉ cần một con tàu mất khả năng hay hạn chế khả năng cơ động, mất sức chiến đấu thì xử lý nó cần cả một dây chuyền, từ kỹ thuật cho đến bảo vệ an toàn…Liệu Trung Quốc có đủ khả năng bảo vệ trên một tuyến tấn công dài hàng ngàn hải lý không?
Rất nhiều học giả diều hâu khuyên nhà cầm quyền Bắc Kinh rằng “cần thì cứ đánh, khỏi đàm”…nghe cứ dễ như thò tay vào túi lấy bật lửa ra châm điếu thuốc lá vậy. Cứ thấy vài chiếc tàu khu trục kéo ra Biển Đông gần Trường Sa tập trận, phóng tên lửa vun vút, xong, kéo nhau về căn cứ quay phim chụp ảnh lên truyền hình là GS Hàn Húc Đông của trường ĐH quốc phòng Trung Quốc phởn chí lên “cần thì cứ đánh”.
Nhưng khi lâm trận, rút lui không dễ như trong diễn tập đâu. GS Hàn Húc Đông không hiểu trong tay Việt Nam đang có nhiều máy bay đánh chặn trứ danh SU-22M với vũ khí diệt hạm hiện đại đang sẵn sàng trên nhiều sân bay bí mật trên bờ thì sẽ như thế nào. Chắc chắn “điếc không sợ súng” là những từ mà giới tham mưu-tác chiến của Trung Quốc cũng như của cả thế giới dành cho những học giả già nua, lẩm cẩm, quá khích.
Bộ tham mưu Hải quân Trung Quốc lẽ nào không hiểu con đường hành quân, triển khai hậu cần, kỹ thuật phục vụ cho tấn công đánh chiếm đảo Trường Sa quá xa căn cứ mà lại gần và dọc theo chiều bờ biển Việt Nam? Chẳng lẽ không hiểu điều đó nghĩa là sẽ bị rất nhiều hướng tấn công và nhiều lực lượng có cơ hội tấn công? Lẽ nào họ không nhận thấy thế trận đó phù hợp với lối đánh sở trường của Hải quân Việt Nam: Bí mật, bất ngờ, tập kích nhiều hướng, nhiều tầng, dồn dập làm cho địch rối loạn đội hình…?
Trung Quốc quá hiểu, nhưng đây là “địa lợi” của Việt Nam là “rành rành định sẵn ở sách Trời”, Trung Quốc không thể thay đổi.
Tuy nhiên khi xuất hiện lữ đoàn tàu ngầm Việt Nam thì vấn đề cắt đứt tuyến sau lại càng dễ dàng hơn. Chỉ cần bí mật rải thủy lôi gây thiệt hại và làm rối loạn đội hình địch hoặc buộc đường hàng hải hành quân của địch thay đổi (nếu bãi thủy lôi bị phát hiện) có lợi cho tầm hỏa lực bờ phát huy là đạt yêu cầu. Ngoài ra với chức năng đó còn phong tỏa hoàn toàn các tuyến đường vận tải thương mại của đối phương. Nhiệm vụ này, với KILO không mấy khó khăn.
Tác chiến trên “sân nhà” KILO của Việt Nam có lợi thế hơn là đương nhiên và thậm chí ngay cả ưu thế chống ngầm, diệt hạm nổi…KILO Việt Nam cũng có thể vượt trội. Nhưng đó chưa phải là điều đáng ngại lắm cho Trung Quốc, điều lo ngại là các nhiệm vụ đặc nhiệm của tàu KILO như trinh sát, radar, chỉ thị mục tiêu, đặc biệt là tác chiến cùng đặc công nước…
Đặc công nước Việt Nam được trang bị ngày càng hiện đại
Đặc công nước Việt Nam được trang bị ngày càng hiện đại.
Nếu như ngày xưa, “đặc công nước” của Hải quân Việt Nam với lối đánh hiểm, độc đáo, chứng minh cho tư tưởng “nếu công nghệ không thể thì chiến thuật là có thể”, đã giáng cho hải quân Mỹ, dù được bảo vệ cực kỳ cẩn mật, những đòn nhớ đời thì ngày nay hoạt động của KILO có thể nào không giúp được gì cho lối đánh này được thăng hoa? Sự dày dạn kinh nghiệm chiến trận được hỗ trợ bởi công nghệ tiên tiến khiến nhiệm vụ này trở nên nguy hiểm, khó lường.
Nói chung, do đã kinh qua nhiều cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc chống xâm lược nên Việt Nam biết chuẩn bị cho mình những gì cần thiết, đủ sức đương đầu. Sự lo ngại của Trung Quốc là hoàn toàn có cơ sở và khắc phục điều đó tốt nhất, hay nhất là không nên buộc Việt Nam phải sử dụng.

Theo Đất Việt

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

Mãnh hổ' Kilo Việt Nam ra uy thế nào?


