Thứ Ba, 24 tháng 12, 2013

Việt Nam mua tàu chiến Sigma: Tin vui số 1 năm 2013.


(Quốc Phòng Việt Nam) - Mua vận tải cơ cất cánh đường băng ngắn L-410 của Cộng hòa Séc, máy bay không người lái Belarus, tàu chiến tối tân Sigma 9814 cùng với việc xem xét khả năng mua "sát thủ săn ngầm" P-3C Orion của Mỹ và hệ thống tác chiến điện tử tối tân Krasuha-2 của Nga là những thương vụ quốc phòng nổi bật của Việt Nam trong năm 2013.

Dưới đây là 5  thương vụ quốc phòng nổi bật còn lại của Việt Nam trong năm 2013.
 
6. Mua máy bay vận tải L-410 của Séc
 
Theo báo Quân đội Nhân dân, trong giữa tháng 4/2013, Cục Kỹ thuật (Quân chủng Phòng không - Không quân) đã tổ chức Hội nghị tập huấn ngành máy bay động cơ (MBĐC) năm 2013 cho 80 người là chủ nhiệm, phó chủ nhiệm Kỹ thuật, trưởng ban, trợ lý MBĐC các đơn vị không quân, Học viện Phòng không Không quân, Trường Sĩ quan Không quân, Giám đốc, Phó Giám đốc kỹ thuật các nhà máy sửa chữa Kỹ thuật hàng không A32, A42, A41, A45.
 
L-410 - vận tải cơ tương lai của Không quân Việt Nam.
L-410 - vận tải cơ tương lai của Không quân Việt Nam.
 
Trong thời gian hai ngày tập huấn, các học viên được giới thiệu về vũ khí trang bị mới như máy bay CASA-212, DHC-6, EC-255 và đặc biệt là có cả loại máy bay vận tải L-410 của Cộng hòa Séc sản xuất.
 
Việc các cán bộ sĩ quan của Quân chủng Phòng không Không quân tham gia tập huấn về cách khai thác máy bay vận tải L-410 cho thấy, rất có thể Việt Nam đã ký kết hợp đồng mua máy bay L-410 của CH Séc từ trước năm 2013 và sẽ sớm tiếp nhận loại vận tải cơ này trong tương lai gần.
 
Việc Việt Nam đặt mua máy bay vận tải L-410 hoàn toàn có nhiều cơ sở. Mới đây, tờ Byznys.ihned.cz của Séc dẫn lời bà Ilona Pliskova - Giám đốc điều hành ngành công nghiệp máy bay CH Séc cho biết, Séc đang đặt mục tiêu xuất khẩu máy bay L-410 vào các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam.
 
Trong khi đó, một số phương tiện truyền thông CH Séc gần đây cũng tiết lộ rằng, Việt Nam đang đàm phán để mua 12 máy bay vận tải tầm ngắn Let L-410 để tiếp viện lương thực, thực phẩm cho quân đội cũng như người dân ở những vùng hải đảo hay biên giới xa xôi mà các phương tiện khác khó có thể tiếp cận được.
 
L-410 đạt tốc độ đến 457 km/h và tầm bay đến 546 km, chở được 19 khách hay 1,7 tấn hàng. Khi mang thêm bình xăng phụ, hoặc không tải, tầm bay của nó có thể đạt 940 km. Biến thể UVP-E20 khác với biến thể cơ sở ở cánh quạt 5 lá cánh, động cơ mạnh hơn và khả năng cất/hạ cánh đường băng ngắn.
 
Việc trang bị L-410 sẽ tăng cường đáng kể khả năng không vận cho Không quân Việt Nam trong trường hợp cần vận chuyển quân, hàng hóa, đạn dược đến những vùng miền, hải đảo xa xôi. 
 
7. Mua máy bay không người lái của Belarus
 
Trong năm 2013, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã có chuyến thăm Belarus và bày tỏ khả năng mua máy bay không người lái do nước này sản xuất.
 
Giới truyền thông Belarus trích lời Thủ tướng Mikhail Myasnikovich nói rằng, Belarus có nhiều hy vọng hợp tác với Việt Nam trong đó có việc cung cấp máy bay không người lái, nhưng không tiết lộ chi tiết về loại UAV nào sẽ được nước này bán cho Việt Nam.
 
Có khả năng cao, Việt Nam sẽ nhận được loại UAV Grif-1 của Belarus.
Có khả năng cao, Việt Nam sẽ nhận được loại UAV Grif-1 của Belarus.
 
Tuy nhiên nếu nhìn vào các loại UAV mà Belarus đang có cùng với nhu cầu của Việt Nam thì nhiều khả năng loại UAV mà Việt Nam nhắm tới chính là UAV Grif-1 mà nước này mới thử nghiệm thành công.
 
Grif-1 là loại UAV do thám tầm trung có bán kính hoạt động 100 km. Loại UAV mới này đã được thử nghiệm thành công tại nhà máy sửa chữa máy bay 558. Grif-1 có tải trọng hữu ích 30 kg. Nó có thể mang theo các thiết bị cảm biến cho nhiệm vụ trinh sát chiến thuật, chiến dịch tầm gần đến trung.
 
UAV Grif-1 có tốc độ tối đa 200 km/h, thời gian hoạt động liên tục lên đến 8 giờ, loại UAV này đã được giới quân sự trong và ngoài nước đánh giá rất cao tại triển lãm Interpolitex-2012.
 
8. Máy bay săn ngầm P-3C Orion
 
Phát biểu tại triển lãm An ninh và Quốc phòng LAAD 2013 diễn ra ở thành phố Rio de Janeiro của Brazil, Giám đốc các chương trình tuần tra hải quân của Lockheed Martin, ông Clay Fearnow nói rằng, Hải quân Việt Nam quan tâm đến việc mua được 6 máy bay tuần tra chống ngầm P-3 Orion mà hiện Hải quân Mỹ đang "còn dư" để tăng cường khả năng tuần tra và chống tàu ngầm dọc theo đường bờ biển dài gần 3.500 km và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng khoảng 1.396299 km2.
 
Theo vị quan chức này, những máy bay P-3 Orion Mỹ bán cho Việt Nam sẽ là trường hợp đầu tiên không được bán kèm vũ khí, các máy bay này đang được trang bị độc quyền với kit nhiệm vụ MPA như các cảm biến tìm kiếm mục tiêu hồng ngoại (FLIR) và các hệ thống khác.
 
Việt Nam quan tâm đến máy bay tuần tra chống ngầm P-3C Orion của Mỹ.
Việt Nam quan tâm đến máy bay tuần tra chống ngầm P-3C Orion của Mỹ.
Tuy nhiên, ông lưu ý rằng nếu các cuộc thảo luận giữa Hà Nội và Washington tiến triển tốt thì khả năng xa hơn là trong tương lai, các hệ thống vũ khí trang bị cho máy bay sẽ được cung cấp.
 
Ông Fearnow nói rằng, công ty Lockheed Martin sẽ đề xuất cho Việt Nam nên lựa chọn những máy bay P-3C mới nhất, bởi đây là những máy bay trang bị công nghệ tiên tiến nhất.
 
Máy bay P-3 Orion được thiết kế chủ yếu cho nhiệm vụ: Chống tàu ngầm; chống tàu mặt nước; tuần tra biển; trinh sát. P-3 Orion được trang bị 4 động cơ tuốc bin cánh quạt cho phép đạt tốc độ khoảng 750 km/h, tầm bay hơn 4.000 km, hoạt động liên tục trên không 16 tiếng.
 
P-3 Orion được vận hành bởi phi hành đoàn đông đảo lên tới 11 người. Máy bay có khả năng mang hơn 9 tấn vũ khí trong khoang thân và cánh gồm: tên lửa không đối hạm AGM-84 Harpoon; bom chống tàu ngầm; bom thông thường; ngư lôi chống ngầm; thủy lôi…
 
Với khối lượng vũ khí này, P-3C Orion không chỉ có khả năng săn lùng tàu ngầm mà còn tiêu diệt mục tiêu trên mặt nước và cả mục tiêu trên bộ.
 
9. Xem xét mua hệ thống tác chiến điện tử tối tân Krasuha-2
 
Theo báo chí Nga, trong giữa tháng 9/2013 vừa qua, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã cử một đoàn chuyên gia quân sự cùng với các quan chức của hãng xuất khẩu vũ khí Rosoboronoexport đến thành phố Veliky Novgorod để thăm một trong những công ty quốc phòng hàng đầu của Nga là NPO Kvant, nằm trong thành phần tập đoàn KRET.
 
Theo bộ phận báo chí của Kvant, phía Việt Nam đã tỏ ý muốn tìm hiểu các phương tiện tác chiến điện tử hiện đại và tương lai mà NPO Kvant đang sản xuất. 
 
Việt Nam có thể có hệ thống tác chiến điện tử tối tân Krasuha-2 sau năm 2018.
Việt Nam có thể có hệ thống tác chiến điện tử tối tân Krasuha-2 sau năm 2018.
 
Tại trường thử của Kvant, phái đoàn Việt Nam được trực tiếp giới thiệu hoạt động của các hệ thống của tổ hợp tác chiến điện tử ở chế độ trình diễn thu, phát tín hiệu vô tuyến và gây nhiễu, trong đó bao gồm trạm chế áp điện tử tối tân nhất 1L269 Krasuha-2.
 
Trạm gây nhiễu chủ động đặt trên xe cơ động Krasuha-2 dùng để bảo vệ các khu vực lãnh thổ rộng lớn chống trinh sát, phát hiện bằng radar, cũng như chống các máy bay chỉ huy/báo động sớm và máy bay không người lái... Đây là một trong những hệ thống gây nhiễu điện tử thế hệ mới vừa được Nga hoàn thành kiểm tra nhà nước trong năm 2009 và mới đưa vào trang bị với số lượng hạn chế.
 
Tuy nhiên, theo Giám đốc nhà máy NPO Kvant, ông Kapralov nói rằng, các khí tài tác chiến điện tử mới đang được ưu tiên cung cấp cho quân đội Nga, việc bán các khí tài đó ra nước ngoài chỉ có thể sau năm 2018. Chính vì thế, người ta dự đoán rằng, Việt Nam có thể có khí tài tác chiến điện tử tối tân sau năm 2018.
 
10. Mua tàu chiến Sigma của Hà Lan: Tin vui số 1 trong năm 2013
 
Trong Top 10 thương vụ quốc phòng đáng quan tâm nhất của Việt Nam năm 2013, có lẽ, tin tức đáng mừng nhất chính là việc Việt Nam đã đạt được thỏa thuận mua 2 tàu hộ tống tàng hình lớp Sigma 9814 tối tân của Hà Lan.
 
Theo tiết lộ, thỏa thuận cung cấp 2 tàu chiến Sigma cho Việt Nam sẽ được thông qua vào cuối năm nay, với trị giá có thể đạt tới nửa tỷ Euro (khoảng 668 triệu USD). Trong đó, có sự tham gia hỗ trợ về tài chính của cả Chính phủ Hà Lan.
 
Việt Nam sắp có những chiến hạm tàng hình Sigma tối tân của Hà Lan.
Việt Nam sắp có những chiến hạm tàng hình Sigma tối tân của Hà Lan.
 
Hợp đồng này bao gồm việc đóng 2 tàu hộ tống lớp Sigma, phiên bản Type 9814 có chiều dài 98m và rộng 14m. Tàu được trang bị vũ khí mạnh bao gồm một pháo bắn nhanh Oto Melara, tên lửa chống tàu và hệ thống tên lửa phòng không đặt trong các ống phóng thẳng đứng (VLS) Mica.
 
Thỏa thuận này cũng có sự góp mặt của hãng Thales (chi nhánh ở Hà Lan), tham gia cung cấp các thiết bị điện tử, bao gồm radar, các cảm biến, hệ thống điều khiển hỏa lực và hệ thống chỉ huy, điều khiển trên tàu.
 
