Thứ Hai, 30 tháng 7, 2012

Bộ đội Trường Sa cứu phi công Mỹ năm 1988.


Trưa ngày 10/7/1988, Tàu HQ-11 thuộc Lữ Đoàn 171 đang làm nhiệm vụ bảo vệ đảo Đá Lớn đã cứu sống được 3 phi công Mỹ gặp nạ

Những phi công này bị rơi khỏi máy bay khi từ Singapore trở về căn cứ Subic (Philippines).

Không quản sóng to, gió lớn khó khăn gian khổ, cán bộ chiến sĩ Tàu HQ-11 đã nhanh chóng tiếp cận cứu người bị nạn đưa về tàu an toàn.

Câu chuyện về lá thư Mỹ thắm tình yêu Việt còn nguyên vẹn trong ký ức Thượng tá Hoàng Văn Thể, nguyên là Thuyền phó Quân sự Tàu HQ-11 ngày ấy.

Bữa trưa đang dở

“Trong ký ức của những người đi biển, có lẽ tôi không thể nào quên được một sự kiện đáng nhớ trong đời, đó là lần cứu sống 3 sĩ quan phi công Mỹ bị tai nạn ở đảo Đá Lớn, quần đảo Trường Sa. Với tôi đó không chỉ là kỷ niệm sâu sắc nhất của đời lính biển, mà còn là niềm vui, niềm tự hào. Vì mình đã cứu sống những người khách quốc tế đặc biệt giữa đại dương bao la”. Đó là tâm sự của Thượng tá Hoàng Văn Thể, nguyên là Thuyền trưởng Tàu HQ-11, khi tôi hỏi kỷ niệm sâu sắc nhất về đời lính biển tại nhà riêng của ông.

Ông Thể kể: 11h15 ngày 10/7/1988 như thường lệ, cán bộ, chiến sĩ Tàu HQ-11 ăn cơm vừa xong chuẩn bị nghỉ trưa, thì bất chợt phát hiện tiếng máy bay gầm rú phía đông đảo Đá Lớn. Chỉ vài phút sau, chiếc máy bay dạng vận tải quân sự vụt tới lắc lư như có ý xin hạ cánh.

“Toàn tàu báo động chiến đấu khẩn cấp” - tiếng Thuyền trưởng Đại uý Nguyễn Quang Tạo hô lớn. Một hồi kẻng báo động chiến đấu vang lên từ Phòng trực ban. Tất cả về vị trí chiến đấu.

Cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 171 Hải quân nghiêm trang trong buổi chào cờ đầu tháng, Ảnh: Mai Thắng

Lúc này chiếc máy bay loạng choạng phía bắc đảo Đá Lớn, rồi đâm nhào xuống biển cách tàu 1 hải lý.

Tất cả cán bộ, chiến sĩ trên tàu chỉ kịp nhìn thấy một luồng sóng trắng xoá, rồi từ đó hiện lên một chiếc phao cao su, trên đó có 3 người.

Thuyền phó Quân sự Đại uý Hoàng Văn Thể lệnh cho bộ đội thả hai xuồng cứu sinh và trực tiếp chỉ huy một tiểu đội nhanh chóng cơ động về phía máy bay gặp nạn cứu người.

Giữa sóng to, gió lớn, hai chiếc xuồng cứu sinh nhỏ xíu như chìm nghỉm trong lòng biển cứ chồm lên ngụp xuống. Quần áo cán bộ, chiến sĩ ướt nhèm.

Khi tiếp cận, những người bị nạn vô cùng hoảng hốt. Xung quanh họ là một màu nước biển vàng chói. Thì ra họ đã kịp dựt những chai thuốc phát tín hiệu cấp cứu lúc máy bay vừa chìm.

Một phi công đang cầm bộ đàm liên lạc với người của họ. Nêu cao tinh thần cảnh giác, Thuyền phó Quân sự Hoàng Văn Thể đã yêu cầu thu bộ đàm liên lạc và nói bằng tiếng Anh: “Chúng tôi là cán bộ, chiến sĩ Hải quân Việt Nam. Chúng tôi sẵn sàng cứu các bạn”.