TPO - Mục tiêu của tàu ngầm bao gồm tàu sân bay, tàu đổ bộ, tàu vận tải, tàu ngầm, tàu tuần dương, tàu khu trục, các chiến hạm chống ngầm... Và đương nhiên cả các khu căn cứ hải quân, hải cảng, mục tiêu cố định trên mặt đất.
Sự phát triển của công nghệ hiện đại đã xuất hiện hai chủng loại tàu ngầm khác nhau, đó là tàu ngầm năng lượng hạt nhân và tầu ngầm diesel-điện. cả hai chủng loại tàu đều có những tính năng kỹ thuật khác nhau, từ đó mỗi loại tàu ngầm có một ưu điểm riêng biệt và có những nhiệm vụ đặc trưng riêng.
Hiện nay, các cường quốc hải quân, sở hữu các tàu ngầm hạt nhân, đang có xu hướng nâng cấp, hiện đại hóa và chế tạo các tàu ngầm hạt nhân đa nhiệm, có khả năng thực hiện những nhiệm vụ cấp chiến lược, đồng thời cũng thực hiện các nhiệm vụ thông thường, cấp chiến dịch và chiến thuật.
Trong lĩnh vực tác chiến cấp chiến dịch chiến thuật, tàu ngầm diesel-điện như Kilo 636 của Việt Nam đóng vai trò lực lượng tấn công chủ lực, đặc biệt thích hợp tác chiến trong các vùng nước hẹp, nông như Biển Đông. Trong lĩnh vực bảo vệ an ninh biên giới biển, bảo vệ vùng lợi ích kinh tế, tàu ngầm diesel – điện là lực lượng thường trực chiến đấu, đóng vai trò quan trọng trong nhiệm vụ phòng thủ vùng biển đất nước.
Nhiệm vụ chủ yếu của tàu ngầm Kilo
Trong thời bình:
Tìm kiếm, truy quét và theo dõi các tàu ngầm chiến lược của đối phương, bí mật theo dõi và nắm chắc mọi hoạt động các cụm binh lực hải quân chủ lực (CVBG) của đối phương, sẵn sàng tiến hành các đòn tấn công nhanh chóng và quyết liệt, bẻ gãy mọi âm mưu xâm phạm chủ quyền, xâm lược biên giới, hải đảo khi xảy ra tình huống chiến tranh.

Tiến hành các hoạt động tuần tiễu, sẵn sàng chiến đấu trên các tuyến phòng thủ chống ngầm;
Luôn giữ vững và tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu của binh chủng, duy trì vũ khí trang bị, phương tiện chiến đấu ở cấp độ sẵn sàng chiến đấu cao nhất.
Không để đối phương nắm bắt được những hoạt động của lực lượng tàu ngầm (căn cứ, các tuyến cơ động, vị trí đóng quân tạm thời, tuyến hành lang tuần tiễu chống ngầm ..v.v).
Trong thời chiến:
Nhiệm vụ quan trọng thứ nhất của tàu ngầm là tiêu diệt các tàu ngầm các loại của đối phương; thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trên tuyến phòng ngự chống ngầm nhằm bảo toàn lực lượng hải quân tham gia tác chiến; bí mật, bât ngờ tiêu diệt các cụm tàu chủ lực tấn công của đối phương, các chiến hạm và các tàu vận tải; triển khai các trận địa thủy lôi phục kích hoặc phòng ngự; tiến hành các hoạt động trinh sát đối phương, dẫn đường cho các lực lượng không – hải tấn công lực lượng hải quân đối phương;
Chỉ thị mục tiêu cần tiêu diệt – bao gồm cả chiến hạm nổi và tàu ngầm; đổ bộ lực lượng bộ đội đặc công, bộ đội đặc nhiệm, bộ đội trinh sát, vận chuyển vũ khí đạn, nhu yếu phẩm cho các vị trí xung yếu cần giữ bí mật hoặc bị phong tỏa; tiến hành các hoạt động trinh sát tuyến hành quân, thủy văn môi trường và khí tượng thủy văn nhằm đảm bảo cho các hoạt động tác chiến: cứu hộ các phi hành đoàn không quân hải quân; tấn công tiêu diệt các mục tiêu trên khu vực đối phương đánh chiếm hoặc các mục tiêu quan trọng trong lãnh thổ đối phương.
Ngọa hổ tàng long và mục tiêu ưa thích
Những tính chất đặc trưng của tàu ngầm diesel – điện hiện đại ngày nay, đó là tập hợp những tính năng chiến thuật và những tính chất đặc trưng kỹ thuật, từ đó xác định được khả năng thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu được giao cho binh chủng tàu ngầm.

Tàu ngầm là phương tiện chiến đấu mà ưu thế của nó chủ yếu dựa và tính chất đặc trưng nhất – tuyệt đối bí mật trong mọi hoạt động chiến đấu trên biển. Do đặc điểm môi trường tác chiến, vũ khí trang bị và tốc độ cơ động, tàu ngầm phải đảm nhiệm những nhiệm vụ chiến đấu ở dưới biển, yếu tố bí mật – bất ngờ đóng vai trò quyết định sự sống còn và khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Yếu tố bí mật được thể hiện trên 3 yếu tố chính:
- Không bị đối phương phát hiện trong mọi hoạt động thời bình và thời chiến;
- Khả năng phát hiện được đối phương đang theo dõi;
- Khả năng thoát ra khỏi sự truy quét và duy trì lại khả năng giữ bí mật ban đầu;
Để duy trì được tính bí mật trong mọi hoạt động tác chiến, tàu ngầm diesel – điện và thủy thủ đoàn cần duy trì những yêu cầu kỹ chiến thuật sau:
- Mọi hoạt động của các trang thiết bị trong tàu phải đảm bảo độ ồn thấp nhất (quy trình hoạt động của các trang thiết bị, khí tài, các bộ phận trong tầu phải hoạt động theo các quy chuẩn kỹ thuật, duy trì cường độ âm thanh ở mức thấp nhất;
- Đảm bảo giữ gìn tình trạng kỹ thuật của tàu luôn ở trạng thái hoạt động tốt nhất, đáp ứng mọi chuẩn kỹ thuật của nhà sản xuất, từ đó giảm được cường độ các trường vật lý trên tầu ở mức độ thấp nhất;
- Lựa chọn được phương án cơ động tốt nhất.
Những hình thái chiến thuật chủ yếu của tàu ngầm diesel điện.
- Cơ động vượt biển, triển khai đội hình sẵn sàng chiến đấu
- Trinh sát theo dõi mục tiêu
- Tác chiến chống các chiến hạm nổi của đối phương
- Tác chiến chống tàu ngầm
- Vượt phòng tuyến chống ngầm của đối phương
- Cơ động phục kích đánh địch
- Tấn công các mục tiêu ven biển bằng tên lửa phóng từ tàu ngầm.
Do đặc điểm bí mật của tàu ngầm diesel – điện, các đối tượng tác chiến của tàu ngầm được đánh giá theo mức độ ưu tiên và ý nghĩa của mục tiêu.

