Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

Ván bài lật ngửa ở biển Đông.

Trong suốt giai đoạn từ năm 1964-1974 trong các khu vực trinh sát các hoạt động tác chiến của Mỹ ở Việt Nam, đơn vị OSNAZ đã có 17 tàu trinh sát của hải đoàn hoạt động, tiến hành 94 chuyến hải hành với thời gian mỗi chuyến từ 3 – 4 tháng.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô. Gần như mỗi tuần từ các bến tàu của hải cảng Vladivostok hướng đến cảng Hải Phòng các tàu vận tải của hãng vận tải Viễn Đông chở đầy vũ khí,trang thiết bị quân sự và hàng hóa khác. Việt Nam nhận được các máy bay chiến đấu Liên Xô, các tổ hợp tên lửa phòng không và tên lửa, pháo phòng không các loại. Do Liên Xô tuyên bố chính thức không tham gia trực tiếp cuộc chiến nên các tàu vận tải dân sự Xô Viết không được trang bị vũ khí phòng không, các tàu vận tải chỉ được bảo vệ bằng quốc kỳ Liên Xô, được vẽ rất to trên boong tàu. Tất nhiên, các phi công Mỹ buộc phải nhìn thấy khi tấn công và phong tỏa Hải Phòng.
Trong tình huống chiến tranh phức tạp và nguy hiểm như vậy, hiệp đồng tác chiến với lực lượng phòng không Việt Nam là lực lượng trinh sát điện tử trên biển của Hải quân Liên Xô, nhiệm vụ nặng nề này được giao cho lực lượng Hạm đội Thái Bình Dương. Trước khi không quân Mỹ bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại, hệ thống trinh sát ven biển và hệ thống trinh sát hạm đội nhận nhiệm vụ chung là nắm bắt tình hình chiến sự tại khu vực Vịnh Bắc Bộ, tập trung chủ yếu vào mục đích phát hiện kịp thời những hoạt động chuẩn bị chiến tranh của Mỹ chống Việt Nam. Từ những tin tức tình báo thu được, Bộ tổng tham mưu lực lượng vũ trang Xô Viết quyết định triển khai sớm lực lượng trinh sát trên biển của Hạm đội Thái Bình Dương. Quyết định này đã đóng góp một phần rất lớn cho việc làm rõ các tình huống sự kiện Vịnh Bắc bộ đồng thời cung cấp kịp thời những thông tin trinh sát các hoạt động của hạm đội 7 Mỹ trên biển Đông.
Thời gian này, các tàu trinh sát đang nằm trong biên chế của tiểu đoàn trinh sát điện tử số 169 OSNAZ và neo đậu tại bến tàu số 37 tại Vladivostok, gần tượng đài Nevelsky. Tiểu đoàn trường đại úy hạng II A.I. Procenko, sau đó là đại úy hạng II Plotkin. Đây là những chiếc tàu đánh cá loại nhỏ và vừa, được lắp đặt dày đặc bên trong đủ các loại trang thiết bị khí tài trinh sát điện tử. Tiến hành các hoạt động trinh sát là các chiến sĩ đặc nhiệm của đơn vị hải quân tác chiến điện tử (OMRTO).
Nhóm trinh sát điện tử trên biển có khoảng 20 người với các bộ khí tài biên chế có khả năng bắt được hầu hết tất cả các loại phương tiện và các phương pháp thông tin liên lạc, theo dõi các đường dây thông tin liên lạc, tiến hành trinh sát và phát hiện các đài thu phát radars đối phương. Các chuyên gia trinh sát điện tử phải nhìn và phát hiện chính xác bằng mắt thường tất cả các mục tiêu di động trên biển và trên không theo hình dáng của nó. Trong biên chế, các tàu trinh sát điện tử này trực thuộc lực lượng hải quân Xô Viết, quân nhân được mặc thường phục. Điều đó đã làm lên huyền thoại của đơn vị trinh sát. Các tàu trinh sát thường ra khơi rất bí mật, vào những đêm tối trời và quay về căn cứ cũng tương tự như vậy. Các tàu neo đậu yên lặng ở bến tàu số 37 và không gây bất kỳ một sự chú ý nào của mọi người.
Lực lượng đặc nhiệm trên Biển Đông
Những năm đầu của cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam đã khẳng định tính ưu việt và hiệu quả rất cao của trinh sát điện tử trên biển. Những thông tin nhận được của trinh sát điện tử trên biển rất đầy đủ và có giá trị rất cao, vượt xa các nguồn thông tin trinh sát tình báo khác. Hơn nữa, các thông tin tình báo và trinh sát điện tử thu được rất kịp thời. Hoàn toàn trong thời gian thực, hàng ngày Bộ tham mưu hạm đội Thái Bình Dương, Cục tình báo lực lượng vũ trang Liên Xô nhận được các tin tức trinh sát ngay trong vùng chiến sự trên biển Đông.
Tương tự như ngày nay chúng ta xem chương trình TV “Vremia – Time”. Tất cả có được là nhờ công sức và sự cố gắng vô tận của đại úy hạng 1 N.P.Sotnhicov (sau này là chuẩn đô đốc hải quân Liên bang) chỉ huy trưởng lực lượng trinh sát và tình báo hạm đội Thái Bình Dương. Ông đã nỗ lực rất nhiều để tăng cường năng lực hoạt động của đơn vị tình báo – trinh sát trên biển, theo yêu cầu bức thiết của tình hình. Trong những tình huống đó, kể cả có va chạm với các lãnh đạo quân sự cao cấp của Liên bang, ông cũng kiên quyết đấu tranh để đạt được quyết định biên chế tổ chức trong lực lượng Hải quân Xô viết cụm tàu tình báo – trinh sát đặc nhiệm trên biển.
Ngày 1.10.1969 tại căn cứ của đơn vị hải quân tác chiến điện tử (OMRTO) số 19, trong biên chế có tiểu đoàn độc lập 169 OSNAZ đã thành lập hải đoàn trinh sát điện tử OSNAZ thuộc hạm đội Thái Bình Dương, trong biên chế của Hải đoàn có 15 tàu trinh sát biển, 19 phân đội trinh sát điện tử và radar với 10 nhóm trinh sát cơ động OSNAZ và 203 căn cứ bí mật trên bờ biển. Trong biên chế của hài đoàn có các tàu trinh sát hạng trung như "Gabriel Sarychev," "Hydrograph", "Bearing" các tàu trinh sát nhỏ như "Hydrology", "Aneroid", "Kursograf", "Izmeritel", "Protractor", "Ammeter", "Barograph", "Hydrophone", "Deflector" "Kirby" "Ungo" "Usach".
Theo tên gọi thì đó hoàn toàn là các tàu đo đạc, theo dõi thủy văn môi trường. Chỉ huy trưởng của hải đoàn là đại úy – thuyền trưởng hạng 1 Dmitry Timofeevich Lukash, đã từng tham gia Chiến tranh thế giới thứ II. Nhờ những nỗ lực và sự cố gắng của ông, hải đoàn trở thành trường học nghiêm khắc và tài năng thật sự cho các sĩ quan chỉ huy lực lượng tình báo – trinh sát của Hải quân và Hạm đội, các hải đoàn trưởng, các thuyền trưởng và các phân đội trinh sát. Nhiều người đã trải qua các thử thách khốc liệt trong chiến tranh Việt Nam.
Sơ đồ cơ động của các cụm không quân hải quân công kích Mỹ trên Vịnh Bắc Bộ
Sơ đồ cơ động của các cụm không quân hải quân công kích Mỹ trên Vịnh Bắc Bộ.  
Trong giai đoạn từ ngày 4.1964 đến 31.12.1974, các tàu trinh sát hải quân Xô Viết hoạt động chủ yếu trong khu vực biển Đông, Vịnh Bắc bộ và khu vực quanh căn cứ Guam của Mỹ, ngoài những nhiệm vụ tình báo quân sự, các tàu trinh sát đã tiến hành các hoạt động trinh sát nhằm cung cấp thông tin chiến dịch, chiến thuật của không quân hải quân Mỹ cho các lực lượng phòng không Việt Nam và lực lượng phòng thủ bờ biển Miền Bắc Việt Nam. Những nhiệm vụ chủ yếu là:
- Trực tiếp theo dõi các cụm máy bay tấn công của không quân hải quân Mỹ, xác định khu vực máy bay Mỹ sẽ tiến hành các hoạt động tập kích đường không;
- Cảnh báo sớm bộ tổng tư lệnh lực lượng Hải quân Liên Xô và hạm đội Thái Bình Dương về sự chuẩn bị các đợt không kích, thời gian cất cánh của các không đoàn máy bay hải quân Mỹ trên tàu sân bay vào miền Bắc Việt Nam.
- Phát hiện và làm rõ các thủ đoạn chiến thuật mà các không đoàn hải quân Mỹ sẽ sử dụng để không kích miền Bắc cũng như các tuyến đường cơ động của các chiến hạm Mỹ khi tiến hành phong tỏa Vịnh Bắc Bộ. 
Các tàu trinh sát hoạt động trên khoảng 3 dặm cách vịnh Apra thuộc đảo Guam, nơi có căn cứ đóng quân của hải đoàn tàu ngầm hạt nhân Mỹ mang tên lửa đạn đạo "Polaris-Poseidon", ngoài những nhiệm vụ chính là theo dõi hoạt động của các tàu ngầm chiến lược mang tên lửa, còn thực hiện nhiệm vụ phát hiện các chuyến bay của máy bay B-52, mục tiêu tác chiến của chúng từ căn cứ không quân Andersen và theo dõi các đợt không kích của B-52 vào các mục tiêu đang nằm trên lãnh thổ Việt Nam. Thời gian bay của các máy bay B-52 thông thường kéo dài 6 giờ bay, đến thời điểm đó, các hệ thống phòng không Việt Nam đã được cảnh báo theo đường thông tin liên lạc khẩn cấp và trực 24/24 từ tàu trinh sát thông qua Bộ tổng tham mưu quân đội Xô Viết và truyền đến các đơn vị phòng không – không quân Việt Nam.