Ba phi công mừng rỡ lộ rõ trên khuôn mặt. Một phi công nữ nói và ra hiệu chị đang có thai trong bụng ba tháng, xin được cứu chị.

Tàu HQ-11 huấn luyện sẵn sàng chiến đấu tại cảng. Ảnh: Mai Thắng.

Chiếc xuồng cứu sinh nhỏ bé lại chồm lên ngụp xuống trong sóng gió đưa 3 phi công lên Tàu HQ-11 an toàn.

Cán bộ, chiến sĩ đã giành riêng phòng câu lạc bộ sĩ quan cho 3 phi công. Việc đầu tiên là khám sức khoẻ cho phi công nữ đang mang thai. Biết đứa con trong bụng còn sống, chị đã khóc. Tên chị là Stein Necker nhân viên, còn hai người kia là Richard Kamaurer (chỉ huy tổ lái), và nhân viên Michael Rneel.

Ban Chỉ huy tàu và Trung uý Máy trưởng Nguyễn Huy Tuấn trực tiếp làm việc với 3 phi công gặp nạn.

Qua tiếp xúc được biết họ là thành viên của Đoàn bay CT-39-NALO192 thuộc Hải quân Mỹ (Hạm đội Thái Bình Dương). Hôm đó họ đi làm nhiệm vụ từ Singapore đến căn cứ Hải quân Subic (philippines) thì gặp thời tiết xấu, máy bay không thể hạ cánh được, bèn bay vòng ra biển thì gặp nạn.

Cảm ơn Bộ đội Hải quân

Vào thời điểm ấy, Tàu HQ-11 đi làm nhiệm vụ trên biển xa đã 73 ngày. Lương thực thực phẩm, rau xanh, nước ngọt đã cạn. Giữa biển khơi bao la nắng và gió, hơn 100 cán bộ, chiến sĩ đã phải chắt chiu chia nhau từng ca nước ngọt, nhường nhau từng cọng rau xanh, nhưng quyết không để 3 phi công thiếu thốn.

Thuyền phó Quân sự Hoàng Văn Thể đã phát động phong trào tiết kiệm: “Mỗi người nhịn tắm 7 ngày giành nước ngọt cho 3 phi công”.

Thấy các bạn không ăn được cơm, Ban Chỉ huy tàu quyết định mở kho lương thực dự trữ lấy mì tôm và sữa hộp đặc cho họ.

Vận động cán bộ, chiến sĩ nhường thuốc lá cho bạn, còn tất cả anh em hút thuốc rê, thuốc lào. Mọi nơi ăn, nghỉ của bạn được cán bộ, chiến sĩ Tàu HQ-11 chăm sóc chu đáo. Họ đã không còn rụt rè nữa. Có người đã khe khẽ hát, đi lại trên lan can hút thuốc nhả khói khắp tàu.

Sau khi liên lạc với Mỹ theo đường ngoại giao, sáng 13/7/1988, 3 phi công gặp nạn được Tàu của HQ-187 Hải quân đón về đất liền. Cuộc chia tay có một không hai diễn ra ngay trên boong tàu. Giữa bộn bề sóng nước, một bên là những vị khách quốc tế gặp nạn, một bên là ân nhân chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam.

Ai cũng xúc động chẳng nói nên lời. Những tấm ảnh chụp vội vã làm kỷ niệm như thay lời ghi nhớ công ơn của các chiến sĩ Hải quân Việt Nam đã cứu họ.

Xúc động chen lẫn niềm vui, anh phi công Richard Kamaurer (chỉ huy tổ lái) nói: “Xin cảm ơn Bộ đội Việt Nam. Cảm ơn các bạn. Nếu không có các bạn chúng tôi đã bị đắm chìm dưới đại dương bao la này”.

Còn chị Stein Necker đã bật khóc. Cô xin mảnh giấy, mượn bút viết vội lá thư như thay lời cảm ơn gửi lại tàu, bức thư có đoạn: “Cảm ơn các bạn đã cứu chúng tôi từ lòng biển cả. Lòng mến khách của các bạn thật tuyệt vời. Cảm ơn các bạn rất nhiều và chắc chắn chúng ta sẽ gặp lại nhau”.