Tạp chí quốc phòng Jane’s của Anh thì dẫn nguồn tin tham gia cuộc đàm phán cho biết, Sigma 9814 của Việt Nam sẽ được trang bị hệ thống quản lý chiến đấu TACTICOS; hệ thống radar trinh sát SMART-S MK2 và hệ thống điều khiển hỏa lực STING EO MK2 của Thales.
 
Trong khi đó, tuần báo Kinh doanh của Pháp cho biết rằng, tập đoàn quốc phòng MBDA sẽ tham gia cung cấp tên lửa chống hạm tiên tiến Exocet Block 3 có tầm bắn xa 180km cho tàu chiến Sigma 9814 của Việt Nam.
 
Sở dĩ đánh giá thương vụ mua 2 tàu chiến Sigma được chú ý hơn cả bởi đây là một lớp tàu chiến hiện đại, trang bị những công nghệ đỉnh cao của Hà Lan và các nước phương Tây, các tàu Sigma được có khả năng tàng hình tốt hơn hẳn so với lớp chiến hạm Gepard 3.9 mà Việt Nam mua của Nga.
 
Hơn nữa, các hệ thống vũ khí phương Tây luôn được đánh giá ở "cửa trên" so với vũ khí Nga về hệ thống điện tử và độ tin cậy.
 

Phạm Thái

Thứ Hai, 16 tháng 12, 2013

Tiết lộ dinh dưỡng tối ưu cho thủy thủ tàu Kilo VN.


(Quốc phòng Việt Nam) - Theo các chuyên gia đầu ngành, vấn đề chăm lo sức khỏe cho bộ đội tàu ngầm là yêu cầu mới và cấp bách không những đối với y học Hải quân mà cả ngành quân y của Việt Nam. Hiện đã và đang có những nghiên cứu về chế độ dinh dưỡng cho các lực lượng đặc nhiệm, đặc biệt là thủy thủ tàu ngầm.
 
 Tại buổi Hội thảo khoa học thực tiễn “Y học lao động và vấn đề bảo đảm sức khỏe cho bộ đội tàu ngầm” diễn ra từ ngày 2/12 đến ngày 5/12, Thượng tướng Trương Quang Khánh Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cho biết: ““Chăm lo bảo đảm sức khỏe cho bộ đội tàu ngầm là yêu cầu mới và cấp bách đặt ra không những đối với y học Hải quân mà cả ngành quân y của Việt Nam”.
 
Chia sẻ với báo Đất Việt xung quanh vấn đề đảm bảo dinh dưỡng cho thủy thủ tàu ngầm Việt Nam, PGS.TS bác sĩ Nguyễn Thanh Chò, Chủ nhiệm bộ môn Dinh dưỡng, Bệnh viện 103 – Học viện Quân Y cho biết: 
 
"Chăm lo sức khỏe cho bộ đội tàu ngầm có rất nhiều vấn đề cần bàn đến, trong đó dinh dưỡng là một vấn đề cần được quan tâm. Trước hết, cần nói về những bất lợi về sức khỏe của các thủy thủ khi làm việc dưới tàu ngầm, đã có những kết luận về điều kiện bất lợi chính,  thông thường gồm: tiếng ồn, rung lắc (say sóng), độ ẩm cao, nhiệt độ cao, ô nhiễm không khí và cô lập khép kín.
 
Những kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng những bất lợi của thủy thủy tàu ngầm có thể xảy ra là thiếu chất, mất cần bằng chuyển hóa, ví dụ tiếng ồn và độ rung lớn có thể đè nén hoạt động của dạ dầy, lượng dịch tiêu hóa bị giảm thiểu, ảnh hưởng đến chức năng của hệ tiêu hóa.
 

PGS.TS bác sĩ Nguyễn Thanh Chò, Chủ nhiệm bộ môn Dinh dưỡng, Bệnh viện 103 – Học viện Quân Y
PGS.TS bác sĩ Nguyễn Thanh Chò, Chủ nhiệm bộ môn Dinh dưỡng, Bệnh viện 103 – Học viện Quân Y
 
Nếu ở trong môi trường tiếng ồn của máy móc là 88-107 đexiben (A) thì hàm lượng albumil trong huyết thanh sẽ giảm xuống, còn hàm lượng globulin (G)  trong huyết thanh lại tăng lên, do đó tỷ lệ A/G sẽ giảm đi. Đây có thể là do kết quả của tiếng ồn khiến cho quá trình trao đổi protein tăng mạnh. Tiếng ồn càng cao càng làm tăng thêm sự căng thẳng của thần kinh giao cảm, các chất ađrenalin và pheenon amin thải ra càng nhiều.
 
Công nhân làm việc trong thời gian dài có tiếng ồn của máy móc làm cho hàm lượng cholesterol trong huyết thanh cao hơn so với những người sống trong môi trường không có tiếng ồn. Rung động toàn thân có thể khiến cho hàm lượng đường trong máu hạ xuống và dự trữ đường cũng giảm. Ngoài ra tiếng ồn và độ rung cũng làm thay đổi các chất khoáng như kẽm, magie…
 
Nhiệt độ của môi trường cao cũng làm tiêu hao năng lượng của cơ thể con người. Khi nhiệt độ môi trường 30-40 độ C, thì mỗi khi tăng 1 độ C, năng lượng phải tăng 0,5%, nhịp tim tăng mạnh và còn gây ra sự thiếu cân bằng nước. Các thủy thủ tàu ngầm làm việc trong môi trường nhiệt độ cao, protein, axit amin của cơ thể sẽ tiêu hao nhiều hơn, các vitamin nhóm B và C cũng mất đi nhiều".
 
Theo PGS.TS bác sĩ Nguyễn Thanh Chò, chế độ dinh dưỡng để đảm bảo sức khỏe cho các thủy thủ làm việc dưới tàu ngầm phải đảm bảo những nhu cầu chung tối thiểu là không khí, nước sạch, ánh sáng, nhiệt độ và các nhu yếu phẩm riêng theo tiêu chuẩn riêng để đảm bảo cho các thủy thủ đoàn có thể hoạt động làm việc bình thường cũng như nâng cao khả năng thích nghi và sức chịu đựng trong thời gian đi biển độc lập dài ngày.
 
"Các thủy thủ làm việc dưới tàu ngầm gặp những điều kiện bất lợi như trên dẫn tới chuyên ngành dinh dưỡng cần thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu xây dựng khẩu phần ăn có lợi nhất để giảm thiểu những tác động bất lợi cho thủy thủ tàu ngầm.
 
Môi trường sống trong tàu ngầm là môi trường chật hẹp, ít giao tiếp, tiếp xúc với thế giới bên ngoài; thời gian, công việc lặp đi lặp lại và môi trường, khí hậu đặc biệt, nhất là điều kiện hạn chế về dưỡng khí, ảnh hưởng của nhiệt độ và tiếng ồn trong tàu ngầm sẽ dễ dẫn đến tình trạng căng thẳng thần kinh, thể chất mệt mỏi và dễ xảy ra xung đột giữa các cá nhân" - vị bác sĩ dinh dưỡng nhấn mạnh.
 
Được biết, Bệnh viện 103 đã và đang tham gia nghiên cứu cùng Viện công nghệ mới của Bộ quốc phòng để tạo ra những khẩu phần ăn hợp lýđảm bảo sức khỏe cho bộ đội làm việc trong điều kiện đặc biệt như: đặc công nước, cảnh sát biển, lực lượng phòng chống ma túy…
 
PGS.TS bác sĩ Nguyễn Thanh Chò cho biết, riêng đối với lực lượng tàu ngầm, cần có những công trình nghiên cứu cụ thể để có những khẩu phần ăn tối ưu nhất cho các thủy thủ hoạt động dưới tàu ngầm.
 
Nguyễn Ngân

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

Chiến hạm săn ngầm Trung Quốc có dọa nổi Kilo Việt Nam?


Ngày 28/11, Tân Hoa xã đăng tải thông tin về việc Hải quân Trung Quốc tiến hành hạ thủy tàu hộ vệ hạng nhẹ Project 056 cải tiến có khả năng săn ngầm rất mạnh và sẽ là "sát thủ" đối với lực lượng tàu ngầm trong khu vực.


Tàu hộ vệ hạng nhẹ Project 056
Theo nguồn tin trên, tàu Project 056 phiên bản cải tiến được trang bị thiết bị định vị thủy âm dây kéo, do đó khả năng săn năng săn ngầm được tăng lên rất nhiều.
Theo quan sát, phần đuôi tàu Project 056 phiên bản cải tiến có một cửa mở hình chữ nhật lớn, nơi đây dùng để thả và thu thiết bị định vị thủy âm. Đồng thời, phần giữa đuôi tàu còn có một lỗ tròn khá nhỏ, trên tàu khu trục và hộ tống thì đây thường là lỗ thả và thu thiết bị định vị thủy âm sonar dây kéo.
Sonar kéo có ưu thế to lớn trong tác chiến săn ngầm, con tàu này đều thả hệ thống định vị thủy âm ra từ phần đuôi tàu, do đó ít bị gây nhiễu bởi tiếng ồn của tàu, hơn nữa còn có thể chọn những lớp nước có lợi để hoạt động.
Tàu hộ vệ hạng nhẹ Project 056 trong lễ hạ thủy
Tàu hộ vệ hạng nhẹ Project 056 trong lễ hạ thủy
Thiết bị định vị thủy âm ở độ nước sâu khác nhau (VDS) là thiết bị định vị thủy âm chủ động, nguyên lý tương tự radar, phát ra âm thanh trong biển lớn, đập vào thân tàu ngầm sẽ phản hồi trở lại, dùng để phát hiện tàu ngầm, thiết bị này dài mấy mét, độ sâu hoạt động chỉ mấy chục mét, khoảng cách tác dụng chỉ hơn 10 hải lý; còn thiết bị định vị thủy âm bị động, không tự phát ra âm thanh, dựa vào nghe động tĩnh của tàu ngầm, độ sâu hoạt động có thể đạt vài trăm cho đến nghìn mét, khoảng cách tác dụng có thể đạt 100 hải lý.
Nếu 2 loại thiết bị định vị thủy âm của tàu Project 056 thực sự đầy đủ thì có khả năng cảnh giới tầm xa, một khi phát hiện manh mối của tàu ngầm, sẽ có thể tiếp cận mục tiêu khả nghi, thả thiết bị định vị thủy âm VDS để chủ động tìm kiếm. Cộng với máy bay trực thăng của tàu hộ vệ Project 056, năng lực tìm kiếm tàu ngầm của tàu chiến nhỏ này đã dần được hoàn thiện.
Tuy tàu Project 056 đã có khả năng tìm kiếm tàu ngầm toàn diện và tiên tiến, nhưng nó hoàn toàn không có kho chứa máy bay trực thăng, chỉ có một nơi đậu máy bay lộ thiên. Không gian nhỏ hẹp của loại tàu này cũng chỉ có thể mang theo máy bay trực thăng săn ngầm hạng nhẹ Z-9C, chứ không có nhiều khả năng trang bị máy bay trực thăng săn ngầm hạng nặng Ka-28.
Tàu ngầm Kilo Hà Nội
Tàu ngầm Kilo Hà Nội
Tàu Project 056 có dọa nổi Kilo Việt Nam?
Vì vậy tàu Project 056 có thực sự nguy hiểm đối với các tàu ngầm của các nước trong khu vực, đặc biệt là tàu ngầm Kilo của Việt Nam?
Trang mạng Công nghiệp Quân sự Nga cho biết, tàu ngầm Việt Nam đặt mua của Nga là biến thể cải tiến của Project 636 Varshavyanka - thế hệ tàu ngầm thứ 3. Kilo có hoả lực mạnh, có khả năng săn tìm mục tiêu cực kỳ hiệu quả khi tác chiến ở vùng biển xa bờ, tiếng ồn khi hoạt động gần như bằng không nên rất khó bị phát hiện.
Cụ thể, tàu ngầm Kilo 636 Việt Nam được trang bị hệ thống định vị thủy âm thụ động kỹ thuật số MGK-400EM. Bên cạnh đó, tàu ngầm Kilo Việt Nam còn được trang bị hệ thống định vị thủy âm phát hiện mìn và tránh va chạm MG-519EM.
MGK-400EM là hệ thống định vị thủy âm mạng pha kỹ thuật số thụ động, các mảng an-ten chủ yếu được làm bằng vật liệu gốm áp điện chế tạo theo công thức mới, cho phép cải thiện đầu dò điện âm cũng như tăng số lượng mục tiêu có thể theo dõi cùng lúc với khoảng cách 150km.
MGK-400EM có những tính năng: Đo lường và kiểm soát tiếng ồn trong điều kiện gây nhiễu, cũng như dự đoán về phạm vi hoạt động của sóng siêu âm trong các chế độ chính. Màn hình hiển thị kết hợp dữ liệu của 2 hệ thống MGK-400EM và MG-519EM nên cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về các mục tiêu do hệ thống MGK-400EM phát hiện được, các mối đe dọa như mìn, ngư lôi đang đến gần, cũng như những va chạm có thể có mà hệ thống MG-519EM xác định được.
Ngoài ra, hệ thống vũ khí của tàu ngầm Kilo Việt Nam còn được trang bị hệ thống vũ khí mạnh bao gồm: Sáu ống phóng ngư lôi cỡ 533mm cùng cơ số 18 quả ngư lôi các loại (bố trí 6 quả sẵn trong ống phóng) và 12 quả dự trữ. Các ống phóng ngư lôi này cũng được sử dụng để bắn các loại mìn chống tàu chuyên dụng với 24 quả được đặt sẵn trong khoang.
Đặc biệt, tàu ngầm Kilo Project 636 của Việt Nam còn được bị hệ thống tên lửa hành trình tấn công đa năng Klub-S với các loại tên lửa đạn tên lửa chống tàu siêu thanh, tấn công mặt đất, tấn công tàu ngầm tầm xa, độ chính xác cao, sức công phá mạnh mẽ.
Với những khả năng của mình, tàu ngầm Kilo của Việt Nam sẽ là nỗi ám ảnh của bất kỳ con tàu nào kể cả tàu ngầm và tàu nổi.
T.Thành (Tổng hợp)