Nhóm mục tiêu hàng đầu của tàu ngầm là: tàu sân bay các loại, tàu đổ bộ, tàu vận tải cơ sở vật chất đi cùng, tàu vận tải hàng hóa trang thiết bị. Đây cũng là các mục tiêu quan trọng bậc nhất của hạm đội đối phương khi tiến hành tác chiến trên biển xa, được bảo vệ cẩn mật nhất do đặc điểm kém hơn về hệ thống phòng thủ chống ngầm và chống tên lửa hành trình. Sự tổn thất của các chiến hạm này sẽ gây khó khăn rất lớn cho đối phương khi tiến hành các hoạt động tác chiến.
Nhóm mục tiêu đứng hàng thứ hai trong lực lượng hải quân đối phương sẽ là các tàu ngầm, đặc biệt là các tầu ngầm nguyên tử và các tầu ngầm diesel - điện hiện đại mang tên lửa hành trình. Trên phòng tuyến chống ngầm của thế trận phòng ngự biển đảo, trọng trách chống ngầm sẽ được giao chủ yếu cho tàu ngầm diesel - điện.
Nhóm mục tiêu thứ 3 của của tàu ngầm là các chiến hạm nổi như tàu tuần dương, khu trục, hộ vệ tên lửa, các chiến hạm chống ngầm.
Nhóm mục tiêu thứ 4 của tàu ngầm diesel – điện là các mục tiêu ven biển, mặt đất như các khu căn cứ hải quân, hải cảng, các tàu neo đậu và các cụm mục tiêu cố định trên mặt đất khác……
Cơ động vượt biển và triển khai đội hình thực hiện nhiệm vụ chiến đấu:
Cơ động hành quân đến điểm tập kết và triển khai đội hình chiến đấu có thể được thực hiện bởi một tàu ngầm, một phân đội tàu ngầm hoặc một cụm chiến hạm hiệp đồng binh chủng.
Cơ động hành quân và triển khai đội hình tác chiến là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của tàu ngầm diesel – điện trong cả thời chiến lẫn thời bình. Trên thực tế, do đặc điểm yêu cầu nhiệm vụ, lực lượng tàu ngầm không có thời bình. Do đó, để giữ được tuyệt đối các yếu tố bí mật khi thực hiện nhiệm vụ. Các tàu ngầm thường xuyên hoạt động trong tình huống cảnh giác cao độ và tránh bị phát hiện.
Tuyến cơ động đường biển bắt đầu từ căn cứ tập kết tàu ngầm, tuyến triển khai đội hình hành quân, đường hành quân, vị trí tập kết và triển khai đội hình thực hiện nhiệm vụ.
Để giữ được bí mật cao nhất, khu tập kết hành quân được quyết định theo mệnh lệnh của cấp chỉ huy cao nhất khu vực phòng thủ hoặc tư lệnh trường Vùng hải quân và được giữ bí mật đến thời điểm phát lệnh hành quân. Trong thời gian đó, các tàu ngầm thực hiện nhiệm vụ bổ xung vũ khí, đạn, phương tiện chiến đấu và thực hiện các công tác kỹ thuật. Sau khi nhận lệnh xuất phát các tàu ngầm diesel – điện hướng về khu vực tập trung bí mật.
Tại khu vực tập trung bí mật, các chỉ huy trưởng nhận nhiệm vụ cơ động hành quân về khu tập kết – bàn đạp để thực hiện nhiệm vụ, đồng thời cũng nhận được các chỉ lệnh cần thiết về đường hành quân, địa hình đáy biển, các thông số về thủy văn, môi trường, thời tiết, các hướng dẫn về hoa tiêu, dẫn đường, hướng đi, các điểm định hướng bẻ góc lái, các độ sâu duy trì hoạt động, khu vực có hoạt động các các loại tàu, khu vực có thể có thủy lôi, tàu ngầm nguyên tử đối phương hoặc tuyến phòng ngự trinh sát chống ngầm đối phương. Thời gian và khu vực tập kết. Các quy định về thông tin liên lạc, các quy định về công tác truy tìm đồng đội.
Qua trình cơ động trên biển là quá trình hành quân chiến đấu trong điều kiện phức tạp của khu vực tác chiến, các tàu ngầm xuất phát từ vị trị triển khai đội hình hành quân, nghiêm ngặt tuân thủ các quy định về bảo mật và thông tin, cơ động ở độ sâu theo chỉ định, đồng thời tập trung quan sát, theo dõi mọi tình huống diễn ra dưới biển, thông thường không liên lạc ở chế độ phát, mà chỉ nhận mệnh lệnh thụ động. các trường hợp trao đổi thông tin với cấp trên hoặc với tàu bạn phải rất nhanh, ngắn, trên tần số bảo mật.