Lá thư của chị Stein Necker hiện đang lưu giữ tại Nhà Truyền thống của Lữ đoàn 171. Ảnh: Mai Thắng chụp lại từ ảnh tư liệu.

Bức thư của người nữ phi công Mỹ viết vội ngày nào đã thành kỷ vật thiêng liêng đặt khiêm tốn trong Phòng truyền thống của Lữ đoàn 171 Hải quân.

Mỗi lần nhớ đến, như nhắc lại một kỷ niệm đẹp về lòng nhân ái của những người lính bộ đội Cụ Hồ.

Được biết, đứa con trai của người nữ phi công Stein Necker được sinh ra trên đất Mỹ và được chị đặt tên con là HQ-11- tên con tàu với những người lính Hải quân Việt Nam dũng cảm đầy lòng nhân ái đã cứu mẹ con chị thoát nạn giữa đại dương bao la.

Theo Tuyên giáo Sóc Trăng

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012

Ảnh cũ đăng lại 2.

Từ trái qua:Tâm"bễ" quê Hải Dương, Long quê Hải Dương, Đạt, Nhân"giun", Hải"tù" quê Hải Dương tại cảng cửa Hội,Vùng 2 duyên hải.
Từ trái qua:Nhất quê Đồ Sơn-HP, Nam ba toác , Phong Ba đờ sốc quê HP, Đạt bột tại Đà Nẵng 1975.
Từ trái qua:Nam, Tân, anh (?), Sang "Cù kỳ", Đạt.

Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2012

Nước ngọt Trường Sa: Sơn Ca 'ba nhất'.


Đảo Sơn Ca được mệnh danh là “đảo ba nhất”: nề nếp chính qui nhất, nước da chiến sĩ trắng nhất, tiết kiệm nước ngọt tốt nhất.

Chuyển nước ngọt từ tàu lên bể tích trữ nước đảo Sơn Ca.

(Đất Việt) Sơn Ca - hòn đảo đẹp nhất trong 21 đảo và điểm đảo thuộc quần đảo Trường Sa tỉnh Khánh Hòa. Không chỉ cảnh quan môi trường xanh sạch đẹp, Sơn Ca còn được mệnh danh là “đảo ba nhất”: nề nếp chính qui nhất, nước da chiến sĩ trắng nhất, tiết kiệm nước ngọt tốt nhất.

Sự khác biệt của đảo Sơn Ca là do thổ nhưỡng ở đây mầu mỡ so với các đảo khác, mặt đảo phủ lớp mùn dầy từ phân chim phân hủy từ lâu. Vì “địa lợi” nên chiến sĩ ở đây ai cũng có nước da trắng mịn màng (dĩ nhiên là chỉ dám so với chiến sĩ các đảo khác).

Câu chuyện về chiến sĩ đảo Sơn Ca có nước da trắng nhất được kể lại rằng, “khung trời” nơi này luôn ôn hòa, nước mưa ở vùng đảo này ít a xít và ngọt hơn. Nước mưa được đựng trong bể chứa chôn sâu trong lòng đảo nên ngọt hơn, mát hơn, thấm sâu vào da chiến sĩ hơn nên da trắng hơn.

Từ năm 2004 trở về trước, Sơn Ca cũng thuộc diện đảo hiếm nước ngọt như đảo chìm, cán bộ chiến sĩ dè dặt từng ca và tắm “theo kế hoạch”. Từ năm 2005, Sơn Ca xây thêm nhiều bể chứa để hứng nước mưa, ngoài nước từ đất liền chở ra. Trước đây tuần tắm 2 lần, thì nay ngày một lần tắm.

Hạ sĩ Lê Văn Thắng, ở phân đội bộ binh, cho biết: “Tuy nước ngọt ở đây “xông xênh” hơn trước, song bọn em cũng tiết kiệm tối đa. Bây giờ đang cuối mùa khô, lượng nước dự trữ vơi dần nên càng phải tiết kiệm. Anh em chờ mưa cả tháng rồi. Nhiều bữa cơn giông kéo đến nhưng chỉ lác đác vài hạt. Đảo Sơn Ca đã có điện từ năng lượng mặt trời rồi, bây giờ chỉ có máy lọc nước biển thành nước ngọt nữa thì chẳng khác gì sống ở thành phố”.