Tàu trinh sát Gidrofon – Liên Xô và tàu tác chiến điện tử Abnaki - ATF96 của Mỹ song hành trên biển Đông.
Tàu trinh sát Gidrofon – Liên Xô và tàu tác chiến điện tử Abnaki - ATF96 của Mỹ song hành trên biển Đông.
Trong suốt giai đoạn từ năm 1964-1974 trong các khu vực trinh sát các hoạt động tác chiến của Mỹ ở Việt Nam, đơn vị OSNAZ đã có 17 tàu trinh sát của hải đoàn hoạt động, tiến hành 94 chuyến hải hành với thời gian mỗi chuyến từ 3 – 4 tháng.
Nhiệm vụ thành công đầu tiên của các tàu trinh sát thực hiện là vào ngày 2.08.1964 trong cái gọi là “sự kiện Vịnh Bắc bộ”. Trong sự kiện này, các chiến hạm của hạm đội 7 đã xâm phạm vùng lãnh hải của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với mục đích khiêu khích, nhằm đánh lừa dư luận nước Mỹ và thế giới, đồng thời tạo cớ mở rộng cuộc chiến, tiến hành các hoạt động đánh phá miền Bắc Việt Nam. Để lừa dối công luận, Mỹ đã đưa ra những bằng chứng khẳng định rằng các tàu phóng ngư lôi của Việt Nam đã tấn công tàu khu trục Maddox của Mỹ trên vùng biển quốc tế. Việt Nam kiên quyết bác bỏ lời cáo buộc này. Bộ tổng tham mưu liên quân Mỹ và bộ tư lệnh hải quân Mỹ cũng nghi ngờ về điều này.
Lúc đó từ tàu trinh sát "Protraktorv" (thuyền trưởng đại úy hạng 3 N.P. Fadeev, chỉ huy trưởng nhóm OSNAZ trung úy V.I. Levushkin) đã gửi báo cáo chính xác tọa độ và quỹ đạo hoạt động của tàu Maddox, chứng minh tàu khu trục của Mỹ trong hoạt động trinh sát đã xâm phạm lãnh hải Việt Nam. Mặc dù vậy, không quân Mỹ ngày 5.08.1964 vẫn tiến hành cuộc ném bom bắn phá lãnh thổ Việt Nam. Ngày 10.10.1964, Quốc hội Mỹ đã thông qua Nghị quyết “Vịnh Bắc bộ” mở đường cho sự can thiệp bằng lực lượng vũ trang. Nghị quyết đã cho phép Tổng thống Lyndon Johnson được quyền sử dụng lực lượng vũ trang Mỹ ở Đông Nam Á, chính thức bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược chống miền Bắc Việt Nam. Nhà nước Liên bang Xô viết dựa trên các bằng chứng đã khẳng định các hoạt động của Mỹ chính xác là một cuộc xâm lược, các bằng chứng sau này đã được công luận Mỹ sử dụng trong các hoạt động chống chiến tranh ở Miền Nam Việt Nam.
Từ thời điểm đó, các tàu trinh sát điện tử đã tiến hành trực chiến trên biển Đông trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ của miền Bắc Việt Nam. Khu vực trinh sát chủ yếu là trung tâm các hoạt động tác chiến đường không của cụm tàu sân bay chiến thuật số 77 ( tập đoàn không quân tiến công chủ lực của hạm đội 7 Mỹ), hoặc như lính Mỹ vẫn gọi là "Yankee Station". Các tàu trinh sát của hạm đội Thái Bình Dương hoạt động ngay gần các tàu chiến Mỹ, thay đổi các tàu trực chiến cũng được thực hiện ngay trong khu vực.
Điều đó trở lên quen thuộc đến nỗi thủy thủ đoàn của Mỹ đưa tàu trinh sát của Liên Xô trở thành một phần không thay đổi của cụm tàu tác chiến chủ lực. Nhiệm vụ chủ yếu của tàu trinh sát lúc này là kịp thời thông báo cho Phòng không Việt Nam về các đợt tập kích ồ ạt của không quân hải quân Mỹ từ tàu sân bay, theo những thông tin thu thập được từ những kênh thông tin liên lạc của Hải quân Mỹ. Trong thời gian này, trên Biển Đông có khoảng 8 tàu sân bay hoạt động, cụm không quân hải quân công kích chủ lực này có khoảng 150 chiến hạm và tàu hỗ trợ hậu cần kỹ thuật đi cùng.
Tàu trinh sát điện tử Xô Viết hoạt động ngay cạnh cụm tàu sân bay Mỹ trên biển Đông
Tàu trinh sát điện tử Xô Viết hoạt động ngay cạnh cụm tàu sân bay Mỹ trên biển Đông.
Theo sự mở rộng hoạt động và tăng cường quân số của các tập đoàn quân đội Mỹ trong chiến tranh, nhiệm vụ của lực lượng trinh sát trên biển cũng được mở rộng. Các hải cảng quân sự như Đà Nẵng, Cam Ranh, Nha Trang trở thành những căn cứ quân sự trung chuyển, từ đó các lực lượng bộ binh và lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ lên lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Vì vậy, các lực lượng trinh sát điện tử trên biển được tăng cường nhiệm vụ theo dõi các hoạt động triển khai lực lượng của quân đội Mỹ và những chiến dịch do quân đội Mỹ triển khai trên các khu vực thuộc miền Nam Việt Nam.
Đến tháng 2 năm 1968, trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm cả vùng nước và đất liền tham gia hoạt động tác chiến có 543.000 quân nhân Mỹ tham chiến (hơn 30% quân số của toàn bộ LLVT Mỹ , 40% máy bay cấp chiến thuật, gần 70% lực lượng lĩnh thủy đánh bộ…). Tổng số lực lượng tham chiến của Hạm đội 7 (35.000 người.) lực lượng không quân Mỹ có mặt ở Thái Lan và Guam (45.000 người), quân số của quân đội Mỹ ở khu vực Đông Nam Á lên đến hơn 600.000 người. Cũng theo yêu cầu hiệp đồng tác chiến, trong chiến trường Miền Nam Việt Nam đã lôi kéo thêm các đồng minh khu vực như (Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Australia và New Zealand). Với số lượng không lớn, những cũng tăng cường thêm nhiều năng lực tác chiến của quân đội Mỹ.
Hiệu quả tác chiến cao của lực lượng trinh sát trên biển trong vùng Vịnh Bắc Bộ đã có được một kết quả vô cùng quan trọng. Ngày 28.2.1965 trong thời gian thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch hội đồng Xô Viết tối cao toàn Liên bang ông A.N.Kosygin, phía Việt Nam đã bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc Liên Xô đã cũng cấp kịp thời và chuẩn xác những thông tin cảnh bảo sớm về các cuộc không kích của lực lượng không quân Hải quân và lực lượng Không quân chiến lược – chiến thuật Mỹ. Nhờ có những thông tin cảnh báo sớm mà lực lượng phòng không Việt Nam có thời gian chuẩn bị, sẵn sàng đánh chặn và phản kích mọi cuộc tập kích đường không. Điều đó giúp cho nhân dân Việt Nam giảm thiểu những tổn thất và lực lượng vũ trang giáng những đòn chí mạng vào kẻ thù. Khi A.N.Kosygin quay về sau chuyến thăm, tại Vladivostok đã quan tâm đến vấn đề, bằng cách nào mà lực lượng trinh sát điện tử hạm đội Thái Bình Dương có thể chi viện thông tin tình báo kịp thời cho Việt Nam.
Cục trưởng trinh sát điện tử, chuẩn đô đốc A.N.Sotnikov đã báo cáo chi tiết thống kê các hoạt động và kết quả đạt được của các tàu trực chiến trinh sát điện tử trên Biển Đông và khu vực đảo Guam. Cùng với thời gian tàu trinh sát điện tử "Gidrofon" quay trở về căn cứ ngày 28.02.1965. A.N.Kosygin đã trực tiếp lắng nghe báo cáo của thuyền trưởng trung úy hải quân A.A. Plotnhicov và chỉ huy trưởng nhóm trinh sát điện tử thượng úy V. Danhilov. Lắng nghe báo cáo đồng thời nghe được điều kiện sống và làm việc của thủy thủ đoàn trong thời gian trực tác chiến dài ngày trên biển, A.N.Kosygin đã chỉ thị cho các cơ quan chức năng chuẩn bị Nghị quyết của Hội đồng bộ trưởng Xô viết về hoạt động của các tàu trinh sát điện tử và khẩu phần – quyền lợi đặc biệt của lực lượng khi tiến hành các hoạt động tác chiến trên biển lớn ( Nghị quyết số №433).
Bản anh hùng ca 