Cơ động hành quân ngầm
Để đảm bảo cơ động bị mật, an toàn, đội hình cơ động phải được duy trì chặt chẽ, tuyến đường hành quân, vị trí các tàu ngầm phải được xác định chính xác và theo dõi chặt chẽ nhằm tránh khả năng lạc đội hình, cơ động lệch hướng hoặc bộc lộ những nhược điểm có thể gây mất an toàn, kẻ thù có thể xác định được có tàu ngầm đang hoạt động trong khu vực.
Cơ động của lực lượng tàu ngầm nằm trong một kế hoạch tác chiến hiệp đồng quân binh chủng rộng lớn, bao gồm các lực lượng trinh sát, cảnh giới, các lực lượng tuần biển và hoạt động chống ngầm, các lực lượng hải quân mặt nước và phòng thủ bờ biển. Tuyến hành lang hành quân của tầu ngầm được đảm bảo an toàn, tránh được các khu vực, trận địa chống ngầm của đối phương, khu vực hoạt động của các lực lượng chiến hạm nổi và ngầm đối phương, khu vực hoạt động thương xuyên của lực lượng không quân hải quân đối phương, đồng thời nằm trong tầm kiểm soát chặt chẽ của không quân – hải quân ta.
Cơ động hành quân của tàu ngầm diesel điện, do các tính năng kỹ thuật hạn chế hơn so với tàu ngầm nguyên tử, còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu, thủy văn, môi trường, dòng nước ngầm trong biển. Điều này đòi hỏi người sĩ quan chỉ huy, hoa tiêu, thủy thủ đoàn phải rất thông thuộc, hiểu cặn kẽ đến từng chi tiết vùng nước, vùng biển trong hành lang cơ động của tàu ngầm, có phản ứng nhanh nhẹn sáng tạo, hiểu biết sâu và chắc tính năng kỹ thuật tàu ngầm, các bộ phận, các trang thiết bị trên tàu, đồng thời phải liên tục nắm bắt và xử lý kịp thời được những thông số thu được thường xuyên về tình hình môi trường biển, hành động cụ thể, kiên quết và chính xác nhằm duy trì được khả năng hoạt động tối ưu nhất của tàu ngầm, duy trì được tốc độ và hải trình, hành quân đến điểm tập kết đúng thời gian quy định và hoàn toàn duy trì được tính bí mật trong hoạt động của mình.
Trong các điều kiện tác chiến cụ thể, phân đội tàu ngầm cơ động đến một khu vực tập kết nhất định từ nhiều hướng khác nhau, do đó, cơ quan chỉ huy cấp trên sẽ quy định thời gian tập kết, khu vực tìm kiếm và phương thức tìm kiếm nhằm tập hợp lực lượng, sẵn sàng triển khai đội hình chiến đấu.
Đội hình chiến đấu được triển khai tùy theo yêu cầu nhiệm vụ được giao, có thể là: tuần thám khu vực được giao, trinh sát và theo dõi các lực lượng của đối phương, tấn công tiêu diệt lực lượng hải quân địch, phục kích chống ngầm, tấn công tiêu diệt các mục tiêu trên biển hoặc các mục tiêu trên bờ biển bằng tên lửa hành trình.v.v..
Trinh sát là một trong những hình thái chiến thuật quan trọng của những hoạt động tác chiến, được tổ chức nhằm mục đích nắm bắt, thu được thông tin và nghiên cứu, xử lý những thông tin thu thập được nhằm xác định về lực lượng đối phương bao gồm: số lượng, biên chế trang bị, tình trạng binh lực và khả năng, tính chất những hoạt động của đối phương và ý đồ tác chiến. Trinh sát cũng được thực hiện nhằm nắm bắt được những đặc điểm đặc trưng cụ thể của chiến trường, khu vực có thể xảy ra hải chiến. Trinh sát có thể ở cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Với tàu ngầm diesel điện, nhiệm vụ trinh sát thông thường được giao ở cấp chiến thuật do phụ thuộc vào những tính năng kỹ chiến thuật tàu ngầm.
Các phương tiện trinh sát tàu ngầm diesel điện được trang bị bao gồm: trinh sát thủy siêu âm, bằng các đài sonar trinh sát ở chế độ thụ động, các thiết bị thu thủy âm; trinh sát bằng đài thu radio thụ động, ở điều kiện tàu ngầm đang hoạt động ở độ sâu tiềm vọng và các an ten thu được đẩy lên trên mực nước biển và trinh sát bằng kính tiềm vọng;
Lựa thế rình mồi
Hoạt động tác chiến chống các tàu nổi được hiểu là hoạt động tác chiến chống một cụm không quân hải quân chủ lực CVBG, công kích các đoàn tàu quân sự, các đội tàu và các tàu hoạt động độc lập, lực lượng đổ bộ của đối phương và tác chiến trong đội hình binh chủng hợp thành, phối hợp tác chiến chống lại các cụm tàu chủ lực của đối trong một trận chiến đấu trên biển.
Tác chiến chống các cụm chiến hạm nổi thông thường sử dụng vũ khí chủ yếu là ngư lôi và tên lửa hành trình phóng từ tàu ngầm. Mục đích chính là đánh chìm hoặc gây tổn thất nặng nề cho đối phương ngay từ loạt đạn đầu tiên. Do đó, khi tiến hành các hoạt động tác chiến, phân đội tàu ngầm thường được chia thành đội trinh sát hỏa lực và đội công kích chủ lực.
Ngư lôi phóng từ tàu ngầm
Ngư lôi phóng từ tàu ngầm.
Chiến hạm trúng ngư lôi tàu ngầm
Chiến hạm trúng ngư lôi tàu ngầm.