Trung tá Lê Việt Hòa, Chính trị viên đảo Sơn Ca, chia sẻ: “Ở Trường Sa, nước ngọt luôn là hàng dự trữ chiến đấu. Riêng đảo Sơn Ca, nước ngọt không hiếm như ngày trước, song anh em vẫn có ý thức tiết kiệm, tránh lãng phí. Chúng tôi luôn bảo đảm nước ngọt cho bộ đội sinh hoạt, huấn luyện, bất kể mùa khô hay mùa mưa. Chính ở nơi khó khăn gian khổ này, tình đồng đội thêm gắn bó, chí khí thêm kiên cường, tinh thần thêm vững chãi”.

Trần Mạnh Tuấn

Thứ Hai, 16 tháng 7, 2012

Việt Nam nhận 2 chiến hạm thuộc Project 10412


Tờ Flotprom của Nga đưa tin, lễ ký văn bản bàn giao 2 tàu tuần tra lp Project 10412 cho Hải quân Việt Nam diễn ra tại nhà máy đóng tàu Almaz, hôm 20/10/2011.

(ĐVO) Hai tàu tuần tra lớp Project 10412 được bàn giao cho Hải quân Việt Nam mang số hiệu nối tiếp nhau là 044 và 045 và là chiếc thứ ba và thứ tư thuộc Project 10410 Firefly (NATO gọi là Svetlyak) được phía Nga đóng cho Hải quân Vệt Nam.

Trước đó, 2 tàu đầu tiên thuộc lớp này đã bàn giao cho Hải quân Việt Nam vào năm 2002.

Cả hai tàu mới đều được khởi công đóng vào cùng một ngày (26/6/2009). Trong đó, tàu 044 được hạ thủy vào tháng 4/2011, và tàu 045 được hạ thủy sớm hơn vào ngày 12/11/2010.

Việc bàn giao bị chậm so với dự kiến vài tháng vì các đối tác của nhà máy đóng tàu không cung cấp linh kiện và phụ tùng đúng tiến độ, đặc biệt là việc lắp đặt ụ pháo AK-176M, được cung cấp bởi nhà máy Arsenal.

Tàu tuần tra lớp Project 10412 mang số hiệu 045 neo đậu ở cảng của nhà máy đóng tàu Almaz.

Sau khi hoàn thành chương trình thử nghiệm vào giữa tháng 10/2011, cả 2 tàu này sẽ được đưa vào ụ tàu nổi của nhà máy PD-423 để vận chuyển bằng đường biển về cảng St. Petersburg, sau đó được đưa lên tàu vận tải chuyển về Việt Nam.

Ngoài ra, 2 tàu chiến cùng loại, mang số hiệu là 420 và 421, đang được gấp rút hoàn thành tại công ty Vostochnaya Verf ở Vladivostoc. Dự kiến, 2 tàu này được bàn giao cho Hải quân Việt Nam vào năm 2012, cũng do phía đối nhà máy chậm trễ.

Tàu tuần tra lớp Project 10412 mang số hiệu 044.

Chiến hạm Project 10412 là một biến thể của tàu tuần tra lớp Project 10410 Firefly, do viện thiết kế TsMKB Almaz thiết kế cho các đơn vị hải quân biên phòng của Ủy ban An ninh Nhà nước Liên Xô KGB vào cuối thập niên 1980.

Từ khi bắt đầu đóng các tàu Firefly, Almaz đã bàn giao cho khách hàng là Bộ Quốc phòng Nga và nước ngoài tổng cộng 16 tàu, (tính cả 2 tàu có số hiệu 044 và 045 và 1 chiếc nữa đang được đóng). Tổng cộng đã có 36 tàu lớp Firefly đã được đóng ở tất cả các nhà máy đóng tàu của Nga.

So với biến thể cơ sở, các tàu Firefly đóng cho Hải quân Việt Nam không có vũ khí chống ngầm nên có thể xếp vào loại tàu pháo.