Ngày 2.06.1967 Tàu vận tải containers Liên Xô “Turkestan” neo đậu dỡ hàng tại vùng nước cảng Cẩm Phả, bị máy bay cường kích hải quân Mỹ tấn công. Thủy thủ kỹ thuật viên điện lực Nicholas Ribachuk hy sinh, sáu người khác bị thương. Một vụ scandal chính trị bùng nổ nghiêm trọng, vì người Mỹ quyết liệt bác bỏ việc máy bay Mỹ tấn công tàu xô Viết. Nhưng như những câu truyện truyền thống của Nga “trinh sát báo cáo chính xác” Nhóm trinh sát điện tử từ tàu GS-34, thuyền trưởng – đại úy hải quân B.M. Mozzhukhin đã chặn được thông tin liên lạc vô tuyến của nhóm máy bay không kích Mỹ từ tàu sân bay và đưa ra những số liệu chính xác về số hiệu các máy bay thuộc phi đội bay từ tàu sân bay "Midway", thời gian và địa điểm của cuộc tấn công. Phía Mỹ đã buộc phải xin lỗi về vụ việc đã xảy ra và chấp nhận đền bù thiệt hại. Trưởng nhóm trinh sát điện tử B.M.Mozzhukhin đã được trao huân chương "Sao Đỏ".
Ngày cũng như đêm, các trinh sát viên điện tử tác chiến trong mọi điều kiện thời tiết
Ngày cũng như đêm, các trinh sát viên điện tử tác chiến trong mọi điều kiện thời tiết.
Từ tháng 5.1972 quân đội Mỹ tiến hành các hoạt động ồ ạt phong tỏa bằng thủy lôi các tuyến đường hàng hải vào các hải cảng của miền Bắc Việt Nam. Thủy lôi được thả bởi các máy bay của không quân Hải quân Mỹ A-7 "Corsair" và A-6 "Intruder" từ các tàu sân bay "Kitty Hawk" và "Coral Sea", trong vòng 8 tháng Mỹ đã thả hơn 11.000 thủy lôi Мк-36 và Мк-52-2. Lượng thủy lôi được thả nhiều nhất vào tháng 8.1972, khi không quân hải quân Mỹ từ 6 tàu sân bay bí mật thả các thủy lôi mang đầu nổ thủy âm và từ trường trên tuyến hành lang hàng hải dẫn vào cảng Hải Phòng và ngay trong lòng sông Cấm.
Tại cảng Hải Phòng, mười tàu vận tải bị phong tỏa không rời cảng. Chiến dịch này bị phát hiện kịp thời bởi nhóm trinh sát điện tử thuộc tàu trinh sát "Deflektor" (thuyền trưởng – đại úy C.V. Kuchin, chỉ huy trưởng nhóm OSNAZ K.P.Chudin) hoạt động ​​trên Vịnh Bắc Bộ. Thông tin chiến dịch đã kịp thời thông báo cho Bộ tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương và Cơ quan lãnh đạo đơn vị vận tải tầm xa của Vladivostok. Nhờ thông tin kịp thời mà các tàu hàng hải Xô Viết không bị trúng thủy lôi.
Tháng 12.1972. Tại hội nghị Paris các cuộc đàm phán kéo dài giữa chính phủ Mỹ và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về vấn đề chấm dứt ném bom và ngừng bắn trên lãnh thổ Việt Nam.
Các cuộc đàm phán diễn ra trong điều kiện những tổn thất về binh lực và sinh lực Mỹ ngày càng tăng, các hoạt động tấn công của lực lượng Quân Giải phóng Miền Nam diễn ra dồn dập trên khắp các chiến trường. Miền Bắc Việt Nam tiếp tục nhận được những tổ hợp tên lửa phòng không Dvina và tên lửa, đủ khả năng tiêu diệt tất cả các mục tiêu trên không của Không quân Mỹ và rất hiệu quả khi chiến đấu với các vật thể bay tầm thấp. Không quân Việt Nam nhanh chóng lớn mạnh và càng ngày càng tác chiến hiệu quả. Trên các phương tiện thông tin đại chúng SMI đăng càng ngày càng nhiều hình ảnh các máy bay bị bắn rơi và phi công Mỹ bị bắt làm tù binh.
Trong cuộc đàm phán cam go này, các đại diện cho chính phủ Mỹ muốn tìm một giải pháp rút quân khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự. Với tư cách là một siêu cường, người Mỹ lựa chọn giải pháp chính trị dựa trên sự đe dọa vũ lực. Từ 25.12.1972 Bộ chỉ huy tối cao quân đội Mỹ bắt đầu tiến hành một chiến dịch không kích miền Bắc quy mô lớn nhất trong tất cả các cuộc chiến tranh tính từ năm 1945 trở về sau này, nhằm vào hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng đồng thời không kích các căn cứ quân sự của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Vấn đề quan trọng nhất là yếu tố bất ngờ.
Máy bay Mỹ cất cánh từ các tàu sân bay vào đánh phá Miền Bắc Việt Nam
Máy bay Mỹ cất cánh từ các tàu sân bay vào đánh phá Miền Bắc Việt Nam.  
Cuộc không kích bắt đầu vào những ngày trước lễ Giáng sinh không xa, theo thông lệ người Mỹ sẽ không tiến hành các hoạt động chiến tranh tích cực. Thực hiện cuộc tập kích đường không này, người Mỹ đã sử dụng tất cả lực lượng không quân ở châu Á Thái Bình Dương khu vực Đông Nam Á. Chỉ tính riêng không quân Hải quân trên 7 tàu sân bay của Mỹ đã tiến hành 1500 lần xuất kích.
Nhưng Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam và ban cố vấn quân sự Liên xô đã nắm chắc được ngay từ thời điểm đợt cất cánh ồ ạt của không quân Mỹ từ các tàu sân bay. Nguồn thông tin cung cấp là tàu trinh sát điện tử "Kursograf" (thuyền trưởng - chỉ huy trưởng O.D.Tulchin, các chỉ huy của nhóm OSNAZ là thuyền trưởng - trung úy V.G. Kozlov, Thượng úy hải quân V.A.Karev) nằm ngay ở trung tâm đội hình chiến đấu của Tập đoàn không quân hải quân tấn công chủ lực số 77 Mỹ. Tàu trinh sát điện tử nằm trên khu vực căn cứ Guam đã thông báo kịp thời, chính xác thời điểm các cụm máy bay ném bom chiến lược B-52 bắt đầu cất cánh, số lượng máy bay, giãn cách khoảng cách bay của đội hình chiến đấu. Do thu thập thường xuyên thông tin trao đổi giữa chỉ huy mặt đất và các lực lượng tập kích, các tàu trinh sát điện tử đã nắm chắc được từng diễn biến bắt đầu các đợt không kích cả ở Utapao và Guam.
Những thông tin thu thập được thông qua Bộ tổng tham mưu quân đội Liên xô đến Bộ tham mưu QĐNDVN liên tục, kịp thời, cho phép toàn bộ hệ thống phòng không Việt Nam được đưa vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu đúng thời điểm nhất. Trong 12 ngày đêm không quân Mỹ đã ném hơn 100.000 quả bom các loại và Lực lượng Phòng không Việt Nam cũng hạ 81 máy bay Mỹ, trong đó có 31 là pháo đài bay B-52 và 5 F-111. Trước sức ép ngày một tăng của công luận quốc tế đồng thời gánh chịu những tổn thất nặng nề trong cuộc chiến, đến ngày 27.01.1973. Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris về việc rút toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi Miền Nam Việt Nam.
Từ tháng 2 đến tháng 4.1973, người Mỹ sau khi kết thúc cuộc chiến tranh trên không chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chuyển toàn bộ hoạt động tác chiến của mình về phía miền Nam Việt Nam, bao gồm các các tàu sân bay. Theo hiệp định Paris 1973, hạm đội 7 Mỹ có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động gỡ toàn bộ thủy lôi đã phong tỏa vùng vịnh Bắc Bộ, đặc biệt là khu vực Cảng Hải Phòng. Chiến dịch này mang tên gọi là "End Sweep" (" lần quét cuối cùng"). Quân đội Mỹ đã tổ chức một lực lượng rà phá thủy lôi bao gồm tàu sân bay trực thăng "Okinawa" (kỳ hạm), các tàu đổ bộ hải quân có sân bay cho trực thăng rà quét mìn, các tàu đổ bộ, các tàu quét mìn phi từ trường, tàu cảnh giới yểm trợ và các tàu đảm bảo hậu cần kỹ thuật.
Toàn bộ đội tàu rà phá thủy lôi gồm có 50 chiến hạm và tàu khác nhau. Lực lượng chủ đạo giải quyết nhiệm vụ rà quét thủy lôi được trang bị máy bay trực thăng đổ bộ "Sea Staley" với lưới sonar và lưới quét từ trường trên thân và các tàu quét mìn phi từ tính (tàu không chế tạo từ kim loại) trang bị các lưới quét mìn. Để thực hiện nhiệm vụ, hải quân Mỹ đã triển khai hệ thống tọa độ 3D có độ chính xác cao "Reydist" dẫn đường cho máy bay và các tàu quét mìn. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử hải quân hiện đại trên thế giới có một chiến dịch ra quét thủy lôi – mìn trên biển bằng trực thăng và tàu quét mìn phi từ tính.
Tàu đổ bộ Washtenaw County (LST-1166) Mỹ trên đường vào cảng Hải Phòng
Tàu đổ bộ Washtenaw County (LST-1166) Mỹ trên đường vào cảng Hải Phòng.
Sơ đồ máy bay SH – 53 Seahawk rà phá thủy lôi trên cảng Hải Phòng năm 1973
Sơ đồ máy bay SH – 53 Seahawk rà phá thủy lôi trên cảng Hải Phòng năm 1973.
Ảnh chụp thủy lôi bị kích nổ
Theo mệnh lệnh của Tổng tư lệnh lực lượng Hải quân Xô Viết và tư lệnh trưởng hạm đội Thái Bình Dương, một đơn vị hỗn hợp của hạm đội dưới sự chỉ huy của Hải đoàn trưởng hải đoàn 38 đại úy hạng 1 D.T. Lukas được thành lập bao gồm các tàu trinh sát biển "Aneroid" (kỳ hạm), "Protraktor", "Kursograf", "Barograf", "Gidrofon" tàu quét mìn MT-4 và MT-5 cùng với tàu chở dầu yểm trợ hậu cần kỹ thuật "Vladimir Kolechitsky." Mục tiêu chính của đội gồm:
- Phát hiện và nắm bắt được các hoạt động tác chiến của phân đội tàu rà quét thủy lôi, chiến thuật ra phá thủy lôi, các phương tiện và lực lượng dùng để rà phá thủy lôi, tính năng kỹ chiến thuật và khả năng triển khai các trận địa thủy lôi của địch trên biển.;
- Đánh giá được kết quả rà quét thủy lôi của đối phương trên vịnh Bắc Bộ, từ đó xác định được những nguy hiểm còn tồn tại, cảnh báo sớm cho phía Việt Nam và các tàu thuyền của lực lượng vận tải Xô Viết về nguy cơ thủy lôi ở khu vực nghi ngờ.
Với nhiệm vụ được giao, phân đội hỗn hợp cấp chiến dịch đã hoàn thành xuất sắc, xác định được hầu hết các khu vực ẩn chứa nguy cơ thủy lôi, số lượng thủy lôi đã rà phá và số lượng còn tồn đọng ở các vùng nước khu vực. Khi chiến dịch rà quét thủy lôi “Sea Sweep” của Mỹ kết thúc. Bộ Tổng tham mưu lực lượng QĐNDVN và Bộ tổng tham mưu lực lượng Hải quân Xô Viết đã có được những thông tin đầy đủ về kết quả của chiến dịch.
Vào giữa tháng Ba năm 1973, chiếc tàu vận tải của Liên Xô "Pioneer Marat Kazei" rời cảng Hải Phòng và trên đường ra khơi gặp tàu trinh sát điện tử "Kursograf." Và điều đầu tiên các thủy thủ Liên Xô đã trao đổi với nhau bản đồ các bãi thủy lôi do Mỹ đã rải, các tuyến đường hải hành an toàn và vài mảnh vỡ của máy bay B-52.
Ngày 31.12.1974, tàu trinh sát điện tử cuối cùng "Kursograf" quay trở về căn cứ từ Biển Đông. Đó cũng là kết thúc tuyệt vời của bản anh hùng ca Việt Nam của hải đoàn trinh sát điện tử. Ngày 1.05.1975 các thủy thủ - trinh sát viên điện tử rất hài lòng xem vô tuyến trận chiến cuối cùng của Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam tiến vào Sài Gòn trong cờ hoa rực rỡ, cũng với những chiếc máy bay trực thăng bay hoảng loạn từ nóc nhà đại sứ quán Mỹ, và sự tan giã của chính quyền chế độ cũ.
Trong các trận không chiến trên bầu trời miền Bắc Việt Nam, các chiến sĩ trinh sát điện tử ghi lại được 526 máy bay chiến đấu Mỹ và 13 máy bay trực thăng bị bắn rơi, không tính 193 máy bay và 270 trực thăng của tập đoàn quân lính thủy đánh bộ Mỹ, 591 phi công Mỹ bị bắt. Những thông tin này đã được khẳng định gần sát với con số mà cuốn sách không quân hải quân Hoa Kỳ 1910-1995 «United States Naval Aviation 1910-1995» (Washington, 1997) đã nêu.
Trong cuộc chiến tranh điện tử mà các thủy thủ - trinh sát điện tử tiến hành trong khu vực chiến sự, nguy hiểm luôn cận kề. Các tàu trinh sát của hải quân Xô Viết, người Mỹ biết rất rõ, nhưng họ không muốn va chạm, do các tàu này hoạt động ở vùng nước quốc tế. Ngoài ra, tồn tại một quy luật bất thành văn giữa hai lực lượng hải quân Nga và Mỹ: “các tàu trinh sát không can thiệp”. Nhưng những hành động khiêu khích quấy rối vẫn luôn xảy ra với các tàu trinh sát trên biển:
- Tháng 9.1967, tàu trinh sát điện tử "Anemometr" ("Kirby") ở Biển Đông, tàu tác chiến điện tử Mỹ "Bonner" đã cố ý gây một vụ đâm húc va chạm. Trường hợp này cả hai tàu đều không có những tổn thất quá nặng. Tàu trinh sát điện tử ("Kirby") bị một vết lõm lớn ở thân tàu phía trước.
- Năm 1968, trên biển Đông, tàu trinh sát điện tử "Izmeritel" lại bị chính tàu "Bonner" của Mỹ tấn công đâm húc một lần nữa nhằm đẩy tàu trinh sát ra khỏi khu vực đang hoạt động tác chiến.
- Ngày 3.10.1969, tàu “Gidrofon” bị các tàu tuần biển của hải quân Sài Gòn tấn công khi đang hoạt động trinh sát tại vùng nước ven bờ của Miền Nam Việt Nam, trúng đạn, tàu “Gidrofon” bị cháy một số nơi, một phần trang thiết bị bị hỏng hóc, nhưng các thủy thủ trên tàu an toàn. Lòng dũng cảm và ý chí kiên cường trong thực tế công tác đã trở thành bản chất của lực lượng trinh sát điện tử. Nhiều thủy thủ - chiến sĩ trinh sát điện tử được thưởng huy chương “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.
- Tháng 12.1969, tàu trinh sát "Protraktor" bị tàu tuần biển của Hải quân Sài Gòn tấn công hỏa lực khi đang hoạt động gần vùng nước chủ quyền Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ, cuộc tấn công hỏa lực đã làm thủy thủ A.N. Lebedev bị thương ở chân. Tàu bị bắn thủng 16 lỗ mạng tàu trên vạch ngấn nước, mặc dù vậy, tàu chỉ chạy ra xa vùng lãnh hải và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ;
- Tháng 4. 1970, với mục đích đẩy tàu “Peleng” ra khỏi khu vực theo dõi các tàu sân bay, máy bay cường kích "Skyhawk" tiến hành ném bom dọc theo hải trình của tàu phía mũi và đuôi tàu trên khoảng cách 1 đến 2 sải. Máy bay không tấn công vào tàu và không có tổn thất;
- Tháng 4.1973, trong quá trình theo dõi chiến dịch “End Sweep”, một trong những tàu kéo của Mỹ đã cố ý giả như đâm thẳng vào tàu trinh sát "Aneroid", đang thả neo trên tuyến đường hành lang trên trận địa thủy lôi và bật đèn neo tầu. Tàu kéo Mỹ đã đi sát mũi tàu của "Aneroid" cách khoảng vài mét và chân vịt tàu kéo đã mắc phải xích neo của tàu "Aneroid". Rất may các lái tàu của tàu kéo Mỹ khá có kinh nghiệm, nếu không cả hai tàu có thể bị tổn thất nặng nề. Trong chiến tranh là chiến tranh. Có trường hợp, các thủy thủ của tàu "Kursograf" đã cứu một thủy thủ Mỹ bị rơi khỏi boong của tàu chỉ huy tham mưu "Blue Ridge". Nhờ sự kiện này họ nhận được thư cảm ơn và quà của Bộ chỉ huy hải quân Hạm đội 7. Có nhiều trường hợp các tàu trinh sát cũng cứu được những thuyền nhân, hoặc các thủy thủ các tàu đánh cá bị trôi dạt trên biển. Rất nhiều trường hợp bất ngờ đã xảy ra. Nhưng sau gần 40 năm tính từ thời điểm chiếc tàu trinh sát cuối cùng rút khỏi Biển Đông, Hải quân Thái Bình Dương mới có điều kiện viết lại một biên niên sử.
Kinh nghiệm của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước và những hoạt động của Hải đoàn tác chiến điện tử của Hạm đội Thái Bình Dương Liên Xô cho thấy, tác chiến điện tử trên biển lớn đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và ngăn chặn những nguy cơ chiến tranh trong giai đoạn hiện nay. Tác chiến điện tử trên biển lớn có ưu thế vượt trội so với các loại hình tác chiến khác như tác chiến điện tử mặt đất, tác chiến điện tử trên không và trên vũ trụ. Hầu hết mọi cuộc xâm lược và chiến tranh đều đến từ phía biển, bắt đầu tập trung lực lượng, xây dựng đội hình tác chiến, liên kết phối hợp và xuất phát hỏa lực tấn công đều bắt đầu trên biển lớn. Mọi tuyến thông tin liên lạc dù thời bình hay thời chiến đều diễn ra bằng sóng vô tuyến các dải tần số trên biển rộng – dễ dàng cho hoạt động tình báo hoặc trinh sát. Hoàn toàn không bị nhiễu địa hình hoặc ảnh hưởng của điều kiện không khí. Các tình huống chiến tranh hoặc xung đột bao giờ cũng có nguồn gốc từ không gian biển và tác động trực tiếp lên bờ biển và vào sâu trong lãnh thổ.
Để bảo vệ vững chắc biên cương tổ quốc, chủ quyền và lợi ích quốc gia – dân tộc, tác chiến điện tử trên biển, trong điều kiện thời bình là trinh sát – tình báo điện tử phải được hình thành và phát triển nhanh chóng, dưới mọi hình thức từ các lực lượng tuần biển đến các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ quan khai thác tài nguyên và đến lực lượng ngư dân trên biển lớn. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống tác chiến điện tử trên biển thời bình sẽ tránh được yếu tố bất ngờ trong xung đột vũ trang hay xâm phạm chủ quyền, đồng thời đáp ứng các yêu cầu về tình báo – trinh sát cảnh báo sớm, có đầy đủ điều kiện để đập tan mọi âm mưu xâm lược.
Nguồn: Trịnh Thái Bằng/Tienphong