Đội tàu ngầm trinh sát hỏa lực: Là một thành phần chiến thuật của đội hình chiến đấu, đội tàu ngầm có nhiệm vụ phát hiện mục tiêu cụm tàu đối phương, theo dõi, xác định các thông số chiến thuật như số lượng và chủng loại, tọa độ và hướng cơ động. Có nhiệm vụ dẫn đường cho đội tàu công kích chủ lực và chỉ thị mục tiêu tiêu diệt. Đồng thời cũng sử dụng vũ khí trang bị tiến công tiêu diệt địch khi có điều kiện thuận lợi theo yêu cầu. Để thực hiện nhiệm vụ được giao, đội tàu ngầm trinh sát hỏa lực sẽ cơ động trên vùng nước được giới hạn bởi tuyến trinh sát mục tiêu.
Tuyến trinh sát mục tiêu được hiểu là vùng nước mà ở đó, tàu ngầm Kilo có thể phát hiện và theo dõi cũng như nắm bắt được đầy đủ các thông tin cần thiết về đối phương bằng các phương tiện trên tàu. Phương pháp tìm kiếm mục tiêu, độ sâu lặn ngầm, điều kiện thủy văn môi trường, địa hình đáy biển và diện tích khu vực cơ động trinh sát được xác định từ tình huống đặt ra, điều kiện thủy âm và đặc biệt là trang thiết bị khí tài cần thiết để phát hiện mục tiêu (sonar, radar và các trang bị khí tài khác…). Khi phát hiện mục tiêu, đội tàu trinh sát thông báo những thông tin thu nhận được cho chỉ huy trưởng trên đài chỉ huy của phân đội tàu ngầm. Chỉ huy phân đội sẽ căn cứ tình hình thực tế, giao nhiệm vụ cho chỉ huy đội công kích chủ lực hoặt yêu cầu tiếp tục theo dõi mục tiêu.
Sơ đồ đội tàu ngầm trinh sát hỏa lực
Sơ đồ đội tàu ngầm trinh sát hỏa lực.

Đội tàu ngầm công kích chủ lực là lực lượng tàu ngầm được biên chế ngư lôi và tên lửa chống tàu, có nhiệm vụ tập kích đối phương bằng một đòn tấn công có tính quyết định, Đội tàu ngầm chủ lực được bố trí cơ động trên khoảng cách thuận tiện cho việc trinh sát dẫn đường cho bộ phận công kích chủ lực tiếp cận đối phương nhanh chóng và có thể quan sát, theo dõi địch bằng chính phương tiện khí tài của mình. Để thực hiện điều đó, ban tham mưu đài chỉ huy phân đội căn cứ vào thông tin thu được vạch ra lộ trình hải hành của đối phương và điểm chạm địch.
Điểm chạm địch được xác định sao cho thời gian mà phân đội cơ động đến tuyến chiến đấu phải ngắn hơn thời gian cụm chiến hạm đối phương tiếp cận. Đội tàu ngầm công kích triển khai đội hình tác chiến trên tuyến chiến đấu đi ngang điểm chạm địch cắt ngang tuyến hải trình cơ động của đối phương. Khi phát hiện mục tiêu, ban tham mưu đơn vị xác định chủng loại mục tiêu, các thông tin chiến thuật liên quan như tọa độ, tính chất từng thành phần của mục tiêu. Từ đó lên sơ đồ cơ động chiến đấu.
Cơ động chiến đấu là hành động mà các tàu ngầm lựa chọn như đường cơ động, hướng cơ động theo các mục tiêu đã phân công, chiếm vị trí thuận lợi để triển khai đòn tấn công từ vũ khí trên tàu và giảm thiểu tối đa những nguy cơ của vũ khí, trang bị của đối phương, đồng thời cũng thay đổi vị trí để tiếp tục tấn công các mục tiêu tiếp theo. Sơ đồ cơ động chiến đấu được đề ra trên hải đồ đồng thời với các đường cơ động của các chiến hạm mục tiêu. Đường cơ động chiến đấu mỗi hạm tàu được vẽ trên bản đồ chỉ huy của đơn vị cũng như bản đồ chỉ huy tác chiến của mỗi hạm trưởng tàu ngầm ngay từ khi các phương tiện trinh sát như sonar, radar phát hiện ra mục tiêu cho đến khi kết thúc trận chiến đấu.