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

Mỹ chê các chiến hạm Nga đang áp sát Syria.



-Nói về sức mạnh chiến hạm Nga áp sát Syria, ngay cả chuyên gia Nga cũng cho rằng: "Mỹ chỉ cần 20 phút để tiêu diệt tàu chiến của Nga"?
Trong một tuyên bố tại phiên điều trần của Ủy ban đối ngoại Thượng viện Mỹ về vấn đề Syria, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ - Tướng Martin Dempsey tỏ ra khá kiêu ngạo: “Nga là siêu cường nếu xét dưới góc độ vũ khí hạt nhân. Còn về lĩnh vực vũ khí thông thường, tôi không xếp họ vào danh sách những nước lớn“. (Trong ảnh: Tàu đổ bộ Đô đốc Nevelsky)
Nguyên nhân của những tuyên bố trên theo đánh giá của các chuyên gia là đội tàu chiến của Hải quân Nga đã quá già cỗi, phần lớn các trụ cột cho sức mạnh tác chiến của Hải quân Nga hiện nay đều là những tàu chiến được đóng theo công nghệ đóng tàu những thập niên 70-80. Sự lạc hậu về công nghệ có thể được bù đắp bằng việc cập nhật những hệ thống mới nhưng sự già cỗi về tuổi tác thì không gì có thể bù đắp được. (Trong ảnh: Tàu khu trục chống ngầm Admiral Panteleyev)
Các tàu chiến của Hải quân Nga đang đóng quân ở Địa Trung Hải đều là những lão làng của hải quân thế giới. Tàu khu trục Smetlivy được đưa vào sử dụng từ năm 1969, tàu khu trục chống ngầm Admiral Panteleyev (lớp Udaloy) đưa vào hoạt động từ năm 1990, tàu khu trục Nastoychivyy (lớp Sovremenny) đưa vào hoạt động từ năm 1992, tàu đổ bộ Alexander Shabalin hoạt động từ năm 1986, tàu đổ bộ Đô đốc Nevelsky hoạt động từ năm 1975.Tuần dương hạm mang tên lửa điều khiển Moskva được đưa vào sử dụng từ năm 1976. (Trong ảnh: Tàu khu trục Nastoychivyy)
Như vậy có thể thấy ngay rằng gánh nặng tuổi tác đang đè nặng các chiến hạm Nga tại Địa Trung Hải. Trong khi đó, với lực lượng tàu khu trục của Mỹ đang áp sát Syria, chiếc “già nhất” là USS Barry (DDG-52) được đưa vào sử dụng từ năm 1992. (Trong ảnh: Tàu USS Barry)
Thêm một yếu tố nữa khiến Mỹ tỏ ra xem nhẹ sức mạnh tàu chiến Nga, đó là sự lạc hậu về công nghệ. Những tàu chiến của Hải quân Nga đều được đóng theo công nghệ thập niên 70-80, so với những tàu khu trục được đóng theo công nghệ thập niên 90 của Mỹ thì sự tụt hậu về công nghệ là điều không thể tránh khỏi. Mặc khác, hệ thống điện tử luôn là điểm yếu cố hữu của Nga, luôn có một khoảng cách nhất định về độ tinh vi giữa các hệ thống điện tử của Nga và Mỹ. (Trong ảnh: Tàu khu trục lớp Arleigh Burke)
Các tàu khu trục lớp Arleigh Burke và tuần dương hạm Ticonderoga là những tàu chiến đầu tiên trên thế giới được trang bị loại radar mạng pha 3D AN/PSY-1 với các mảng ăng-ten được bố trí bao quát 360 độ xung quanh tàu. Đây là một thiết kế đỉnh cao của công nghệ radar trên tàu chiến và trên thế giới không có loại có tính năng tương tự. Điểm mạnh của radar này là sự tinh vi, nó có thể phát hiện mục tiêu cỡ quả bóng goft từ khoảng cách tới 165km, phát hiện mục tiêu tên lửa đạn đạo ở cự ly tối đa 310km. (Trong ảnh: Tàu khu trục lớp Arleigh Burke)
Tàu khu trục Nastoychivy, tuần dương hạm Moskva, tàu khu trục chống ngầm Đô đốc Panteleyev cũng được trang bị radar 3D với phạm vi tìm kiếm mục tiêu tới 500km nhưng ăng-ten của các radar này phải quay xung quanh tàu để phát hiện mục tiêu. Như vậy, sẽ có một khoảng trống nhất định khi radar quét đủ một vòng xung quanh tàu, trong khi đó tàu chiến của Mỹ không bị hạn chế về điểm này. (Trong ảnh: Tàu khu trục lớp Arleigh Burke)
Các tàu khu trục lớp Arleigh Burke và tuần dương hạm Ticonderoga là những tàu chiến duy nhất trên thế giới hiện nay được trang bị hệ thống chiến đấu Aegis tối tân. Aegis là viết tắt của cụm từ Airbonne Early-waring Ground Intergration Segment (Bộ phận hợp nhất thông tin cảnh báo sớm đường không trên mặt đất). (Trong ảnh: Tuần dương hạm Ticonderoga)
Đây là hệ thống chiến đấu công nghệ cao tích hợp được thiết kế để đối với tất cả các loại mục tiêu trên biển, trên không, dưới nước, mang lại khả năng tấn công và phòng thủ toàn diện. Nói chung, Aegis là một khái niệm công nghệ phát hiện, theo dõi, tấn công mục tiêu cực kỳ phức tạp. Đến nay, Aegis vẫn là hệ thống chiến đấu có “1-0-2” trên thế giới. Chỉ riêng ở khía cạnh này thì không một tàu chiến nào của Nga có thể so sánh được. Aegis sẽ là hệ thống chiến đấu số 1 thế giới, ít nhất là trong nhiều thập kỷ nữa. (Trong ảnh: Tàu khu trục lớp Arleigh Burke)
Thêm một hạn chế nữa của tàu chiến Nga mà các chuyên gia Mỹ vạch ra, theo đó Hải quân Nga đã phát triển quá nhiều lớp tàu chiến với nhiệm vụ, vũ khí, hệ thống điện tử tương đối khác nhau. Ví dụ, các tàu khu trục chống ngầm lớp Udaloy quá thiên về nhiệm vụ chống ngầm, tàu khu trục lớp Sovremenny lại quá thiên về nhiệm vụ chống tàu mặt nước, tuần dương hạm tên lửa Moskva lại nhắm đến các tàu sân bay Mỹ. Các tàu chiến Nga tỏ ra yếu thế khi hoạt động đơn lẻ nên cần phải có sự hỗ trợ của những tàu chiến khác. Trong khi đó, năng lực tấn công chủ lực của Hải quân Mỹ chỉ tập trung vào 2 lớp tàu là tàu khu trục lớp Arleigh Burke và tuần dương hạm Ticonderoga. (Trong ảnh: Tàu đổ bộ Alexander Shabalin)
Những tàu này có hệ thống điện tử, vũ khí gần như tương đồng nhau, mỗi tàu có thể thực hiện tất cả các nhiệm vụ cùng lúc. Hệ thống vũ khí trên tàu được thiết kế theo kiểu module, đơn cử như ống phóng MK41 có thể sử dụng để phóng tất cả các loại vũ khí, từ tên lửa hành trình tấn công mặt đất, tên lửa phòng không, tên lửa chống ngầm. Chỉ có tên lửa chống hạm không thể phóng trong ống phóng thẳng đứng nên phải bố trí riêng. (Trong ảnh: Tàu khu trục lớp Arleigh Burke)
Mỗi tàu khu trục của Mỹ có thể mang theo tới 96 tên lửa các loại, tổng cộng 5 tàu khu trục có thể mang theo tới 480 tên lửa các loại. Trong khi đó, loại tàu chiến lớn nhất của Nga ở Địa Trung Hải là tuần dương hạm lớp Slava chỉ có thể mang theo tối đa 80 tên lửa các loại, những tàu khác chỉ có khả năng mang tối đa 56 tên lửa các loại và không có khả năng tấn công mặt đất. (Trong ảnh: Tàu khu trục lớp Arleigh Burke)
Các tàu chiến của Mỹ khi hoạt động cùng nhau tạo nên sự tương tác nhiệm vụ rất cao, tạo nên mạng lưới tấn công và phòng thủ có chiều sâu. Trong khi đó khả năng tương tác giữa các tàu chiến Nga không cao do mỗi tàu có hệ thống điện tử và hệ thống điều khiển riêng. (Trong ảnh: Tuần dương hạm Moskva)
 
Nếu các tàu chiến Mỹ dồn tên lửa vào một tàu chiến Nga thì khả năng bị đánh chìm gần như 100%, trong khi đó, nếu tàu chiến Nga dồn tên lửa vào một tàu chiến Mỹ thì những tàu khác xung quanh hoàn toàn có thể can thiệp đánh chặn do họ sử dụng chụng một hệ thống điều khiển và vũ khí. (Trong ảnh: Tàu khu trục Smetlivy)
Xét về mặt lực lượng, các tàu chiến Nga đang đồn trú tại Địa Trung Hải hoàn toàn lép vế so với lực lượng tàu khu trục Mỹ, chưa kể đến tàu sân bay và các tàu ngầm tiến công hạt nhân khác ở dưới nước. Tuy nhiên, trên đây chỉ là những so sánh mang tính lý thuyết, dựa trên các thông số kỹ thuật của tàu chiến đôi bên, bởi khi bước vào một cuộc chiến thực tế rất khó để nhận định ai sẽ thắng ai. Trong ảnh: Tuần dương hạm Moskva

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Một ngừoi đồng đội hải quân đã đi về nơi xa lắm!

Nguyễn hoài Nam cựu chiến binh Hải quân đã từ trần sáng ngày 28/10/2013 tại 28 b Điện biên Phủ ,Quận Ba Đình ,HN.Xin chia buồn cùng gia đình Nam.Mong Nam yên nghỉ .

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

Cam Ranh và Subic–Sự khác biệt tạo vị thế Việt Nam.