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

Việt Nam chống tàu ngầm ở biển Đông thế nào (1).


Trên biển Đông có rất nhiều hạm đội tàu ngầm của nước ngoài đang tiến hành những hoạt động thăm dò, nghiên cứu, khảo sát và trực sẵn sàng tấn công trong điều kiện tình huống chuyển sang thời chiến.


Ngày 24/6 vừa qua, Quân chủng Hải quân công bố quyết định của Bộ Quốc phòng về việc thành lập Lữ đoàn tàu ngầm 189 tại Cam Ranh. Đây là quyết định mang ý nghĩa lịch sử với lực lượng Hải quân Việt Nam. Sự hình thành lực lượng tàu ngầm đã khẳng định định hướng chiến lược bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và lợi ích của quốc gia dân tộc trên không, trên biển và trên thềm lục địa.
 
Sự kiện lữ đoàn tàu ngầm cũng mang lại cho quân chủng hải quân những nhiệm vụ và những yêu cầu lớn, những đòi hỏi mới nhằm nâng cao khả năng phòng thủ biển và đáy biển trong chiến tranh hiện đại. Đặc biệt là tác chiến tàu ngầm và chống ngầm.
 
Tàu ngầm lớp 636 Kilo tại nhà máy. Ảnh: News.mail.ru
Tàu ngầm lớp 636 Kilo tại nhà máy của Nga. Ảnh: News.mail.ru
 
Trong lịch sử các cuộc chiến tranh trên biển, tàu ngầm đóng một vai trò quan trọng, là lực lương công kích chủ yếu, trong phòng ngự biển đảo, đóng vai trò chủ lực của các đòn tấn công bí mật, bất ngờ giải quyết chiến trường. Hiệu quả tác chiến tàu ngầm phụ thuộc hoàn toàn vào lực lượng chống ngầm của cả hai bên. Trong sự phát triển của hạm đội tàu ngầm non trẻ, vấn đề bí mật trong mọi hoạt động là sự sống còn của lực lượng.
 
Đối với các siêu cường quốc quân sự hải dương, vấn đề chống ngầm được nâng lên thành chiến tranh chống ngầm. Hầu hết các cường quốc như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản đặt nhiệm vụ chống ngầm lên hàng đầu trong tác chiến biển khơi và coi đó là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của lực lượng hải quân trong cả thời bình và thời chiến.
 
Tau-chong-ngam-VN-1374457841_500x0.jpg
Tàu săn ngầm Petya II trong biên chế hải quân Việt Nam.
 
Khái niệm chống ngầm được hiểu là: Một hệ thống các hoạt động trinh sát, tìm kiếm, theo dõi, xác định được tàu ngầm, chủng loại và tính năng kỹ thuật của nó, xác định được chính xác vị trí, dự đoán được hải trình cơ động, dự đoán được mục đích xâm nhập, nhiệm vụ thực hiện và trong điều kiện cần thiết - tiêu diệt tầu ngầm đối phương.
 
Do đặc điểm tàu ngầm càng ngày càng tăng cường về số lượng nên tính năng kỹ chiến thuật tàu ngầm cũng được tăng cường rất cao. Các tàu ngầm nguyên tử có khả năng hoạt động hầu hết thời gian là dưới mặt nước, ở độ sâu lớn. Các cường quốc trang bị trong biên chế tàu ngầm nguyên tử đã có rất nhiều thời gian để khảo sát, trinh sát, đo vẽ đáy biển và sử dụng các cơ sở dữ liệu đó trong thực tế, nên hiểu rất rõ vùng nước biển Đông cũng như thềm lục địa nước ta.
 
Các tàu ngầm diesel hiện nay, ứng dụng những công nghệ hiện đại trong chỉ huy, hoa tiêu dẫn đường, được lắp đặt các trạm nguồn và thiết bị hiện đại, cũng có khả năng hoạt động dài ngày dưới nước và hoàn toàn giữ được bí mật.
 
Rocket-chong-ngam-1374457841_500x0.jpg
Hệ thống rockets chống ngầm RBU-6000.
 
Trong khu vực Đông Nam Á, ngay trên biển Đông, có rất nhiều hạm đội tàu ngầm của nước ngoài đang tiến hành những hoạt động thăm dò, nghiên cứu, khảo sát và trực sẵn sàng tấn công trong điều kiện tình huống chuyển sang thời chiến. Trên tàu ngầm (nguyên tử hoặc diesel điện) đối phương có thể từ một vị trí bất ngờ nhất tấn công bằng tên lửa hành trình các mục tiêu trên biển hoặc ven biển, sử dụng ngư lôi tấn công các hạm tàu, triển khai các hoạt động thả bom chìm, thủy lôi phong tỏa hai cảng, căn cứ quân sự hoặc phong tỏa đảo, quần đảo.
 
Đồng thời, các tàu ngầm của đối phương ngay cả trong thời bình hoặc thời chiến, cũng có thể triển khai đổ bộ các lực lượng trinh sát đặc nhiệm, bí mật trinh sát địa hình, tiếp cận các mục tiêu quân sự, kinh tế quan trọng của đất nước, nhằm mục đích nắm bắt thông tin, sẵn sàng cho các hoạt động tấn công khi cần thiết.
 
Như vậy, trong thế trận phòng thủ đất nước, hệ thống chống ngầm đóng vị trí vô cùng quan trọng. Nó quyết định khả năng thành bại của một cuộc chiến tranh chớp nhoáng trên biển, ven biển và hải đảo. Các hạm đội hải quân hiện đại nước ngoài ngày nay có các tàu ngầm nguyên tử và diesel điện - số lượng rất lớn và vũ khí trang bị rất hiện đại. Khi xảy ra chiến tranh, các tàu ngầm đối phương sẽ tấn công hải cảng, các hạm tàu, các trận địa phòng ngự ven biển, các mục tiêu quan trọng khác bằng ngư lôi và tên lửa. Đồng thời địch cũng có thể dùng tàu ngầm để bố trí các trận địa thủy lôi phong tỏa đường biển.
 
Hệ thống phòng thủ chống ngầm hiện đại bao gồm có: (1) Hệ thống trinh sát truy tìm, phát hiện, định vị và theo dõi các tàu ngầm trong khu vực, phòng tuyến chống ngầm. (2) Các phương tiện chống ngầm (máy bay, chiến hạm chống ngầm, tàu ngầm diesel chống ngầm). (3) Các loại vũ khí chống ngầm ( tên lửa chống ngầm, ngư lôi, thủy lôi, bom chìm, rockets..).
 
Thuy-loi-chong-ngam-1374457841_500x0.jpg
Thủy lôi chống ngầm thông minh.
 
Hệ thống trinh sát, truy tìm, phát hiện tàu ngầm bao gồm các loại khí tài: sonar siêu âm, các bộ khí tài micro thủy âm thụ động cố định hoặc cơ động , anten của các đài thu phát thủy âm kéo theo các chiến hạm , phao thủy âm thả từ máy bay, thiết bị đo độ biến thiên từ trường, radar, các bộ cảm biến đo áp lực nước, khí tài đo nồng độ dầu diesel... Các trạm trinh sát sonar, radar, đài thu thủy âm cố định trên bờ biển, các trạm trinh sát trên chiến hạm chống ngầm, trên máy bay chống ngầm (máy bay chống ngầm và trực thăng chống ngầm). Các trung tâm thu thập, xử lý thông tin và lưu trữ cơ sở dữ liệu, sở chỉ huy phòng thủ chống ngầm các cấp.
 
Các phương tiện chống ngầm: Các phương tiện chống ngầm theo truyền thống là các máy bay chống ngầm các loại, bao gồm máy bay chống ngầm tuần biển như P-3 Orion, P-8 Poseidon, máy bay trực thăng chống ngầm, các chiến hạm chống ngầm, các chiến hạm mang vũ khí chống ngầm, tàu ngầm... Trong đó, tàu ngầm được coi là phương tiện chống ngầm hiệu quả nhất.
 
Các vũ khí chống ngầm: Được chia thành hai loại vũ khí chống ngầm, loại thứ nhất là các tên lửa chống ngầm phóng từ máy bay, chiến hạm nổi, tàu ngầm, ngư lôi, bom chìm rockets. Loại thứ hai là các trận địa thủy lôi thông minh, thủy lôi thông thường các loại thiết bị kích nổ khác nhau.
 