Khi tiến hành tấn công, các tàu ngầm lựa chọn vùng công kích, khái niệm vùng công kích được hiểu là vùng nước mà ở bất cứ vị trí nào trong vùng nước đó, tàu ngầm đều có thể tấn công mục tiêu bằng một loạt ngư lôi. Vị trí mà tàu ngầm có thể phóng loạt ngư lôi (từ 2 ngư lôi liên tiếp ) được gọi là vị trí tấn công trên đường cơ động của tàu ngầm. Do đặt điểm về tốc độ cũng như giới hạn của bình ắc quy điện, tàu ngầm diesel khi tiếp cận mục tiêu phải lựa chọn đường cơ động sao cho khoảng cách tấn công phù hợp nhất và dự kiến được số lượng đạn, chủng loại đầu đạn và khoảng cách phóng đạn sao cho trong mọi tình huống, ít nhất có một ngư lôi trúng mục tiêu.
Nanh vuốt 'mãnh hổ'
Các tàu ngầm diesel-điện như Kilo 636 được trang bị tên lửa hành trình, có những đặc điểm riêng trong tác chiến hiện đại. Tàu ngầm có thể sử dụng tên lửa hành trình bằng các phương tiện dẫn đường, chỉ thị mục tiêu có trên thân tàu hoặc theo các thông số, được cung cấp bởi các nguồn thông tin bên ngoài, các nguồn thông tin để dẫn đường tên lửa hành trình có thể do máy bay trinh sát tầm cao, vệ tinh trinh sát hoặc máy bay trinh sát tác chiến điện tử hay các tổ trinh sát mục tiêu cung cấp, các thông tin dẫn đường mục tiêu có thể là không ảnh, dữ liệu tọa độ mục tiêu so với vật chuẩn, tọa độ mục tiêu dựa trên thông số ô vuông bản đồ khu vực hoặc thông số tọa độ kinh vĩ độ địa lý…thông thường.
Các dữ liệu chỉ thị mục tiêu được cung cấp bởi cơ quan chỉ huy cấp cao, chỉ huy điều hành tác chiến phân đội tàu ngầm, các dữ liệu đó được nạp vào đầu tự dẫn của tên lửa trước khi phóng đạn. Do các mục tiêu trên biển sẽ dịch chuyển ra khỏi vị trí xác định ban đầu, các đầu tự dẫn của tên lửa được trang bị thiết bị radar chủ động hoặc điện tử - quang ảnh nhằm xác định chính xác mục tiêu cần tiêu diệt.

Tên lửa hành trình thường được sử dụng khi các mục tiêu cần tấn công nằm ngoài vùng quan sát, kiểm soát được của các khí tài trinh sát (radar, sonar) do đó, khi sử dụng tên lửa hành trình, các tàu ngầm lựa chọn vùng phóng tên lửa, vùng phóng tên lửa thông thường được lựa chọn là vùng không gian biển lớn, cách xa khu vực có thể có sự hiển diện các phương tiện tác chiến mặt nước khác của đối phương, nhưng không vượt quá tầm bay của tên lửa, đồng thời số lượng và chủng loại tên lửa được phóng từ tàu ngầm bảo đảm phủ kín vùng nước chiến hạm đối phương đang cơ động nhằm mục đích mục tiêu chắc chắn bị tiêu diệt. Số lượng tên lửa được phóng và khoảng cách tối ưu lựa chọn dựa vào tính năng kỹ chiến thuật tên lửa, số lượng và chủng loại mục tiêu, khả năng phòng không của các mục tiêu, yếu tố bí mật bất ngờ và phương án tránh đòn phản kích của các phương tiện chống ngầm của đối phương.
Tàu ngầm triển khai trận địa thủy lôi thông minh
Tàu ngầm triển khai trận địa thủy lôi thông minh.

Ngoài hai loại vũ chính chống tàu nổi là ngư lôi và tên lửa hành trình, một vũ khí thứ 3 có hiệu quả tác chiến rất cao và thuận lợi cho phòng ngự biển đảo là thủy lôi. Nhờ tính bí mật cao, tàu ngầm có thể triển khai các tuyến thủy lôi ngăn chặn, phong tỏa hoặc các trận địa thủy lôi bí mật, bất ngờ trên các cửa cảng, căn cứ quân sự đối phương, trên các tuyến đường hành quân hoặc bố trí các trận địa thủy lôi phòng thủ khu vực biển, đảo, các vùng có luồng lạch hẹp và các vịnh…
Thủy lôi thông thường được triển khai thông qua ống phóng ngư lôi và nhờ các trang thiết bị định vị, hoa tiêu chính xác của tàu ngầm, cũng như nhờ những tiến bộ vượt bậc của vũ khí thủy lôi có sử dụng các hệ thống điện tử, sensor và máy tính trên ngư lôi, loại vũ khí này trở lên thông minh hơn, có khả năng tự hành, tự khởi động và tấn công mục tiêu trên mọi độ sâu cũng như trên khoảng cách rộng lớn. Thủy lôi ngày nay sau khi được phóng ra khỏi tàu ngầm, có thể tự hành đến khu vực trận địa, triển khai các sensor thủy âm, điện từ trường, sonar thụ động ở chế độ chờ dài ngày, và khi mục tiêu đến, có thể chủ động tiếp cận và tiêu diệt mục tiêu.
Trong mọi thời gian, kể cả thời bình và thời chiến, lực lượng tàu ngầm luôn luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu, do tính hiệu quả cao trong tác chiến tàu ngầm. Các lực lượng đối phương luôn luôn tìm mọi cách xác định tàu ngầm của đối phương đang ở vị trí nào trên biển hoặc đang neo đậu ở căn cứ nào. Mọi hoạt động của tàu ngầm từ khi được biên chế cho đến khi hết thời hạn phục vụ đều được giữ bí mật tuyệt đối.
Ngược lại, các tàu ngầm trong điều kiện thời bình cũng phải thực hiện nhiệm vụ tuần biển bí mật, bảo vệ bí mật các khu vực trọng tâm như căn cứ, vùng nước, khu kinh tế trên biển, đảo, quần đảo đồng thời bí mật theo dõi mọi hành động trên mặt nước và dưới mặt nước của đối phương. Thực tế cho thấy, tàu ngầm là chiến hạm không có hòa bình. Nhiệm vụ chiến đấu luôn được sẵn sàng thực hiện với đầy đủ vũ khí trang bị theo biên chế, các lực lượng chỉ huy, tham mưu, kỹ thuật và hậu cần lực lượng tàu ngầm cũng luôn nằm trong tình trạng đó. Khi chuyển sang thời chiến, cũng là lúc các thủy quái – tàu ngầm minh chứng cho sự hiển diện của mình bằng những đòn tấn công quyết liệt ngay từ giây phút đầu tiên.
Trịnh Thái Bằng 
(Dựa theo Chiến thuật tàu ngầm Hải quân Xô Viết)

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

Tàu ngầm Kilo trong chiến lược của Hải quân Việt Nam.