(Quốc phòng Việt Nam) - Vai trò vị trí quan trọng của Cam Ranh (Việt Nam) và Subic (Philippines) trên Biển Đông tuy có thể là giống nhau, nhưng sách lược sử dụng nó đã tạo ra sự khác biệt Việt Nam và Philippines.


Chẳng cần phải nói rõ vị trí, tầm quan trọng của Cam Ranh và Subic trên Biển Đông làm gì, vì ai cũng hiểu. Chỉ biết rằng, Cam Ranh và Subic đã từng đối đầu nhau trong cuộc chiến tranh lạnh. Khi đó Liên Xô và Việt Nam là liên minh quân sự với nhau và Liên Xô lấy Cam Ranh làm căn cứ, còn Mỹ thì liên minh quân sự với Philippines và lấy Subic làm căn cứ.
Thời thế đổi thay, Cam Ranh và Subic không còn là căn cứ quân sự của nước ngoài nào nhưng trước sự trỗi dậy của Trung Quốc kéo theo tình hình tranh chấp căng thẳng trên Biển Đông, một lần nữa, Cam Ram Ranh, Subic lại được sự quan tâm lớn của giới quân sự, ngoại giao và của các bên liên quan.
Tại sao Philippines “không còn gì để mất” với Trung Quốc?
Tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines xảy ra quyết liệt khi bãi cạn Scarborough bị Trung Quốc dùng tàu cá có hộ tống của tàu Hải giám chiếm đoạt và bãi Cỏ May (một trong 9 đảo của quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà Philippines đang chiếm) đang bị Trung Quốc lăm le chiếm nốt khi tuyên bố chủ quyền ngang ngược.
Thực tế thì đã có vài lần Philippines đàm phán “song phương” với Trung Quốc nhưng ở vào thời điểm thế lực của Hải quân quá yếu trong khi tham vọng của Trung Quốc quá lớn, không thể kiềm chế, thì đàm phán trong vị thế đó làm sao thành công cho Philippines.
Rốt cuộc, khi Philippines đã thấm hiểu được “ý chí” của Trung Quốc thì cái giá phải trả là mất bãi cạn Scarborough. Và, cho đến giờ, phải chăng giữa Trung Quốc và Philippines thì “không còn gì để nói với nhau”, “các biện pháp ngoại giao đã cạn” trong tranh chấp chủ quyền trên biển?
Philippines kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế vì vi phạm UNCLOS với cái gọi là “đường lưỡi bò”; Philippines tăng cường sức mạnh với tốc độ nhanh cho lực lượng Hải quân, không quân; Philippines làm mới nóng liên minh quân sự với Mỹ; Philippines là nước ở châu Á-TBD duy nhất công khai bày tỏ ủng hộ Nhật Bản tái vũ trang…là sự đáp trả rất quyết liệt, nhưng với Trung Quốc, nếu chỉ vậy thôi thì đây là chuyện nhỏ. Philippines sử dụng căn cứ Subic như thế nào mới là chuyện lớn, đáng quan tâm, lo ngại của Trung Quốc.
Rõ ràng là cả Trung Quốc và Philippines đều biết chính xác là Mỹ không đem quân sang để đánh nhau với Trung Quốc bởi mấy đảo đá, bãi cạn của Philippines tranh chấp vì đó không phải là lợi ích quốc gia của Mỹ. Philippines cũng đã có bài học của Gruzia quá tin vào NATO, Mỹ sẽ đối đầu quân sự với Nga nên có hành động “xỉa răng cho cọp”.
Nói chung, ít có một quốc gia nào đi bảo vệ một quốc gia nhỏ bé mà sẵn sàng đụng đầu với một đối thủ ngang ngửa, đặc biệt quốc gia  thực dụng như Mỹ thì không bao giờ có.
Hiện diện quân sự của Mỹ ở Subic không phải cùng trực tiếp với Philippines tranh chấp chủ quyền mà để không chế Biển Đông và eo biển Malacca khi cần, ngăn cản Trung Quốc đang ham muốn và ráo riết thực hiện.
Khi Mỹ hiện diện tại Subic thì cái gọi là “vòng dây xiết quanh cổ Trung Quốc” càng chặt lại là điều Trung Quốc, một siêu cường, không thể chấp nhận.
Có thể nói, đụng độ tranh chấp với Philippines, Trung Quốc đã không ngờ gây ra một mâu thuẫn trong chiến lược Biển Đông rất khó giải quyết. Đó là, Trung Quốc phải lựa chọn giữa việc đẩy Mỹ ra khỏi Biển Đông hay lôi thôi với mấy cái đảo đá chìm để “dọn chỗ VIP trên Biển Đông” cho Mỹ…
Đương nhiên, muốn chiếm Biển Đông và khống chế eo biển Malacca thì Trung Quốc bắt buộc không những phải loại bỏ Philippines, Mỹ mà còn các quốc gia liên quan khác nhưng không phải, không thể bây giờ.
Tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc trên Biển Đông bằng thế lực Philippines bây giờ là quá khả năng, do đó, chỉ có thể dựa vào Mỹ để “mặc cả, chia chác” với Trung Quốc có lợi nhất hơn là không có gì.
Nên nhớ rằng, quần đảo Trường Sa là của Việt Nam, do đó, mọi thỏa thuận của bất cứ quốc gia nào với nhau trên quần đảo Trường Sa là phi pháp.
 Vị trí xuất phát tấn công bảo vệ chủ quyền biển đảo của hạm đội tàu ngầm Hải quân Việt Nam chỉ có thể là quân cảng Cam Ranh
Vị trí xuất phát tấn công bảo vệ chủ quyền biển đảo của hạm đội tàu ngầm Hải quân Việt Nam là quân cảng Cam Ranh
Cam Ranh, Việt Nam đủ khả năng khai thác, sử dụng
Philippines và Việt Nam cũng có tranh chấp căng thẳng về chủ quyền biển đảo với Trung Quốc. Cam Ranh của Việt Nam còn có lợi thế hơn Subic nhiều lần…Vậy tại sao Việt Nam và Philippines có cách khai thác sử dụng 2 cảng nổi tiếng đó khác nhau?
Philippines có liên minh quân sự với Mỹ nên không sợ Trung Quốc tấn công. Việt Nam không liên minh quân sự với ai cả nên phải tăng cường cảnh giác, tự lực tự cường, “thắt lưng buộc bụng” để nâng cao năng lực phòng thủ bảo vệ Tổ quốc sẵn sàng giáng trả quân xâm lược, bắt chúng phải trả giá đắt.
Với Cam Ranh, giới quân sự thì đánh giá Cam Ranh có một vị trí vô cùng quan trọng và lợi hại trong khu vực. Rằng, ai có Cam Ranh thì khống chế được Biển Đông, ai có Trường Sa cũng khống chế được Biển Đông và cuối cùng thì ai khống chế được Biển Đông là làm chủ toàn khu vực…
Điều lý thú  là Việt Nam có cả Cam Ranh và Trường Sa nhưng lại không có ý tưởng khống chế Biển Đông để làm chủ khu vực ngay cả khi nếu có đủ khả năng để phục vụ cho ý tưởng đó.
Việt Nam đã, đang chỉ có đủ khả năng, tìm mọi khả năng, tăng cường mọi khả năng, sử dụng, khai thác một cách hợp lý, sáng tạo vị trí Cam Ranh, Trường Sa nhằm một mục đích là bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên Biển Đông được quốc tế công nhận mà không nhằm làm hại hay để đối phó với một quốc gia nào.
Đó cũng là điều giải thích rõ ràng quan điểm nhất quán của Việt Nam là không liên minh quân sự với quốc gia nào để chống nước thứ 3 (lẽ dĩ nhiên điều đó đồng nghĩa với việc sẽ không có chuyện cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự).
Cho nên, Cam Ranh chỉ là căn cứ quân sự liên hợp gồm không quân, hải quân hiện đại của Việt Nam, chỉ phục vụ mục đích quân sự duy nhất cho Việt Nam. Đồng thời, Cam Ranh cũng là nơi cung cấp dịch vụ (hàng hải, hậu cần, kỹ thuật) cho tàu thuyền quân sự hay dân sự của bất cứ quốc gia nào.
Đó cũng là sự khác biệt giữa Việt Nam và Philippines. Sự khác biệt đó bắt nguồn từ vị trí địa lý quốc gia, từ tính cách dân tộc và đặc biệt là từ năng lực bảo vệ chủ quyền…của 2 quốc gia khác nhau.
Tại sao Cam Ranh của Việt Nam không giống như Subic của Philippines? Tại sao Việt Nam không liên minh quân sự với cường quốc số 1 hay số 2 thế giới để dựa dẫm vào họ?...
Ít nhiều ta đã có câu trả lời.
Lê Ngọc Thống(báo Đất Việt)

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Những tàu ngầm Kilo Việt Nam đặt mua có tên gì ?

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

Tàu ngầm Kilo giữa Việt Nam và Ấn Độ khác nhau như thế nào ?

(TNO) Chiếc tàu ngầm lớp Kilo INS Sindhurakshak bị nổ hôm 14.8 của Ấn Độ thuộc một đề án khác và ít hiện đại hơn so với các tàu ngầm lớp Kilo mà Việt Nam mua của Nga.

Tàu ngầm lớp Kilo là tên gọi định danh của NATO để chỉ loại tàu ngầm chạy bằng điện và diesel cỡ lớn của Liên Xô trước đây.
Sáu tàu ngầm lớp Kilo mà Việt Nam đặt mua của Nga dù cũng được gọi là tàu ngầm lớp Kilo song thuộc Đề án 636 Varshavyanka mà phương Tây thường gọi là lớp Kilo cải tiến.
Trong khi đó, 10 tàu lớp Kilo của Ấn Độ thuộc đề án cũ hơn là Đề án 877EKM.
Sự khác biệt giữa tàu ngầm lớp Kilo của Việt Nam và Ấn Độ
 Tàu ngầm thuộc Đề án 636 Varshavyanka - Ảnh: fas.org
Đề án 877EKM được xem là phiên bản của loại tàu ngầm lớp Kilo gốc thuộc Đề án 877. Thừa hưởng những ưu việt của tàu ngầm thuộc Đề án 877EKM và được cải tiến đáng kể, tàu ngầm lớp Kilo thuộc Đề án 636 Varshavyanka được xem là bước trung gian giữa tàu ngầm lớp Kilo chuẩn và tàu ngầm lớp Lada.
Tàu ngầm thuộc Đề án 636 Varshavyanka được cải tiến về tầm hoạt động, hỏa lực, đặc tính âm thanh và sức bền. Với chiều dài 73,8 mét, tàu ngầm Đề án 636 Varshavyanka dài hơn 1,2 mét so với tàu Đề án 877EKM.
Độ dài bổ sung cho phép tăng công suất của các máy phát điện và gắn chúng trên hệ thống giảm xóc cải tiến, và giảm gấp đôi tốc độ trục truyền động chính. Nhờ những cải tiến này, tốc độ của tàu ngầm và sức chịu đựng trên biển được gia tăng trong khi độ ồn giảm triệt để, theo trang Global Security. Tàu ngầm thuộc Đề án 636 Varshavyanka có tầm hoạt động khi thông hơi là 7.500 hải lý so với tầm hoạt động 6.000 hải lý của tàu ngầm thuộc Đề án 877EKM.
Chính nhờ những đặc tính này mà tàu ngầm lớp Kilo thuộc Đề án 636 Varshavyanka được hải quân Mỹ mệnh danh là “Lỗ đen” bởi khả năng lẩn tránh của nó.
Về trang thiết bị vũ khí, tàu ngầm Đề án 636 Varshavyanka được trang bị dàn phóng 6 ống ngư lôi loại 533 mm. Tàu có thể mang theo 18 ngư lôi với 6 quả được đặt trong ống phóng và 12 quả chứa trong khoang. Các ống phóng ngư lôi này còn có thể dùng để thả thủy lôi.
Có hai ống phóng ngư lôi được thiết kế phóng ngư lôi điều khiển từ xa với độ chính xác cao. Hệ thống điều khiển bằng máy tính cho phép nạp ngư lôi nhanh chóng. Chỉ cần 15 giây để các ống phóng ngư lôi sẵn sàng khai hỏa.
Khả năng tác chiến của tàu ngầm thuộc Đề án 636 Varshavyanka được gia tăng đáng kể nhờ được trang bị tên lửa đối hạm 3M-54E Club-S. Đây là loại tên lửa mà tàu INS Sindhurakshak của Ấn Độ được trang bị trong lần đại tu ở Nga mới đây.
Với tầm bắn tới 220 km và mang theo đầu đạn 450 kg, tàu ngầm thuộc Đề án 636 Varshavyanka có thể tấn công nhanh, từ xa mà không cần phải tiếp cận tầm phát hiện và tấn công của tàu địch. Ngoài ra, tàu còn có môt hệ thống phóng tên lửa phòng không Strela-3 có tầm bắn tối đa 6 km.
Sơn Duân

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

Ván bài lật ngửa ở biển Đông.