Các phương thức chống ngầm thông thường bao gồm các hệ thống trinh sát bằng radar theo dõi mặt biển nhằm xác định mục tiêu tầu ngầm, các máy bay tuần biển liên tục theo dõi các khu vực có thể có tàu ngầm cơ động, trong những trường hợp có nguy cơ, các chiến hạm chống ngầm và tàu ngầm đa nhiệm sẽ tiến hành thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm và theo dõi các vùng nước nghi ngờ.
 
(Còn nữa)
 
Theo Tiền Phong

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

Tại sao chiến hạm "tia chớp" lại nguy hiểm trên biển Đông.

13:00 | 15/07/2013






T








TPO - Molniya thực sự là mũi tấn công chớp nhoáng, có thể hủy diệt các chiến hạm đối phương có lượng giãn nước lớn hơn như tàu hộ vệ tên lửa, tàu khu trục và tuần dương. Uy lực tốc độ và hỏa lực dồn dập của Molniya sẽ là sát thủ của mọi chiến hạm kẻ thù trên biển Việt Nam.
Chiến đấu trên biển có những đặc điểm hoàn toàn khác với chiến đấu trên bộ và trên không.

Đối phương trong các hoạt động tác chiến trên biển thông thường là những lực lượng có tiềm lực kỹ thuật, khoa học công nghệ và vũ khí trang bị lớn hơn ta gấp nhiều lần. Các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh, đối phương nắm rất rõ tính năng kỹ chiến thuật, khả năng tác chiến, phương pháp sử dụng và đương nhiện, đối phương đã chuẩn bị đầy đủ cho mọi tình huống có thể xảy ra trên chiến trường.
Các chiến hạm nổi hoàn toàn phơi mình trên mặt biển, sự sống còn phụ thuộc hầu hết vào quyết định của thuyền trưởng. Trong mọi tình huống, lực lượng công kích bao giờ cũng có binh lực, vũ khí trang bị mạnh hơn gấp nhiều lần, hiện đại và siêu hiện đại, đồng thời cũng tính được tất cả những gì mà một chiến hạm hoặc một cụm chiến hạm có thể thực hiện được. Vấn đề còn lại là sự quyết định sáng tạo, quyết đoán của hạm trưởng, sự thuần thục trong hành động và hiểu biết sâu sắc hạm tàu, trang thiết bị của thủy thủ đoàn, cũng như tính kỷ luật và tuyệt đối phục tùng, thực hiện mệnh lệnh chính xác.
Trong lịch sử các trận hải chiến, không ít lần sự sáng tạo và ý chí sắt thép, tính kỷ luật và quyết tâm cao độ đã thắng những lực lượng hải quân hùng mạnh gấp nhiều lần. Một trận hải chiến khá nổi bật trong lịch sử hải quân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước là trận công kích tàu khu trục Maddox.
Xuồng phóng lôi 333 thoát ly hải chiến sau khi công kích thành công khu trục hạm USS Maddox
Xuồng phóng lôi 333 thoát ly hải chiến sau khi công kích thành công khu trục hạm USS Maddox.

Trong trận đánh đêm 31.7.1964, rạng sáng 1.8, tàu khu trục Maddox khi xâm phạm vùng biển Quảng Bình, sau đó tiến lên phía bắc, điều tra các mạng lưới phòng thủ của Việt Nam ở khu vực đèo Ngang, Hòn Mát, Hòn Mê, Lạch Trường. Ba xuồng phóng lôi 333, 336, 339 nhận nhiệm vụ đánh chặn. Ngày 2.8.1964 3, tàu phóng lôi của Hải quân Việt Nam tiếp cận và tấn công. Tàu khu trục Maddox sử dụng hỏa lực mạnh đánh chặn, tàu 333 nghi binh cho xuồng 336 và 339 công kích. Mỹ sử dụng 5 máy bay hải quân tham chiến, hỏa lực của tàu khu trục và máy bay làm 2 xuồng 336 và 339 bị tổn thất. Tàu phóng lôi 333 quay trở lại, dù bị trúng đạn pháo nhưng vẫn tận dụng tốc độ cao và áp sát khu trục hạm Maddox phóng đạn, bị trúng 1 quả ngư lôi của xuống 333. Tàu Maddox bị cháy và phải rút khỏi vịnh Bắc Bộ.

Trong trận đánh lịch sử này, yếu tố bất ngờ xảy ra khi tàu 336 và 339. Mũi công kích chủ lực bị lực lượng không quân và pháo hạm đối phương gây tổn thất, đối phương đã tin tưởng vào khả năng tiêu diệt được phân đội tàu nhỏ bé của hải quân Việt Nam, nhưng chính vào thời điểm đối phương sơ hở là lúc tàu 333 sử dụng tốc độ cao tiếp cận và phóng ngư lôi thành công.
Bất ngờ - một trong những nguyên tắc của nghệ thuật quân sự, một yếu tố vô cùng quan trọng quyết định chiến thắng trong một trận hải chiến. Ở cấp độ chiến thuật, yếu tố bất ngờ được thực hiện bằng biện pháp lựa chọn cách sử dụng vũ khí tấn công mục tiêu hoặc tạo ra các tình huống chiến thuật mà trong tình huống đó, đối phương không có khả năng phòng thủ hiệu quả của đòn tấn công. Trong tình huống lực lượng tương đương và tính năng kỹ chiến thuật của cả hai bên, yếu tố bất ngờ cho phép đạt được hiệu quả cao nhất với tiêu hao đạn dược và thời gian, đồng thời với tổn thất thấp nhất. Thực hiện được yếu tố bất ngờ gắn liền với việc tiến hành một loạt những hành động, hoàn toàn không nằm trong dự tính của kẻ thù theo thời gian, vị trí, vũ khí trang bị sử dụng và các phương thức tiến hành các hoạt động tác chiến.
Trong hải chiến, yếu tố bất ngờ thông thường mang tính chất chiến thuật, trong tình huống đã bắt đầu các hoạt động tác chiến. Kinh nghiệm chiến đấu và các hoạt động diễn tập thực binh cho thấy, để đạt được yếu tố bất ngờ, phần lớn dựa vào tính năng kỹ chiến thuật của các phương tiện tác chiến của hạm đội, tính năng động, sáng tạo của chỉ huy trưởng với những giải pháp tối ưu và sáng tạo nhất trong cơ động, lựa chọn loại và phương pháp sử dụng vũ khí, thực hiện những kỹ thuật tác chiến mới mà đối phương hoàn toàn không dự tính được. Hải chiến – là nghệ thuật chiến đấu, phụ thuộc hoàn toàn vào người chỉ huy, đây là sự đối đầu giữa binh khí kỹ thuật và trí tuệ, để dành được thắng lợi hoặc bị đánh chìm. Rất chính xác khi Đô đốc Hải quân Nga S.О. Makarov nhận xét: "Hải chiến không phải là một trận đấu kiếm hay đấu súng vì danh dự, mà trong đó, mọi điều kiện trận đánh mỗi bên phải giống nhau. Ngược lại, cần phải nỗ lực và cố gắng đạt được yếu tố, mà tất cả những điều có lợi thế thuộc về phía mình, và tất cả những bất lợi ở bên phía đối phương; đây là nhiệm vụ chủ yếu của chiến thuật, càng thực hiện hoàn hảo điều này, càng giảm những tổn thất …. Và có thể dành thắng lợi.
Những tình huống phi chuẩn và những hành động phi chuẩn sẽ đưa đối phương vào trạng thái kinh ngạc, không tự tin, thông thường buộc đối phương trong một thời gian ngắn không kịp phản ứng và không thực hiện được nhiệm vụ được giao.
Bất ngờ, thông thường cho hiệu quả tác chiến rất cao khi sử dụng vũ khí trang bị mới và kỹ năng tác chiến phi chuẩn của hải đội tham chiến. Cùng với việc sử dụng các phương tiện chiến đấu truyền thống – chiến hạm, tên lửa, pháo hạm – nhưng cách đánh sáng tạo phi chuẩn – sử tốc độ cơ động, phương pháp tiếp cận phi chuẩn, khả năng điều khiển hạm tàu đến tận cùng giới hạn hoặc vượt sức bền, công suất, khả năng điêu luyện sử dụng các vũ khí khí tài phòng thủ cũng như tấn công sẽ gây cho đối phương choáng sốc tâm lý mạnh mẽ, hoặc không kịp hay không thể áp dụng các biện pháp phòng ngự, từ khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi đó, lực lượng tấn công có được một ưu thế nhất định, đặc biệt trong thời gian đầu của trận đánh. Trong các trận đấu kinh điển, không hiếm những trường hợp, những đòn tấn công bất ngờ về thời gian, không gian, phương tiện cho đến các đòn tấn công cảm tử liểu kamikaze trên biển đem lại những kết quả rất bất ngờ.
Một ví dụ nữa về tính bất ngờ trong tác chiến, đó là ngày 27.3.1989, khinh pháo hạm "АК-213" dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng – trung úy N. Belyi được giao nhiệm vụ từ căn cứ hải quân trên đảo Dahlak (Biển Đỏ) một nhóm thủy thủ dân sự đã hết thời hạn phục vụ về Liên xô. Khi hải hành vượt biển, khinh pháo hạm bị 4 chiếc xuồng phóng lôi type "Jaguar" của nhóm quân ly khai Eritrean đuổi theo. Để thoát khỏi truy đuổi, hạm trưởng đã sử dụng bom chìm, phóng từ phía đuôi tàu với thời gian nổ khác nhau, xuồng phóng lôi dẫn đầu của địch trúng bom, bị xé tan. 3 chiếc còn lại bỏ chạy. Như vậy, yếu tố sử dụng bom chìm chống ngầm là yếu tố bất ngờ của trận chiến.
Trong chiến tranh hiện đại, trong nghệ thuật tác chiến trên biển của các cường quốc hải quân thường có xu hướng thành lập các cụm hải quân xung kích chủ lực, với các thành phần tác chiến đầy đủ, không quân hải quân, các hạm tàu các loại từ tuần dương hạm, khu trục hạm các loại, các hạm tàu hộ vệ tên lửa và chống ngầm, tàu ngầm diesel hoặc tàu ngầm nguyên tử. Với các loại vũ khí tấn công tầm xa như tên lửa hành trình, khả năng công kích của một cụm hải quân chủ lực cấp chiến dịch, chiến thuật có thể từ hàng chục km đến hàng trăm km.
Cụm hải quân xung kích chủ lực là lực lượng chủ đạo trong chiến đấu tấn công tiêu diệt lực lượng hải quân đối phương, công kích các mục tiêu ven bờ biển và yểm trợ đổ bộ đánh chiếm biển đảo.
Để đột phá xuyên qua vòng phòng ngự hỏa lực dày đặc của các cụm binh lực hải quân, đồng thới đánh thiệt hại nặng lực lượng chủ công của địch như tàu đổ bộ, tàu khu trục hoặc tuần dường, đối với các lực lượng hải quân các cường quốc chủ yếu sử dụng lực lượng tập kích tầm xa, dùng ưu thế của hỏa lực tên lửa đa tầm tấn công các mục tiêu chủ đạo.
Với lực lượng hải quân mỏng hơn, phương thức tác chiến sẽ hoàn toàn thay đổi, các chiến hạm phòng thủ phải dựa vào hỏa lực của lực lượng phòng thủ bờ biển và hải đảo, che chắn các đòn không kích của đối phương bằng hỏa lực phòng không bờ biển. Từ bàn đạp tác chiến ven biển, có thể sử dụng các khinh hạm tên lửa, có tốc độ cao và khả năng cơ động nhanh nhẹn, hỏa lực cực mạnh đột phá tuyến phòng ngự hỏa lực đối phương. Bằng các tên lửa có sức công phá lớn như P-15 Termit, có tốc độ siêu âm như P-270 Moskit hoặc các tên lửa nhẹ hơn, nhưng tấn công hàng loạt như tên lửa đối hạm Kh-35 Uran. Với phương án này, có thể vô hiệu hóa được hỏa lực chống tên lửa của tàu địch.
Molniya mang tên lửa P-15 Termit
Chiến hạm Molniya mang tên lửa P-15 Termit.
Molniya mang tên lửa diệt hạm Moskit
Molniya mang tên lửa diệt hạm Moskit .