(ĐVO) - Đó là một khu vực, một hướng, mà dưới đó “sạch”, không có tàu ngầm địch và ngư lôi địch uy hiếp tàu chiến mặt nước của Hải quân Việt Nam.


Trước hết phải khẳng định rằng tàu ngầm KILO của Việt Nam không phải là “chiếc nỏ thần” như của An Dương Vương. Bởi vì không những nó ít ỏi mà đằng sau nó đang còn nhiều thách thức từ việc điều động tàu cho đến sử dụng trong tác chiến…mà đòi hỏi bản lĩnh và trí tuệ cao.
Cần lưu ý là cả hai cuộc chiến thế giới đều kết thúc với thất bại chính thức của ý tưởng chiến tranh tàu ngầm. Sau Thế chiến I là bởi việc ứng dụng hệ thống các đội tàu có áp tải và thiết bị thủy âm ASDIC, trong Thế chiến II là sự ứng dụng radar và máy bay…đã làm cho tàu ngầm trở thành “con mồi” thay vì “kẻ đi săn”.
Ngày nay, dù tầu ngầm được phát triển vượt bậc thì các phương tiện săn ngầm cũng không kém, khiến cho tàu ngầm phải thêm một chức năng sống còn nữa là lẩn trốn. Cho nên, theo logic đó thì hy vọng hoàn toàn về tàu ngầm trong tương lai là điều xa xỉ.
Nhưng tại sao tàu ngầm vẫn là “thực đơn” không thể thiếu, rất quan trọng của Hải quân các quốc gia ven biển?
Thứ nhất, nói gì thì nói, tất cả những gì thuộc về tàu ngầm và lực lượng săn ngầm đều là lý thuyết suông. Thế giới hơn 68 năm nay lực lượng tàu ngầm, lực lượng săn ngầm chưa có cuộc chiến đấu nào cùng nhau hoặc đối đầu, trong khi những gì thu được từ cuộc chiến trên quần đảo Manvinat đã trở nên quý hiếm mà chưa đủ đô để kiểm nghiệm.
Thứ hai là tàu ngầm tỏ ra quá nguy hiểm, lợi hại đối với những quốc gia và các phương tiện lưu thông trên biển mà khả năng chống ngầm hạn chế khiến rất dễ bị tổn thương.
Cuối cùng là, mỗi quốc gia có cách sử dụng tàu ngầm khác nhau cho mục đích khác nhau. Như tuyên bố của tướng Phùng Quang Thanh-Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam là “tàu ngầm KILO chỉ để bảo vệ vùng biển của Việt Nam, gồm thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và lãnh hải của Việt Nam, không có mục đích sử dụng nào khác”.
Thế trận liên hoàn hỗ trợ tấn công, bảo vệ lẫn nhau giữa KILO, tàu tên lửa, hệ thống Bastion-P…cho hải chiến du kích kiểu Việt Nam phát huy tác dụng.
Thế trận liên hoàn hỗ trợ tấn công, bảo vệ lẫn nhau giữa KILO, tàu tên lửa, hệ thống Bastion-P…cho hải chiến du kích kiểu Việt Nam phát huy tác dụng.
Tình hình hiện nay, với vũ khí trang bị phòng thủ biển hiện có thì Việt Nam đủ sức làm chủ mặt biển và không hải phận. Còn lòng biển và đáy biển?
Sự xuất hiện lữ đoàn tàu ngầm KILO của Việt Nam cũng không nằm ngoài bối cảnh đó và dĩ nhiên được kỳ vọng là phải hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ được giao phó, trong đó nhiệm vụ ngăn chặn, tiêu diệt tàu ngầm địch trong vùng biển của ta đồng nghĩa với việc bảo vệ cho tàu chiến mặt nước của chúng ta không bị tàu ngầm địch uy hiếp là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất mang tính sống còn.
Nếu chúng ta không ngăn chặn được tàu ngầm địch, để chúng lọt vào tuyến phòng thủ thì chiến lược chống tiếp cận bị phá sản, đặc biệt khi đó coi như phần “mềm” hải chiến du kích đã bị “virus” tấn công, thế trận phòng thủ mất liên hoàn, không hỗ trợ được cho nhau nên sẽ rất khó khăn để các lực lượng thực hiện nhiệm vụ.
Chẳng hạn, khi tàu ngầm địch được tung hoành chỉ cần ở vùng giáp lãnh hải thì nó hoàn toàn ngăn chặn hoạt động của tàu mặt nước chúng ta triển khai đến vị trí xuất phát tấn công (một tiền đạo nhận bóng để tấn công ở giữa sân và ở sát cầu môn thì vị trí nào tấn công sẽ nguy hiểm cho đối phương hơn?).
Các tàu phóng lôi, tên lửa Việt Nam giống như cánh tay nối dài của Bastion-P và được hệ thống này bảo vệ không sợ tàu chiến mặt nước của địch tấn công trong phạm vi 300 km tính từ bờ. Nếu lực lượng này mà bị tàu ngầm địch uy hiếp, triệt hạ thì coi như hệ thống Bastion-P không còn tác dụng cho bảo vệ Trường Sa.