Trong suốt giai đoạn từ năm 1964-1974 trong các khu vực trinh sát các hoạt động tác chiến của Mỹ ở Việt Nam, đơn vị OSNAZ đã có 17 tàu trinh sát của hải đoàn hoạt động, tiến hành 94 chuyến hải hành với thời gian mỗi chuyến từ 3 – 4 tháng.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô. Gần như mỗi tuần từ các bến tàu của hải cảng Vladivostok hướng đến cảng Hải Phòng các tàu vận tải của hãng vận tải Viễn Đông chở đầy vũ khí,trang thiết bị quân sự và hàng hóa khác. Việt Nam nhận được các máy bay chiến đấu Liên Xô, các tổ hợp tên lửa phòng không và tên lửa, pháo phòng không các loại. Do Liên Xô tuyên bố chính thức không tham gia trực tiếp cuộc chiến nên các tàu vận tải dân sự Xô Viết không được trang bị vũ khí phòng không, các tàu vận tải chỉ được bảo vệ bằng quốc kỳ Liên Xô, được vẽ rất to trên boong tàu. Tất nhiên, các phi công Mỹ buộc phải nhìn thấy khi tấn công và phong tỏa Hải Phòng.
Trong tình huống chiến tranh phức tạp và nguy hiểm như vậy, hiệp đồng tác chiến với lực lượng phòng không Việt Nam là lực lượng trinh sát điện tử trên biển của Hải quân Liên Xô, nhiệm vụ nặng nề này được giao cho lực lượng Hạm đội Thái Bình Dương. Trước khi không quân Mỹ bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại, hệ thống trinh sát ven biển và hệ thống trinh sát hạm đội nhận nhiệm vụ chung là nắm bắt tình hình chiến sự tại khu vực Vịnh Bắc Bộ, tập trung chủ yếu vào mục đích phát hiện kịp thời những hoạt động chuẩn bị chiến tranh của Mỹ chống Việt Nam. Từ những tin tức tình báo thu được, Bộ tổng tham mưu lực lượng vũ trang Xô Viết quyết định triển khai sớm lực lượng trinh sát trên biển của Hạm đội Thái Bình Dương. Quyết định này đã đóng góp một phần rất lớn cho việc làm rõ các tình huống sự kiện Vịnh Bắc bộ đồng thời cung cấp kịp thời những thông tin trinh sát các hoạt động của hạm đội 7 Mỹ trên biển Đông.
Thời gian này, các tàu trinh sát đang nằm trong biên chế của tiểu đoàn trinh sát điện tử số 169 OSNAZ và neo đậu tại bến tàu số 37 tại Vladivostok, gần tượng đài Nevelsky. Tiểu đoàn trường đại úy hạng II A.I. Procenko, sau đó là đại úy hạng II Plotkin. Đây là những chiếc tàu đánh cá loại nhỏ và vừa, được lắp đặt dày đặc bên trong đủ các loại trang thiết bị khí tài trinh sát điện tử. Tiến hành các hoạt động trinh sát là các chiến sĩ đặc nhiệm của đơn vị hải quân tác chiến điện tử (OMRTO).
Nhóm trinh sát điện tử trên biển có khoảng 20 người với các bộ khí tài biên chế có khả năng bắt được hầu hết tất cả các loại phương tiện và các phương pháp thông tin liên lạc, theo dõi các đường dây thông tin liên lạc, tiến hành trinh sát và phát hiện các đài thu phát radars đối phương. Các chuyên gia trinh sát điện tử phải nhìn và phát hiện chính xác bằng mắt thường tất cả các mục tiêu di động trên biển và trên không theo hình dáng của nó. Trong biên chế, các tàu trinh sát điện tử này trực thuộc lực lượng hải quân Xô Viết, quân nhân được mặc thường phục. Điều đó đã làm lên huyền thoại của đơn vị trinh sát. Các tàu trinh sát thường ra khơi rất bí mật, vào những đêm tối trời và quay về căn cứ cũng tương tự như vậy. Các tàu neo đậu yên lặng ở bến tàu số 37 và không gây bất kỳ một sự chú ý nào của mọi người.
Lực lượng đặc nhiệm trên Biển Đông
Những năm đầu của cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam đã khẳng định tính ưu việt và hiệu quả rất cao của trinh sát điện tử trên biển. Những thông tin nhận được của trinh sát điện tử trên biển rất đầy đủ và có giá trị rất cao, vượt xa các nguồn thông tin trinh sát tình báo khác. Hơn nữa, các thông tin tình báo và trinh sát điện tử thu được rất kịp thời. Hoàn toàn trong thời gian thực, hàng ngày Bộ tham mưu hạm đội Thái Bình Dương, Cục tình báo lực lượng vũ trang Liên Xô nhận được các tin tức trinh sát ngay trong vùng chiến sự trên biển Đông.
Tương tự như ngày nay chúng ta xem chương trình TV “Vremia – Time”. Tất cả có được là nhờ công sức và sự cố gắng vô tận của đại úy hạng 1 N.P.Sotnhicov (sau này là chuẩn đô đốc hải quân Liên bang) chỉ huy trưởng lực lượng trinh sát và tình báo hạm đội Thái Bình Dương. Ông đã nỗ lực rất nhiều để tăng cường năng lực hoạt động của đơn vị tình báo – trinh sát trên biển, theo yêu cầu bức thiết của tình hình. Trong những tình huống đó, kể cả có va chạm với các lãnh đạo quân sự cao cấp của Liên bang, ông cũng kiên quyết đấu tranh để đạt được quyết định biên chế tổ chức trong lực lượng Hải quân Xô viết cụm tàu tình báo – trinh sát đặc nhiệm trên biển.
Ngày 1.10.1969 tại căn cứ của đơn vị hải quân tác chiến điện tử (OMRTO) số 19, trong biên chế có tiểu đoàn độc lập 169 OSNAZ đã thành lập hải đoàn trinh sát điện tử OSNAZ thuộc hạm đội Thái Bình Dương, trong biên chế của Hải đoàn có 15 tàu trinh sát biển, 19 phân đội trinh sát điện tử và radar với 10 nhóm trinh sát cơ động OSNAZ và 203 căn cứ bí mật trên bờ biển. Trong biên chế của hài đoàn có các tàu trinh sát hạng trung như "Gabriel Sarychev," "Hydrograph", "Bearing" các tàu trinh sát nhỏ như "Hydrology", "Aneroid", "Kursograf", "Izmeritel", "Protractor", "Ammeter", "Barograph", "Hydrophone", "Deflector" "Kirby" "Ungo" "Usach".
Theo tên gọi thì đó hoàn toàn là các tàu đo đạc, theo dõi thủy văn môi trường. Chỉ huy trưởng của hải đoàn là đại úy – thuyền trưởng hạng 1 Dmitry Timofeevich Lukash, đã từng tham gia Chiến tranh thế giới thứ II. Nhờ những nỗ lực và sự cố gắng của ông, hải đoàn trở thành trường học nghiêm khắc và tài năng thật sự cho các sĩ quan chỉ huy lực lượng tình báo – trinh sát của Hải quân và Hạm đội, các hải đoàn trưởng, các thuyền trưởng và các phân đội trinh sát. Nhiều người đã trải qua các thử thách khốc liệt trong chiến tranh Việt Nam.
Sơ đồ cơ động của các cụm không quân hải quân công kích Mỹ trên Vịnh Bắc Bộ
Sơ đồ cơ động của các cụm không quân hải quân công kích Mỹ trên Vịnh Bắc Bộ.  
Trong giai đoạn từ ngày 4.1964 đến 31.12.1974, các tàu trinh sát hải quân Xô Viết hoạt động chủ yếu trong khu vực biển Đông, Vịnh Bắc bộ và khu vực quanh căn cứ Guam của Mỹ, ngoài những nhiệm vụ tình báo quân sự, các tàu trinh sát đã tiến hành các hoạt động trinh sát nhằm cung cấp thông tin chiến dịch, chiến thuật của không quân hải quân Mỹ cho các lực lượng phòng không Việt Nam và lực lượng phòng thủ bờ biển Miền Bắc Việt Nam. Những nhiệm vụ chủ yếu là:
- Trực tiếp theo dõi các cụm máy bay tấn công của không quân hải quân Mỹ, xác định khu vực máy bay Mỹ sẽ tiến hành các hoạt động tập kích đường không;
- Cảnh báo sớm bộ tổng tư lệnh lực lượng Hải quân Liên Xô và hạm đội Thái Bình Dương về sự chuẩn bị các đợt không kích, thời gian cất cánh của các không đoàn máy bay hải quân Mỹ trên tàu sân bay vào miền Bắc Việt Nam.
- Phát hiện và làm rõ các thủ đoạn chiến thuật mà các không đoàn hải quân Mỹ sẽ sử dụng để không kích miền Bắc cũng như các tuyến đường cơ động của các chiến hạm Mỹ khi tiến hành phong tỏa Vịnh Bắc Bộ. 
Các tàu trinh sát hoạt động trên khoảng 3 dặm cách vịnh Apra thuộc đảo Guam, nơi có căn cứ đóng quân của hải đoàn tàu ngầm hạt nhân Mỹ mang tên lửa đạn đạo "Polaris-Poseidon", ngoài những nhiệm vụ chính là theo dõi hoạt động của các tàu ngầm chiến lược mang tên lửa, còn thực hiện nhiệm vụ phát hiện các chuyến bay của máy bay B-52, mục tiêu tác chiến của chúng từ căn cứ không quân Andersen và theo dõi các đợt không kích của B-52 vào các mục tiêu đang nằm trên lãnh thổ Việt Nam. Thời gian bay của các máy bay B-52 thông thường kéo dài 6 giờ bay, đến thời điểm đó, các hệ thống phòng không Việt Nam đã được cảnh báo theo đường thông tin liên lạc khẩn cấp và trực 24/24 từ tàu trinh sát thông qua Bộ tổng tham mưu quân đội Xô Viết và truyền đến các đơn vị phòng không – không quân Việt Nam.
Tàu trinh sát Gidrofon – Liên Xô và tàu tác chiến điện tử Abnaki - ATF96 của Mỹ song hành trên biển Đông.
Tàu trinh sát Gidrofon – Liên Xô và tàu tác chiến điện tử Abnaki - ATF96 của Mỹ song hành trên biển Đông.
Trong suốt giai đoạn từ năm 1964-1974 trong các khu vực trinh sát các hoạt động tác chiến của Mỹ ở Việt Nam, đơn vị OSNAZ đã có 17 tàu trinh sát của hải đoàn hoạt động, tiến hành 94 chuyến hải hành với thời gian mỗi chuyến từ 3 – 4 tháng.
Nhiệm vụ thành công đầu tiên của các tàu trinh sát thực hiện là vào ngày 2.08.1964 trong cái gọi là “sự kiện Vịnh Bắc bộ”. Trong sự kiện này, các chiến hạm của hạm đội 7 đã xâm phạm vùng lãnh hải của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với mục đích khiêu khích, nhằm đánh lừa dư luận nước Mỹ và thế giới, đồng thời tạo cớ mở rộng cuộc chiến, tiến hành các hoạt động đánh phá miền Bắc Việt Nam. Để lừa dối công luận, Mỹ đã đưa ra những bằng chứng khẳng định rằng các tàu phóng ngư lôi của Việt Nam đã tấn công tàu khu trục Maddox của Mỹ trên vùng biển quốc tế. Việt Nam kiên quyết bác bỏ lời cáo buộc này. Bộ tổng tham mưu liên quân Mỹ và bộ tư lệnh hải quân Mỹ cũng nghi ngờ về điều này.
Lúc đó từ tàu trinh sát "Protraktorv" (thuyền trưởng đại úy hạng 3 N.P. Fadeev, chỉ huy trưởng nhóm OSNAZ trung úy V.I. Levushkin) đã gửi báo cáo chính xác tọa độ và quỹ đạo hoạt động của tàu Maddox, chứng minh tàu khu trục của Mỹ trong hoạt động trinh sát đã xâm phạm lãnh hải Việt Nam. Mặc dù vậy, không quân Mỹ ngày 5.08.1964 vẫn tiến hành cuộc ném bom bắn phá lãnh thổ Việt Nam. Ngày 10.10.1964, Quốc hội Mỹ đã thông qua Nghị quyết “Vịnh Bắc bộ” mở đường cho sự can thiệp bằng lực lượng vũ trang. Nghị quyết đã cho phép Tổng thống Lyndon Johnson được quyền sử dụng lực lượng vũ trang Mỹ ở Đông Nam Á, chính thức bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược chống miền Bắc Việt Nam. Nhà nước Liên bang Xô viết dựa trên các bằng chứng đã khẳng định các hoạt động của Mỹ chính xác là một cuộc xâm lược, các bằng chứng sau này đã được công luận Mỹ sử dụng trong các hoạt động chống chiến tranh ở Miền Nam Việt Nam.