Là một trong những dự án thành công nhất của Liên bang Xô Viết, khinh hạm tên lửa Molniya chính là mũi tên thần, chiếc tàu tiêm kích trong lực lượng phòng ngự của hải quân các nước đang phát triển. Thông số kỹ thuật của tàu hoàn toàn không lớn, tàu có chiều dài – 56.1m, rộng – 10.2 m; ngấn nước là – 4.3 (2.5) m; Lượng giãn nước khá nhỏ ; trung bình/đủ tải là – 436/493;
Với lượng giãn nước nhẹ, tính cơ động của tàu rất cao, có khả năng thực hiện những kỹ thuật điều khiển phức tạp quyết đoán trên biển, song hành cùng với khả năng cơ động, chiến hạm có tốc độ rất nhanh – 38-39 cho đến 41 knots (75.9 km/h); Hệ thống động lực 2 động cơ tua bin COGAG 12000 sức ngựa, cùng 2 động cơ đường trường 4000 sức ngựa (có hai mẫu là diesel và tua bin cho động cơ), 2 trục chân vịt. Đây chính là cấu trúc quan trọng cho phép một hạm trưởng có thể bẻ lái với góc ngoặt nhỏ nhất trong các động tác kỹ thuật chống tên lửa và ngư lôi.
Phiên bản đầu tiên của Molniya được lắp đặt tên lửa (4K40) P-15M Termit hay còn gọi là Rubez. Đây là tên lửa chống hạm hạng nặng với đầu đạn lên đến 490 kg. Tầm bắn từ 80 km đến 8km với vận tốc dưới âm là 0.9M. Trong cận chiến với khoảng cách gần dưới 40, Molniya với một tên lửa P-15M Termit có khả năng dìm bất cứ một chiến hạm nào xuống đáy biển.
Đặc điểm hỏa lực của Moniya thể hiện rõ tính chất của chiến hạm đột phá tuyến phòng ngự hỏa lực đối phương. Với tốc độ trên 70 km/h trên biển và khả năng cơ động nhanh nhẹn của hệ thống chuyển động. Nếu lắp đặt tên lửa Moskit, Molniya có khả năng tiêu diệt chiến hạm đối phương trong khoảng cách từ 240 km đến 10 km với 4 lần phóng liên tiếp. Cần nhớ rằng Moskit bay với tốc độ siêu âm đến 2,8M. Nếu được trang bị Kh – 35 (Uran – E). Tàu Moskit có khả năng phóng loạt đến 16 tên lửa có tốc độ cận âm 0.8M, có thể phóng liên tiếp trên khoảng cách từ 135 km đến 7 km so với mục tiêu với giãn cách tối thiểu 3s một lần phóng. Như vậy, với khả năng đột phá cao, Molniya càng gần mục tiêu càng trở lên nguy hiểm.
Phóng tên lửa Kh 35 Uran – E trên khinh hạm Molniya
Phóng tên lửa Kh 35 Uran – E trên khinh hạm Molniya.

Điểm yếu duy nhất của Molniya là phòng không, Molniya chỉ có hai pháo phòng không AK 630 và tên lửa vác vai, do đó, ở tầm xa, khi độc lập tác chiến, Molniya không có khả năng phòng ngự trước các đợt không kích bằng tên lửa chống tàu của máy bay đối phương.
Tác chiến trên biển lớn, Molniya nằm trong đội hình của cụm phòng không hải quân cơ động hoặc cụm chiến hạm công kích chủ lực, dưới sự yểm trợ của hỏa lực phòng không chiến hạm. Trong phòng ngự bờ biển, hải đảo, Molniya được yểm trợ bằng hỏa lực phòng không bờ biển hoặc hải đảo. Đối với các tên lửa chống tàu cận âm hoặc siêu âm tầm xa, Molniya phải dựa trên hệ thống phòng không của cụm chiến hạm hoặc phòng không bờ biển, đồng thời sử dụng các loại đạn gây nhiễu và súng phòng không AK 630. Cùng như sự năng động, sáng tạo và trình độ điều khiển hạm tàu của hoa tiêu và thuyền trưởng để cơ động tránh tên lửa.
Cơ động tác chiến tốc độ cao của Molniya
Cơ động tác chiến tốc độ cao của Molniya.