Khi Trường Sa bị tấn công thì sự hỗ trợ của tàu chiến mặt nước bị cắt đứt, kẻ địch được rảnh tay chỉ đối phó với Không quân Việt Nam và đương nhiên Không quân Việt Nam sẽ phải một mình thực hiện nhiệm vụ khó khăn, nặng nề hơn.
Đó là lý do vì sao Việt Nam còn sắm thêm 2 chiếc Gerpad chuyên về chống ngầm và nếu như không nhầm thì trong mỗi chiếc tàu ngầm KILO Việt Nam tính năng chống ngầm được ưu tiên nhất, cấp thiết nhất.
Thủy lôi chống ngầm, 24 quả mà KILO mang theo, rải xuống trên tuyến chống ngầm cũng it nhất là làm cho tàu ngầm địch “khựng” lại buộc chúng phải “đi theo lối khác”.
Thủy lôi chống ngầm, 24 quả mà KILO mang theo, rải xuống trên tuyến chống ngầm cũng it nhất là làm cho tàu ngầm địch “khựng” lại buộc chúng phải “đi theo lối khác”.
Chống ngầm hiệu quả nhất là dùng tàu ngầm để chống tàu ngầm, vì vậy, ít nhất có 2/6 KILO chuyên về chống ngầm. Và, nếu như Việt Nam mua thêm máy bay chống ngầm của ai đó thì không có gì thắc mắc.
Đương nhiên trên một khu vực bảo vệ rộng hơn 1 triệu km vuông biển đảo thì không nhất thiết phải “sạch” hết, tức là không có tàu ngầm địch, không có thủy lôi địch…vì chúng ta không có khả năng, nhưng trên một khu vực cần thiết thì nhất thiết phải tạo ra một khu vực biển “sạch”. Tại sao phải “sạch” thì chúng ta đã hiểu, còn đó là khu vực nào, hướng nào…thì chúng ta không cần biết vì đó là việc của Bộ TM Hải quân.
Như vậy, tàu ngầm Việt Nam xuất hiện cùng với các phương tiện chống ngầm khác sẽ tạo ra được một khu vực biển “sạch” mà ở đó trời của ta, mặt biển của ta, lòng biển của ta. Khu vực biển “sạch” mà ở đó xuất hiện một thế trận như sau:
Thứ nhất, các lực lượng được bảo vệ nhau liên hoàn. Ví dụ: tàu ngầm hoạt động không sợ máy bay săn ngầm địch vì đã có tàu mặt nước và không quân phía trên, tàu chiến cơ động không sợ tàu ngầm và tàu chiến lớn của địch vì có tàu ngầm KILO ở dưới, không quân ở trên và Bastion-P từ bờ…
Các lực lượng này như những dầm chịu lực, cái thì chịu lực nén, cái thì chịu lực xoắn…liên kết với nhau trong một khối-khu vực nên không ngại va chạm. Như vậy có thể nói, độ an toàn khi triển khai tấn công của các lực lượng của ta rất cao.
Thứ hai là cho phép phía phòng thủ hoàn toàn nắm quyền chủ động tác chiến. Nghĩa là Việt Nam có thể sẵn sàng đối đầu một trận khi xác định chắc thắng như kinh nghiệm đánh trận Điện Biên Phủ hoặc có thể chọn trận mà chơi, chọn nơi mà đánh theo cách tập kích hay phục kích.
Không còn nghi ngờ gì nữa, tàu ngầm KILO của Hải quân Việt Nam xuất hiện là nhu cầu tất yếu của thế trận phòng thủ biển đảo. Trong “sơ đồ chiến thuật” này, tàu ngầm KILO không phải là tất cả nhưng là một yếu tố không thể thiếu. Thiếu nó trong khi hệ thống chống ngầm hạn chế thì chiến lược chống tiếp cận bị phá sản. Thiếu nó hải chiến du kích sẽ gặp vô vàn khó khăn, đặc biệt là bảo vệ Trường Sa.
Vậy, tàu ngầm KILO Việt Nam trong hải chiến du kích sẽ thể hiện như thế nào với các lực lượng khác? Thế nào là đòn “3 đánh 1” hay lực lượng phân tán hỏa lực tập trung?
Năm 2011 trong bài viết “Tàu ngầm Việt Nam, nguy cơ mới cho quân xâm lược”, tôi đã nêu một quan điểm: “…như vậy trong tay Việt Nam tàu ngầm hoạt động rất ít giống với quy ước, nó được sử dụng, biến đổi thành rất nhiều chiêu thức nguy hiểm. Nhà sản xuất cũng không nghĩ ra là có lúc nó sẽ như thế.
Cũng là giống Hổ, Hổ ở châu Phi có cách săn mồi với những pha rượt đuổi đầy ngoạn mục nhưng Hổ ở Việt Nam không săn mồi như thế vì không có đồng cỏ rộng để rượt đuổi, không có hàng trăm con mồi mà tha hồ lựa chọn. Hổ Việt Nam chỉ rình mồi ở những vị trí mà con mồi hay đi qua và bắt buộc phải đi qua. Và khi con mồi đã trong “tầm vồ” thì ... mới gọi là Chúa sơn lâm”.
Rõ ràng rình mồi ở nơi con mồi hay đi qua thì ai cũng biết nên khó thành công, còn rình mồi ở nơi con mồi bắt buộc phải đi qua thì chắc ăn, nhưng làm sao để con mồi “buộc phải đi qua” là cả một nghệ thuật bày mưu, tính kế nhà binh.
Vậy tàu ngầm KILO Việt Nam có cơ hội nào để rình đúng chỗ địch “bắt buộc phải đi qua”?
Lê Ngọc Thống