Từ thời điểm đó, các tàu trinh sát điện tử đã tiến hành trực chiến trên biển Đông trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ của miền Bắc Việt Nam. Khu vực trinh sát chủ yếu là trung tâm các hoạt động tác chiến đường không của cụm tàu sân bay chiến thuật số 77 ( tập đoàn không quân tiến công chủ lực của hạm đội 7 Mỹ), hoặc như lính Mỹ vẫn gọi là "Yankee Station". Các tàu trinh sát của hạm đội Thái Bình Dương hoạt động ngay gần các tàu chiến Mỹ, thay đổi các tàu trực chiến cũng được thực hiện ngay trong khu vực.
Điều đó trở lên quen thuộc đến nỗi thủy thủ đoàn của Mỹ đưa tàu trinh sát của Liên Xô trở thành một phần không thay đổi của cụm tàu tác chiến chủ lực. Nhiệm vụ chủ yếu của tàu trinh sát lúc này là kịp thời thông báo cho Phòng không Việt Nam về các đợt tập kích ồ ạt của không quân hải quân Mỹ từ tàu sân bay, theo những thông tin thu thập được từ những kênh thông tin liên lạc của Hải quân Mỹ. Trong thời gian này, trên Biển Đông có khoảng 8 tàu sân bay hoạt động, cụm không quân hải quân công kích chủ lực này có khoảng 150 chiến hạm và tàu hỗ trợ hậu cần kỹ thuật đi cùng.
Tàu trinh sát điện tử Xô Viết hoạt động ngay cạnh cụm tàu sân bay Mỹ trên biển Đông
Tàu trinh sát điện tử Xô Viết hoạt động ngay cạnh cụm tàu sân bay Mỹ trên biển Đông.
Theo sự mở rộng hoạt động và tăng cường quân số của các tập đoàn quân đội Mỹ trong chiến tranh, nhiệm vụ của lực lượng trinh sát trên biển cũng được mở rộng. Các hải cảng quân sự như Đà Nẵng, Cam Ranh, Nha Trang trở thành những căn cứ quân sự trung chuyển, từ đó các lực lượng bộ binh và lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ lên lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Vì vậy, các lực lượng trinh sát điện tử trên biển được tăng cường nhiệm vụ theo dõi các hoạt động triển khai lực lượng của quân đội Mỹ và những chiến dịch do quân đội Mỹ triển khai trên các khu vực thuộc miền Nam Việt Nam.
Đến tháng 2 năm 1968, trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm cả vùng nước và đất liền tham gia hoạt động tác chiến có 543.000 quân nhân Mỹ tham chiến (hơn 30% quân số của toàn bộ LLVT Mỹ , 40% máy bay cấp chiến thuật, gần 70% lực lượng lĩnh thủy đánh bộ…). Tổng số lực lượng tham chiến của Hạm đội 7 (35.000 người.) lực lượng không quân Mỹ có mặt ở Thái Lan và Guam (45.000 người), quân số của quân đội Mỹ ở khu vực Đông Nam Á lên đến hơn 600.000 người. Cũng theo yêu cầu hiệp đồng tác chiến, trong chiến trường Miền Nam Việt Nam đã lôi kéo thêm các đồng minh khu vực như (Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Australia và New Zealand). Với số lượng không lớn, những cũng tăng cường thêm nhiều năng lực tác chiến của quân đội Mỹ.
Hiệu quả tác chiến cao của lực lượng trinh sát trên biển trong vùng Vịnh Bắc Bộ đã có được một kết quả vô cùng quan trọng. Ngày 28.2.1965 trong thời gian thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch hội đồng Xô Viết tối cao toàn Liên bang ông A.N.Kosygin, phía Việt Nam đã bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc Liên Xô đã cũng cấp kịp thời và chuẩn xác những thông tin cảnh bảo sớm về các cuộc không kích của lực lượng không quân Hải quân và lực lượng Không quân chiến lược – chiến thuật Mỹ. Nhờ có những thông tin cảnh báo sớm mà lực lượng phòng không Việt Nam có thời gian chuẩn bị, sẵn sàng đánh chặn và phản kích mọi cuộc tập kích đường không. Điều đó giúp cho nhân dân Việt Nam giảm thiểu những tổn thất và lực lượng vũ trang giáng những đòn chí mạng vào kẻ thù. Khi A.N.Kosygin quay về sau chuyến thăm, tại Vladivostok đã quan tâm đến vấn đề, bằng cách nào mà lực lượng trinh sát điện tử hạm đội Thái Bình Dương có thể chi viện thông tin tình báo kịp thời cho Việt Nam.
Cục trưởng trinh sát điện tử, chuẩn đô đốc A.N.Sotnikov đã báo cáo chi tiết thống kê các hoạt động và kết quả đạt được của các tàu trực chiến trinh sát điện tử trên Biển Đông và khu vực đảo Guam. Cùng với thời gian tàu trinh sát điện tử "Gidrofon" quay trở về căn cứ ngày 28.02.1965. A.N.Kosygin đã trực tiếp lắng nghe báo cáo của thuyền trưởng trung úy hải quân A.A. Plotnhicov và chỉ huy trưởng nhóm trinh sát điện tử thượng úy V. Danhilov. Lắng nghe báo cáo đồng thời nghe được điều kiện sống và làm việc của thủy thủ đoàn trong thời gian trực tác chiến dài ngày trên biển, A.N.Kosygin đã chỉ thị cho các cơ quan chức năng chuẩn bị Nghị quyết của Hội đồng bộ trưởng Xô viết về hoạt động của các tàu trinh sát điện tử và khẩu phần – quyền lợi đặc biệt của lực lượng khi tiến hành các hoạt động tác chiến trên biển lớn ( Nghị quyết số №433).
Bản anh hùng ca 
Ngày 2.06.1967 Tàu vận tải containers Liên Xô “Turkestan” neo đậu dỡ hàng tại vùng nước cảng Cẩm Phả, bị máy bay cường kích hải quân Mỹ tấn công. Thủy thủ kỹ thuật viên điện lực Nicholas Ribachuk hy sinh, sáu người khác bị thương. Một vụ scandal chính trị bùng nổ nghiêm trọng, vì người Mỹ quyết liệt bác bỏ việc máy bay Mỹ tấn công tàu xô Viết. Nhưng như những câu truyện truyền thống của Nga “trinh sát báo cáo chính xác” Nhóm trinh sát điện tử từ tàu GS-34, thuyền trưởng – đại úy hải quân B.M. Mozzhukhin đã chặn được thông tin liên lạc vô tuyến của nhóm máy bay không kích Mỹ từ tàu sân bay và đưa ra những số liệu chính xác về số hiệu các máy bay thuộc phi đội bay từ tàu sân bay "Midway", thời gian và địa điểm của cuộc tấn công. Phía Mỹ đã buộc phải xin lỗi về vụ việc đã xảy ra và chấp nhận đền bù thiệt hại. Trưởng nhóm trinh sát điện tử B.M.Mozzhukhin đã được trao huân chương "Sao Đỏ".
Ngày cũng như đêm, các trinh sát viên điện tử tác chiến trong mọi điều kiện thời tiết
Ngày cũng như đêm, các trinh sát viên điện tử tác chiến trong mọi điều kiện thời tiết.
Từ tháng 5.1972 quân đội Mỹ tiến hành các hoạt động ồ ạt phong tỏa bằng thủy lôi các tuyến đường hàng hải vào các hải cảng của miền Bắc Việt Nam. Thủy lôi được thả bởi các máy bay của không quân Hải quân Mỹ A-7 "Corsair" và A-6 "Intruder" từ các tàu sân bay "Kitty Hawk" và "Coral Sea", trong vòng 8 tháng Mỹ đã thả hơn 11.000 thủy lôi Мк-36 và Мк-52-2. Lượng thủy lôi được thả nhiều nhất vào tháng 8.1972, khi không quân hải quân Mỹ từ 6 tàu sân bay bí mật thả các thủy lôi mang đầu nổ thủy âm và từ trường trên tuyến hành lang hàng hải dẫn vào cảng Hải Phòng và ngay trong lòng sông Cấm.
Tại cảng Hải Phòng, mười tàu vận tải bị phong tỏa không rời cảng. Chiến dịch này bị phát hiện kịp thời bởi nhóm trinh sát điện tử thuộc tàu trinh sát "Deflektor" (thuyền trưởng – đại úy C.V. Kuchin, chỉ huy trưởng nhóm OSNAZ K.P.Chudin) hoạt động ​​trên Vịnh Bắc Bộ. Thông tin chiến dịch đã kịp thời thông báo cho Bộ tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương và Cơ quan lãnh đạo đơn vị vận tải tầm xa của Vladivostok. Nhờ thông tin kịp thời mà các tàu hàng hải Xô Viết không bị trúng thủy lôi.
Tháng 12.1972. Tại hội nghị Paris các cuộc đàm phán kéo dài giữa chính phủ Mỹ và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về vấn đề chấm dứt ném bom và ngừng bắn trên lãnh thổ Việt Nam.
Các cuộc đàm phán diễn ra trong điều kiện những tổn thất về binh lực và sinh lực Mỹ ngày càng tăng, các hoạt động tấn công của lực lượng Quân Giải phóng Miền Nam diễn ra dồn dập trên khắp các chiến trường. Miền Bắc Việt Nam tiếp tục nhận được những tổ hợp tên lửa phòng không Dvina và tên lửa, đủ khả năng tiêu diệt tất cả các mục tiêu trên không của Không quân Mỹ và rất hiệu quả khi chiến đấu với các vật thể bay tầm thấp. Không quân Việt Nam nhanh chóng lớn mạnh và càng ngày càng tác chiến hiệu quả. Trên các phương tiện thông tin đại chúng SMI đăng càng ngày càng nhiều hình ảnh các máy bay bị bắn rơi và phi công Mỹ bị bắt làm tù binh.
Trong cuộc đàm phán cam go này, các đại diện cho chính phủ Mỹ muốn tìm một giải pháp rút quân khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự. Với tư cách là một siêu cường, người Mỹ lựa chọn giải pháp chính trị dựa trên sự đe dọa vũ lực. Từ 25.12.1972 Bộ chỉ huy tối cao quân đội Mỹ bắt đầu tiến hành một chiến dịch không kích miền Bắc quy mô lớn nhất trong tất cả các cuộc chiến tranh tính từ năm 1945 trở về sau này, nhằm vào hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng đồng thời không kích các căn cứ quân sự của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Vấn đề quan trọng nhất là yếu tố bất ngờ.
Máy bay Mỹ cất cánh từ các tàu sân bay vào đánh phá Miền Bắc Việt Nam
Máy bay Mỹ cất cánh từ các tàu sân bay vào đánh phá Miền Bắc Việt Nam.  
Cuộc không kích bắt đầu vào những ngày trước lễ Giáng sinh không xa, theo thông lệ người Mỹ sẽ không tiến hành các hoạt động chiến tranh tích cực. Thực hiện cuộc tập kích đường không này, người Mỹ đã sử dụng tất cả lực lượng không quân ở châu Á Thái Bình Dương khu vực Đông Nam Á. Chỉ tính riêng không quân Hải quân trên 7 tàu sân bay của Mỹ đã tiến hành 1500 lần xuất kích.
Nhưng Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam và ban cố vấn quân sự Liên xô đã nắm chắc được ngay từ thời điểm đợt cất cánh ồ ạt của không quân Mỹ từ các tàu sân bay. Nguồn thông tin cung cấp là tàu trinh sát điện tử "Kursograf" (thuyền trưởng - chỉ huy trưởng O.D.Tulchin, các chỉ huy của nhóm OSNAZ là thuyền trưởng - trung úy V.G. Kozlov, Thượng úy hải quân V.A.Karev) nằm ngay ở trung tâm đội hình chiến đấu của Tập đoàn không quân hải quân tấn công chủ lực số 77 Mỹ. Tàu trinh sát điện tử nằm trên khu vực căn cứ Guam đã thông báo kịp thời, chính xác thời điểm các cụm máy bay ném bom chiến lược B-52 bắt đầu cất cánh, số lượng máy bay, giãn cách khoảng cách bay của đội hình chiến đấu. Do thu thập thường xuyên thông tin trao đổi giữa chỉ huy mặt đất và các lực lượng tập kích, các tàu trinh sát điện tử đã nắm chắc được từng diễn biến bắt đầu các đợt không kích cả ở Utapao và Guam.