Tính chất đặc trưng cơ động cao và hỏa lực rất mạnh, Molniya thích hợp với khả năng tác chiến phòng ngự tầm xa trong một hệ thống phòng ngự dưới sự yểm trợ của hỏa lực phòng không, và tấn công tầm trung và tầm gần. Trong điều kiện cận chiến ở khoảng cách nhỏ hơn 120 km của các cụm chiến hạm tấn công, hoặc phòng ngự hải đảo, bờ biển, Molniya cơ động dưới sự yểm trợ của không quân hải quân, phòng không hải quân có thể bất ngờ đột phá thọc sườn đội hình đối phương hoặc tấn công chính diện 1 mục tiêu cụ thể (tàu khu trục, tàu tuần dương hoặc hộ vệ tên lửa).
Trong hải chiến hiện đại với các loại phương tiện, vũ khí khí tài siêu hiện đại, ý nghĩa của bất ngờ càng ngày càng có giá trị quyết định trận đánh. Các hoạt động tác chiến thể hiện tính chất quyết liệt và năng động, không gian chiến trường mở rộng, các lực lượng cơ động nhanh chóng, biến đổi mô hình tác chiến nhanh chóng cùng với việc thay đổi các phương thức tác chiến, vũ khí sử dụng chủ yếu sẽ là tên lửa, ngư lôi, thủy lôi và khí tài tác chiến điện tử. Từ đó cho thấy, yếu tố bất ngờ không thể được hình thành nếu không thể tiến hành các phương thức tác chiến chung, đồng bộ trong một trận chiến đấu hiệp đồng quân binh chủng đa không gian chiến trường, đa tầng tấn công và đa lớp phòng ngự, sử dụng triệt để các phương tiện tác chiến điện tử.
Những giải pháp nhằm tạo lên yếu tố bất ngờ là phát hiện đối phương kịp thời, bí mật triển khai đội hình chiến đấu đúng và hợp lý, đòn tấn công chớp nhoáng và rất mạnh, khả năng tiêu diệt mục tiêu cao nhất có thể. Tầm tấn công từ xa của hỏa lực, tốc độ tiếp cận mục tiêu nhanh, xác xuất tiêu diệt mục tiêu cao nhất (cần tính toán đến khả năng phòng ngự và phản kích của đối phương) là những đặc trưng của chiến thuật hải chiến hiện đại, đồng thời phải tính đến trình tự chiến đấu của các lực lượng, tổ chức liên kết phối hợp hỏa lực và thời gian thực hiện nhiệm vụ được giao. Một đặc điểm quan trọng của chiến thuật hải chiến hiện đại là với việc sử dụng rộng rãi các loại tên lửa tấn công khác nhau, không gian chiến trường rất rộng, khả năng chạm địch từ khoảng cách rất lớn. Kết quả của trận đánh có thể phụ thuộc vào tầm bắn của vũ khí, thông tin phần tử bắn, vị trí hỏa lực và các yếu tố đảm bảo khác.
Trong tác chiến hiệp đồng quân binh chủng hải quân (phòng không - không quân, không quân hải quân, hải quân và bộ đội bảo vệ biển đảo) của thế trận phòng ngự. Do lực lượng nhỏ hơn so với đối phương, yếu tố bất ngờ được hình thành từ khả năng phòng ngự cơ động và chắc chắn trong một đội hình chiến đấu hợp lý. Các thê đội phòng ngự thường bao gồm có: Phòng không tầm xa, phòng không tầm trung, phòng không tầm gần và cận gần, phòng tuyến chống ngầm. Do vũ khí tấn công hiện đại chủ yếu là tên lửa hành trình các tầm bay và các tốc độ khác nhau, do đó, khả năng bảo vệ lực lượng phòng ngự trên biển và hải đảo chủ yếu dựa vào phòng không, chống ngầm và cơ động liên tục trong một đội hình tác chiến thống nhất. Đòn phản công đánh thiệt hại đối phương sẽ là các khinh hạm tên lửa có tốc độ cao như Molniya.
Trong đội hình chiến đấu trên biển, Molniya thường cơ động ở thê đội II hoặc ở lực lượng dự bị, tuyến phòng ngự thứ nhất thông thường là các khu trục hạm hoặc hộ tống hạm có khả năng phòng không tốt hơn. Trong đội hình phòng ngự bờ biển do có chi viện hỏa lực phòng không bờ biển và hỏa lực công kích tầm xa của các phân đội tên lửa chống hạm tầm xa, Molniya cơ động ở tuyến phòng ngự thứ nhất. Khi điều kiện thuận lợi, cụm chiến hạm phòng ngự sẽ tổ chức những đòn phản công tốc độ rất cao, thành các biên đội tàu 2 – 3 chiếc cơ động xuyên phá hàng phòng ngự hỏa lực đối phương và công kích các mục tiêu trọng yếu.
Vị trí khinh hạm tên lửa Molniya trong đội hình tác chiến
Vị trí khinh hạm tên lửa Molniya trong đội hình tác chiến.

Do kích thước và lượng giãn nước nhỏ, Molniya cũng có thể thực hiện các nhiệm vụ tập kích, phục kích các đoàn congvoa quân cự đối phương trên những vùng nước nông, địa hình bờ biển và đảo, quần đảo phức tạp, đối phương khó phát hiện bằng các phương tiện trinh sát điện tử trên không, trên vũ trụ hoặc trên biển. Đồng thời, Molniya cũng tham gia các nhiệm vụ chi viện hỏa lực đổ bộ đường biển, với nhiệm vụ là lực lượng tiền tiêu, cảnh giới bên sườn phía trước trên đường hành quân vượt biển hoặc bảo vệ vòng ngoài chống chiến hạm của đối phương.
Với những tính năng kỹ chiến thuật cao, Molniya trong đội hình lực lượng hải quân là các chiến hạm đột phá, một kiểu mẫu tàu tiêm kích trên mặt biển trong các cuộc hải chiến trên biển. Với khả năng ẩn mình sau các chiến hạm lớn như hộ vệ tên lửa, khu trục hạm, Molniya có khả năng nhanh chóng trở thành một mũi tấn công chớp nhoáng, đúng với tên (Tia chớp) của nó. Đồng thời Molniya cũng có khả năng đột ngột cơ động với tốc độ cao, tập kích một đoàn congvoa quân sự hoặc những chiến hạm đơn lẻ. Đây chính là điểm mạnh của chiến tranh phi đối xứng, một phương thức tác chiến rất nổi tiếng có hiệu quả của các máy bay MiG 21, MiG 17 trong chiến tranh không quân ở Việt Nam.
Sơ đồ tấn công của Molniya trong đội hình tác chiến
Sơ đồ tấn công của Molniya trong đội hình tác chiến.

Những giải pháp làm nảy sinh yếu tố bất ngờ rất đa dạng – thường chỉ nảy sinh trong quá trình chiến đấu, với sự thông minh, năng động, dũng cảm và quyết liệt của hạm trường. Trong các trận hải chiến, các giải pháp dẫn đến yếu tố bất ngờ thường ẩn chứa trong điều kiện bảo đảm bí mật ý đồ tác chiến và hiệp đồng các lực lượng nhịp nhàng, đồng bộ và chặt chẽ, nhanh chóng cơ động chiếm vị trí thuận lợi, sự lựa chọn đúng đắn thời gian tấn công hỏa lực đồng thời sử dụng các vũ khí, khí tài tác chiến nằm ngoài sự chờ đợi của đối phương, kỹ năng tác chiến và phương pháp tiến hành trận chiến. Thực hiện đúng những yêu cầu chiến thuật đã nêu là những điều kiện tiên quyết để giải pháp tối ưu hoàn thành nhiệm vụ được giao và duy trì năng lực chiến đấu của lực lượng.
Bí mật ý đồ tác chiến và hiệp đồng các hoạt động tác chiến của các lực lượng giữ vai trò quan trọng trong trận chiến hải quân. Các yếu tố này phụ thuộc phần lớn vào tính năng kỹ chiến thuật của các phương tiện thạm gia tác chiến, cũng như hiệu quả điều hành tác chiến, với lực lượng hải quân có biên chế lực lượng nhỏ hơn so với các siêu cường quốc, đây là yếu tố hàng đầu quyết định khả năng dành thắng lợi. Kinh nghiệm cuộc chiến tranh giải phòng miền Nam giai đoạn 1975 cho thấy, hoạt động nghi binh giữ bí mật ý đồ tác chiến cũng như khả năng biến đổi nhanh các hướng công kích khiến đối phương rối loạn, không xác định được hướng tấn công chính là mục đích quan trọng. Từ đó nảy sinh yếu tố bất ngờ trong tác chiến. Đòn công kích tốc độ cao của Molniya chỉ phát huy được tác dụng trong trường hợp này.Trong lực lượng hải quân Việt Nam, khinh hạm tên lửa Molniya là phương tiện tấn công đột phá mạnh, có thể tạo yếu tố hủy diệt lớn với các chiến hạm đối phương có lượng giãn nước lớn hơn như tàu hộ vệ tên lửa, tàu khu trục và tuần dương. Nhưng một liên đội chiến hạm cao tốc Molniya trong một trận chiến quy ước với một cụm hải quân công kích chủ lực hoặc một cụm không quân hải quân công kích chủ lực sẽ không thực hiện được nhiệm vụ tiêm kích tiêu diệt chiến hạm địch. Molniya phải chiến đấu trong một thế trận hiệp đồng bình chủng mạnh, có sự yểm trợ tối đa về phòng không hải quân đồng thời có sự phối hợp đồng bộ của các phương tiến không kích đa tầm khác như không quân hải quân, phòng không hải quân, hộ vệ tên lửa, các xuồng phóng lôi và tàu ngầm. Trong một thế trận phòng ngự chặt chẽ trước các đòn tấn công tầm xa của đối phương. Uy lực của tốc độ và hỏa lực dồn dập của Molniya sẽ là sát thủ của mọi chiến hạm kẻ thù trên biển Việt Nam.
Trịnh Thái Bằng
(Nguồn tham khảo: Chiến thuật quân sự Hải quân Xô viết)

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2013

Xem tàu ngầm MSX-26 ẩn mình, áp sát tấn công.



Tàu ngầm mini SMX-26 - sự bổ sung hoàn hảo cho tàu ngầm Kilo Việt Nam, trong chiến lược bảo vệ chủ quyền biển đảo của tổ quốc.
MSX-26 rất thuận lợi cho việc vận chuyển người nhái áp sát tấn công
MSX-26 rất thuận lợi cho việc vận chuyển người nhái áp sát tấn công.
SMX-26 là loại tàu ngầm cỡ nhỏ, có chiều dài 40m, chiều rộng và chiều cao đều là 15m, lượng giãn nước 1000 tấn, do công ty DCSN thiết kế, chế tạo. SMX-26 đang thu hút sự chú ý của đông đảo các chuyên gia quân sự.
MSX-26 còn có thể đứng im dưới đáy biển để mai phục..
MSX-26 còn có thể đứng im dưới đáy biển để mai phục...
Khi trực thăng săn ngầm vừa thả sona theo dõi, MSX-26 đã phát hiện và phóng tên lửa tiêu diệt
Khi trực thăng săn ngầm vừa thả sona theo dõi, MSX-26 đã phát hiện và phóng tên lửa tiêu diệt.
Đồng thời cũng khai hoả tiêu diệt cả tàu chiến đối phương
Đồng thời cũng khai hoả tiêu diệt cả tàu chiến đối phương.
Theo anninhthudo.vn