Những thông tin thu thập được thông qua Bộ tổng tham mưu quân đội Liên xô đến Bộ tham mưu QĐNDVN liên tục, kịp thời, cho phép toàn bộ hệ thống phòng không Việt Nam được đưa vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu đúng thời điểm nhất. Trong 12 ngày đêm không quân Mỹ đã ném hơn 100.000 quả bom các loại và Lực lượng Phòng không Việt Nam cũng hạ 81 máy bay Mỹ, trong đó có 31 là pháo đài bay B-52 và 5 F-111. Trước sức ép ngày một tăng của công luận quốc tế đồng thời gánh chịu những tổn thất nặng nề trong cuộc chiến, đến ngày 27.01.1973. Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris về việc rút toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi Miền Nam Việt Nam.
Từ tháng 2 đến tháng 4.1973, người Mỹ sau khi kết thúc cuộc chiến tranh trên không chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chuyển toàn bộ hoạt động tác chiến của mình về phía miền Nam Việt Nam, bao gồm các các tàu sân bay. Theo hiệp định Paris 1973, hạm đội 7 Mỹ có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động gỡ toàn bộ thủy lôi đã phong tỏa vùng vịnh Bắc Bộ, đặc biệt là khu vực Cảng Hải Phòng. Chiến dịch này mang tên gọi là "End Sweep" (" lần quét cuối cùng"). Quân đội Mỹ đã tổ chức một lực lượng rà phá thủy lôi bao gồm tàu sân bay trực thăng "Okinawa" (kỳ hạm), các tàu đổ bộ hải quân có sân bay cho trực thăng rà quét mìn, các tàu đổ bộ, các tàu quét mìn phi từ trường, tàu cảnh giới yểm trợ và các tàu đảm bảo hậu cần kỹ thuật.
Toàn bộ đội tàu rà phá thủy lôi gồm có 50 chiến hạm và tàu khác nhau. Lực lượng chủ đạo giải quyết nhiệm vụ rà quét thủy lôi được trang bị máy bay trực thăng đổ bộ "Sea Staley" với lưới sonar và lưới quét từ trường trên thân và các tàu quét mìn phi từ tính (tàu không chế tạo từ kim loại) trang bị các lưới quét mìn. Để thực hiện nhiệm vụ, hải quân Mỹ đã triển khai hệ thống tọa độ 3D có độ chính xác cao "Reydist" dẫn đường cho máy bay và các tàu quét mìn. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử hải quân hiện đại trên thế giới có một chiến dịch ra quét thủy lôi – mìn trên biển bằng trực thăng và tàu quét mìn phi từ tính.
Tàu đổ bộ Washtenaw County (LST-1166) Mỹ trên đường vào cảng Hải Phòng
Tàu đổ bộ Washtenaw County (LST-1166) Mỹ trên đường vào cảng Hải Phòng.
Sơ đồ máy bay SH – 53 Seahawk rà phá thủy lôi trên cảng Hải Phòng năm 1973
Sơ đồ máy bay SH – 53 Seahawk rà phá thủy lôi trên cảng Hải Phòng năm 1973.
Ảnh chụp thủy lôi bị kích nổ
Theo mệnh lệnh của Tổng tư lệnh lực lượng Hải quân Xô Viết và tư lệnh trưởng hạm đội Thái Bình Dương, một đơn vị hỗn hợp của hạm đội dưới sự chỉ huy của Hải đoàn trưởng hải đoàn 38 đại úy hạng 1 D.T. Lukas được thành lập bao gồm các tàu trinh sát biển "Aneroid" (kỳ hạm), "Protraktor", "Kursograf", "Barograf", "Gidrofon" tàu quét mìn MT-4 và MT-5 cùng với tàu chở dầu yểm trợ hậu cần kỹ thuật "Vladimir Kolechitsky." Mục tiêu chính của đội gồm:
- Phát hiện và nắm bắt được các hoạt động tác chiến của phân đội tàu rà quét thủy lôi, chiến thuật ra phá thủy lôi, các phương tiện và lực lượng dùng để rà phá thủy lôi, tính năng kỹ chiến thuật và khả năng triển khai các trận địa thủy lôi của địch trên biển.;
- Đánh giá được kết quả rà quét thủy lôi của đối phương trên vịnh Bắc Bộ, từ đó xác định được những nguy hiểm còn tồn tại, cảnh báo sớm cho phía Việt Nam và các tàu thuyền của lực lượng vận tải Xô Viết về nguy cơ thủy lôi ở khu vực nghi ngờ.
Với nhiệm vụ được giao, phân đội hỗn hợp cấp chiến dịch đã hoàn thành xuất sắc, xác định được hầu hết các khu vực ẩn chứa nguy cơ thủy lôi, số lượng thủy lôi đã rà phá và số lượng còn tồn đọng ở các vùng nước khu vực. Khi chiến dịch rà quét thủy lôi “Sea Sweep” của Mỹ kết thúc. Bộ Tổng tham mưu lực lượng QĐNDVN và Bộ tổng tham mưu lực lượng Hải quân Xô Viết đã có được những thông tin đầy đủ về kết quả của chiến dịch.
Vào giữa tháng Ba năm 1973, chiếc tàu vận tải của Liên Xô "Pioneer Marat Kazei" rời cảng Hải Phòng và trên đường ra khơi gặp tàu trinh sát điện tử "Kursograf." Và điều đầu tiên các thủy thủ Liên Xô đã trao đổi với nhau bản đồ các bãi thủy lôi do Mỹ đã rải, các tuyến đường hải hành an toàn và vài mảnh vỡ của máy bay B-52.
Ngày 31.12.1974, tàu trinh sát điện tử cuối cùng "Kursograf" quay trở về căn cứ từ Biển Đông. Đó cũng là kết thúc tuyệt vời của bản anh hùng ca Việt Nam của hải đoàn trinh sát điện tử. Ngày 1.05.1975 các thủy thủ - trinh sát viên điện tử rất hài lòng xem vô tuyến trận chiến cuối cùng của Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam tiến vào Sài Gòn trong cờ hoa rực rỡ, cũng với những chiếc máy bay trực thăng bay hoảng loạn từ nóc nhà đại sứ quán Mỹ, và sự tan giã của chính quyền chế độ cũ.
Trong các trận không chiến trên bầu trời miền Bắc Việt Nam, các chiến sĩ trinh sát điện tử ghi lại được 526 máy bay chiến đấu Mỹ và 13 máy bay trực thăng bị bắn rơi, không tính 193 máy bay và 270 trực thăng của tập đoàn quân lính thủy đánh bộ Mỹ, 591 phi công Mỹ bị bắt. Những thông tin này đã được khẳng định gần sát với con số mà cuốn sách không quân hải quân Hoa Kỳ 1910-1995 «United States Naval Aviation 1910-1995» (Washington, 1997) đã nêu.
Trong cuộc chiến tranh điện tử mà các thủy thủ - trinh sát điện tử tiến hành trong khu vực chiến sự, nguy hiểm luôn cận kề. Các tàu trinh sát của hải quân Xô Viết, người Mỹ biết rất rõ, nhưng họ không muốn va chạm, do các tàu này hoạt động ở vùng nước quốc tế. Ngoài ra, tồn tại một quy luật bất thành văn giữa hai lực lượng hải quân Nga và Mỹ: “các tàu trinh sát không can thiệp”. Nhưng những hành động khiêu khích quấy rối vẫn luôn xảy ra với các tàu trinh sát trên biển:
- Tháng 9.1967, tàu trinh sát điện tử "Anemometr" ("Kirby") ở Biển Đông, tàu tác chiến điện tử Mỹ "Bonner" đã cố ý gây một vụ đâm húc va chạm. Trường hợp này cả hai tàu đều không có những tổn thất quá nặng. Tàu trinh sát điện tử ("Kirby") bị một vết lõm lớn ở thân tàu phía trước.
- Năm 1968, trên biển Đông, tàu trinh sát điện tử "Izmeritel" lại bị chính tàu "Bonner" của Mỹ tấn công đâm húc một lần nữa nhằm đẩy tàu trinh sát ra khỏi khu vực đang hoạt động tác chiến.
- Ngày 3.10.1969, tàu “Gidrofon” bị các tàu tuần biển của hải quân Sài Gòn tấn công khi đang hoạt động trinh sát tại vùng nước ven bờ của Miền Nam Việt Nam, trúng đạn, tàu “Gidrofon” bị cháy một số nơi, một phần trang thiết bị bị hỏng hóc, nhưng các thủy thủ trên tàu an toàn. Lòng dũng cảm và ý chí kiên cường trong thực tế công tác đã trở thành bản chất của lực lượng trinh sát điện tử. Nhiều thủy thủ - chiến sĩ trinh sát điện tử được thưởng huy chương “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.
- Tháng 12.1969, tàu trinh sát "Protraktor" bị tàu tuần biển của Hải quân Sài Gòn tấn công hỏa lực khi đang hoạt động gần vùng nước chủ quyền Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ, cuộc tấn công hỏa lực đã làm thủy thủ A.N. Lebedev bị thương ở chân. Tàu bị bắn thủng 16 lỗ mạng tàu trên vạch ngấn nước, mặc dù vậy, tàu chỉ chạy ra xa vùng lãnh hải và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ;
- Tháng 4. 1970, với mục đích đẩy tàu “Peleng” ra khỏi khu vực theo dõi các tàu sân bay, máy bay cường kích "Skyhawk" tiến hành ném bom dọc theo hải trình của tàu phía mũi và đuôi tàu trên khoảng cách 1 đến 2 sải. Máy bay không tấn công vào tàu và không có tổn thất;
- Tháng 4.1973, trong quá trình theo dõi chiến dịch “End Sweep”, một trong những tàu kéo của Mỹ đã cố ý giả như đâm thẳng vào tàu trinh sát "Aneroid", đang thả neo trên tuyến đường hành lang trên trận địa thủy lôi và bật đèn neo tầu. Tàu kéo Mỹ đã đi sát mũi tàu của "Aneroid" cách khoảng vài mét và chân vịt tàu kéo đã mắc phải xích neo của tàu "Aneroid". Rất may các lái tàu của tàu kéo Mỹ khá có kinh nghiệm, nếu không cả hai tàu có thể bị tổn thất nặng nề. Trong chiến tranh là chiến tranh. Có trường hợp, các thủy thủ của tàu "Kursograf" đã cứu một thủy thủ Mỹ bị rơi khỏi boong của tàu chỉ huy tham mưu "Blue Ridge". Nhờ sự kiện này họ nhận được thư cảm ơn và quà của Bộ chỉ huy hải quân Hạm đội 7. Có nhiều trường hợp các tàu trinh sát cũng cứu được những thuyền nhân, hoặc các thủy thủ các tàu đánh cá bị trôi dạt trên biển. Rất nhiều trường hợp bất ngờ đã xảy ra. Nhưng sau gần 40 năm tính từ thời điểm chiếc tàu trinh sát cuối cùng rút khỏi Biển Đông, Hải quân Thái Bình Dương mới có điều kiện viết lại một biên niên sử.
Kinh nghiệm của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước và những hoạt động của Hải đoàn tác chiến điện tử của Hạm đội Thái Bình Dương Liên Xô cho thấy, tác chiến điện tử trên biển lớn đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và ngăn chặn những nguy cơ chiến tranh trong giai đoạn hiện nay. Tác chiến điện tử trên biển lớn có ưu thế vượt trội so với các loại hình tác chiến khác như tác chiến điện tử mặt đất, tác chiến điện tử trên không và trên vũ trụ. Hầu hết mọi cuộc xâm lược và chiến tranh đều đến từ phía biển, bắt đầu tập trung lực lượng, xây dựng đội hình tác chiến, liên kết phối hợp và xuất phát hỏa lực tấn công đều bắt đầu trên biển lớn. Mọi tuyến thông tin liên lạc dù thời bình hay thời chiến đều diễn ra bằng sóng vô tuyến các dải tần số trên biển rộng – dễ dàng cho hoạt động tình báo hoặc trinh sát. Hoàn toàn không bị nhiễu địa hình hoặc ảnh hưởng của điều kiện không khí. Các tình huống chiến tranh hoặc xung đột bao giờ cũng có nguồn gốc từ không gian biển và tác động trực tiếp lên bờ biển và vào sâu trong lãnh thổ.
Để bảo vệ vững chắc biên cương tổ quốc, chủ quyền và lợi ích quốc gia – dân tộc, tác chiến điện tử trên biển, trong điều kiện thời bình là trinh sát – tình báo điện tử phải được hình thành và phát triển nhanh chóng, dưới mọi hình thức từ các lực lượng tuần biển đến các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ quan khai thác tài nguyên và đến lực lượng ngư dân trên biển lớn. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống tác chiến điện tử trên biển thời bình sẽ tránh được yếu tố bất ngờ trong xung đột vũ trang hay xâm phạm chủ quyền, đồng thời đáp ứng các yêu cầu về tình báo – trinh sát cảnh báo sớm, có đầy đủ điều kiện để đập tan mọi âm mưu xâm lược.
Nguồn: Trịnh Thái Bằng/Tienphong

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

Việt Nam chống tàu ngầm ở biển Đông thế nào (1).


Trên biển Đông có rất nhiều hạm đội tàu ngầm của nước ngoài đang tiến hành những hoạt động thăm dò, nghiên cứu, khảo sát và trực sẵn sàng tấn công trong điều kiện tình huống chuyển sang thời chiến.


Ngày 24/6 vừa qua, Quân chủng Hải quân công bố quyết định của Bộ Quốc phòng về việc thành lập Lữ đoàn tàu ngầm 189 tại Cam Ranh. Đây là quyết định mang ý nghĩa lịch sử với lực lượng Hải quân Việt Nam. Sự hình thành lực lượng tàu ngầm đã khẳng định định hướng chiến lược bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và lợi ích của quốc gia dân tộc trên không, trên biển và trên thềm lục địa.
 
Sự kiện lữ đoàn tàu ngầm cũng mang lại cho quân chủng hải quân những nhiệm vụ và những yêu cầu lớn, những đòi hỏi mới nhằm nâng cao khả năng phòng thủ biển và đáy biển trong chiến tranh hiện đại. Đặc biệt là tác chiến tàu ngầm và chống ngầm.
 
Tàu ngầm lớp 636 Kilo tại nhà máy. Ảnh: News.mail.ru
Tàu ngầm lớp 636 Kilo tại nhà máy của Nga. Ảnh: News.mail.ru
 
Trong lịch sử các cuộc chiến tranh trên biển, tàu ngầm đóng một vai trò quan trọng, là lực lương công kích chủ yếu, trong phòng ngự biển đảo, đóng vai trò chủ lực của các đòn tấn công bí mật, bất ngờ giải quyết chiến trường. Hiệu quả tác chiến tàu ngầm phụ thuộc hoàn toàn vào lực lượng chống ngầm của cả hai bên. Trong sự phát triển của hạm đội tàu ngầm non trẻ, vấn đề bí mật trong mọi hoạt động là sự sống còn của lực lượng.
 
Đối với các siêu cường quốc quân sự hải dương, vấn đề chống ngầm được nâng lên thành chiến tranh chống ngầm. Hầu hết các cường quốc như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản đặt nhiệm vụ chống ngầm lên hàng đầu trong tác chiến biển khơi và coi đó là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của lực lượng hải quân trong cả thời bình và thời chiến.
 
Tau-chong-ngam-VN-1374457841_500x0.jpg
Tàu săn ngầm Petya II trong biên chế hải quân Việt Nam.
 
Khái niệm chống ngầm được hiểu là: Một hệ thống các hoạt động trinh sát, tìm kiếm, theo dõi, xác định được tàu ngầm, chủng loại và tính năng kỹ thuật của nó, xác định được chính xác vị trí, dự đoán được hải trình cơ động, dự đoán được mục đích xâm nhập, nhiệm vụ thực hiện và trong điều kiện cần thiết - tiêu diệt tầu ngầm đối phương.
 
Do đặc điểm tàu ngầm càng ngày càng tăng cường về số lượng nên tính năng kỹ chiến thuật tàu ngầm cũng được tăng cường rất cao. Các tàu ngầm nguyên tử có khả năng hoạt động hầu hết thời gian là dưới mặt nước, ở độ sâu lớn. Các cường quốc trang bị trong biên chế tàu ngầm nguyên tử đã có rất nhiều thời gian để khảo sát, trinh sát, đo vẽ đáy biển và sử dụng các cơ sở dữ liệu đó trong thực tế, nên hiểu rất rõ vùng nước biển Đông cũng như thềm lục địa nước ta.
 
Các tàu ngầm diesel hiện nay, ứng dụng những công nghệ hiện đại trong chỉ huy, hoa tiêu dẫn đường, được lắp đặt các trạm nguồn và thiết bị hiện đại, cũng có khả năng hoạt động dài ngày dưới nước và hoàn toàn giữ được bí mật.
 
Rocket-chong-ngam-1374457841_500x0.jpg
Hệ thống rockets chống ngầm RBU-6000.
 
Trong khu vực Đông Nam Á, ngay trên biển Đông, có rất nhiều hạm đội tàu ngầm của nước ngoài đang tiến hành những hoạt động thăm dò, nghiên cứu, khảo sát và trực sẵn sàng tấn công trong điều kiện tình huống chuyển sang thời chiến. Trên tàu ngầm (nguyên tử hoặc diesel điện) đối phương có thể từ một vị trí bất ngờ nhất tấn công bằng tên lửa hành trình các mục tiêu trên biển hoặc ven biển, sử dụng ngư lôi tấn công các hạm tàu, triển khai các hoạt động thả bom chìm, thủy lôi phong tỏa hai cảng, căn cứ quân sự hoặc phong tỏa đảo, quần đảo.
 
Đồng thời, các tàu ngầm của đối phương ngay cả trong thời bình hoặc thời chiến, cũng có thể triển khai đổ bộ các lực lượng trinh sát đặc nhiệm, bí mật trinh sát địa hình, tiếp cận các mục tiêu quân sự, kinh tế quan trọng của đất nước, nhằm mục đích nắm bắt thông tin, sẵn sàng cho các hoạt động tấn công khi cần thiết.
 
Như vậy, trong thế trận phòng thủ đất nước, hệ thống chống ngầm đóng vị trí vô cùng quan trọng. Nó quyết định khả năng thành bại của một cuộc chiến tranh chớp nhoáng trên biển, ven biển và hải đảo. Các hạm đội hải quân hiện đại nước ngoài ngày nay có các tàu ngầm nguyên tử và diesel điện - số lượng rất lớn và vũ khí trang bị rất hiện đại. Khi xảy ra chiến tranh, các tàu ngầm đối phương sẽ tấn công hải cảng, các hạm tàu, các trận địa phòng ngự ven biển, các mục tiêu quan trọng khác bằng ngư lôi và tên lửa. Đồng thời địch cũng có thể dùng tàu ngầm để bố trí các trận địa thủy lôi phong tỏa đường biển.
 
Hệ thống phòng thủ chống ngầm hiện đại bao gồm có: (1) Hệ thống trinh sát truy tìm, phát hiện, định vị và theo dõi các tàu ngầm trong khu vực, phòng tuyến chống ngầm. (2) Các phương tiện chống ngầm (máy bay, chiến hạm chống ngầm, tàu ngầm diesel chống ngầm). (3) Các loại vũ khí chống ngầm ( tên lửa chống ngầm, ngư lôi, thủy lôi, bom chìm, rockets..).
 
Thuy-loi-chong-ngam-1374457841_500x0.jpg
Thủy lôi chống ngầm thông minh.
 
Hệ thống trinh sát, truy tìm, phát hiện tàu ngầm bao gồm các loại khí tài: sonar siêu âm, các bộ khí tài micro thủy âm thụ động cố định hoặc cơ động , anten của các đài thu phát thủy âm kéo theo các chiến hạm , phao thủy âm thả từ máy bay, thiết bị đo độ biến thiên từ trường, radar, các bộ cảm biến đo áp lực nước, khí tài đo nồng độ dầu diesel... Các trạm trinh sát sonar, radar, đài thu thủy âm cố định trên bờ biển, các trạm trinh sát trên chiến hạm chống ngầm, trên máy bay chống ngầm (máy bay chống ngầm và trực thăng chống ngầm). Các trung tâm thu thập, xử lý thông tin và lưu trữ cơ sở dữ liệu, sở chỉ huy phòng thủ chống ngầm các cấp.
 
Các phương tiện chống ngầm: Các phương tiện chống ngầm theo truyền thống là các máy bay chống ngầm các loại, bao gồm máy bay chống ngầm tuần biển như P-3 Orion, P-8 Poseidon, máy bay trực thăng chống ngầm, các chiến hạm chống ngầm, các chiến hạm mang vũ khí chống ngầm, tàu ngầm... Trong đó, tàu ngầm được coi là phương tiện chống ngầm hiệu quả nhất.
 
Các vũ khí chống ngầm: Được chia thành hai loại vũ khí chống ngầm, loại thứ nhất là các tên lửa chống ngầm phóng từ máy bay, chiến hạm nổi, tàu ngầm, ngư lôi, bom chìm rockets. Loại thứ hai là các trận địa thủy lôi thông minh, thủy lôi thông thường các loại thiết bị kích nổ khác nhau.
 
Các phương thức chống ngầm thông thường bao gồm các hệ thống trinh sát bằng radar theo dõi mặt biển nhằm xác định mục tiêu tầu ngầm, các máy bay tuần biển liên tục theo dõi các khu vực có thể có tàu ngầm cơ động, trong những trường hợp có nguy cơ, các chiến hạm chống ngầm và tàu ngầm đa nhiệm sẽ tiến hành thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm và theo dõi các vùng nước nghi ngờ.
 
(Còn nữa)
 
Theo Tiền Phong