Mỗi tàu Firefly có trọng tải là 364 tấn, chiều dài 49,5 m, chiều rộng là 9,2 m, mướn nước 2,4 m. Tốc độ tối đa của tàu lên tới 31 hải lý/h (khoảng 50 km/h), hành trình dự trữ 2.200 hải lý và có khả năng hoạt động độc lập liên tục trong 10 ngày đêm.

Vũ khí trên tàu bao gồm: 1 ụ pháo tự động 6 nòng 30 mm AK-306, 1 ụ pháo 76,2 mm AK-176M, hệ thống tên lửa phòng không Igla-1M và hai súng máy 14,5 mm.

(Nguồn Đất Việt)

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2012

Ảnh cũ đăng lại.

Từ trái qua:Điển , Hồng quê Hải dương, anh Dinh , Nam , anh Đức quê Quảng Ninh, Hóa"bẹp" dân Bình Định sống ở Hải Phòng, Sang "cù kỳ" quê Thanh Hóa, Long "tóc bạc" quê Hải Phòng tại căn cứ đoàn 172.
Tân"buji" tàu V.422 tại xưởng 46.
Thanh"gù",Chí Hòa,Nhân "giun" đoàn 125.
Chí Hòa đoàn 125.
Từ trái qua:Đạt bột,Khánh chuột,Lợi quoắt tại cảng Cửa Hội (Nghệ An) năm 1976.

Thứ Năm, 5 tháng 7, 2012

Chuyên gia Nga nói về sức mạnh hải quân nhân dân Việt Nam


(GDVN) - Việt Nam đã đạt đươc nhiều thành tựu trong việc hiện đại hóa hải quân đủ sức để chống lại các mối đe dọa nhằm bảo vệ chủ quền lãnh hải.

Trang Topwar.ru hôm 21 tháng 5 đã đăng tải bài viết của chuyên gia quân sự Nga Sergei Yuferev bình luận về sức mạnh và quá trình hiện đại hóa của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Bài viết rất dài, dưới đây là một số nội dung tóm lược:

Trước đây, Việt Nam không phải là một nước có lực lượng hải quân mạnh. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền an ninh quốc gia. Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã hoàn toàn thống trị các vùng biển miền Bắc Việt Nam và thực hiện đưa quân vào các vùng biển này một cách dễ dàng. Hiện nay, Hải quân Việt Nam có khoảng 33,8 nghìn người, trong đó có 1,7 nghìn cảnh sát biển.

Lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam được tổ chức thành các vùng hải quân, với các hải đội tàu mặt nước bao gồm các tàu khu trục, tàu tuần tra và tàu hỗ trợ, 2 binh đoàn hải quân đánh bộ, hai lữ đoàn cảnh sát biển.

Trong trang bị của Hải quân Việt Nam vẫn còn các tàu khu trục nhỏ do Liên Xô xây dựng. Các đội tàu của Việt Nam chỉ mới được tổ chức ở qui mô nhỏ với các trang thiết bị đã quá lạc hậu. Tuy nhiên, gần đây, Việt Nam đã bắt đầu thực hiện các biện pháp tích cực để nâng cấp các tàu chiến cũ và trang bị cho Hải quân các tàu chiến hiện đại.

Mô hình chiến hạm hiện đại do Nga sản xuất (ảnh minh hoạ)


Các điều kiện tiên quyết để xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh

Hiện nay, khu vực Đông Nam Á là một trong những phát triển nhanh nhất và có vị trí địa chính trị quan trọng bậc nhất trên thế giới.

Đây là khu vực có nguồn nhân lực đồi dào với dân số trên 600 triệu người, là nơi có các tuyến đường biển quan trọng đi qua và đặc biệt là có vị trí chiến lược cho các hoạt động quân sự. Ngoài ra, đây cũng là khu vực rất dễ bùng nổ xung đột.

Xung đột ở đây có thể là xung đột nội bộ (bất ổn khu vực, xung đột giáo phái và sắc tộc dai dẳng), xung đột bên ngoài (vi phạm chủ quyền, tội phạm buôn bán ma túy, khủng bố quốc tế), các mối đe dọa toàn cầu, và xung đột giữa các lực lượng đối lập ở một số quốc gia (cả trong và ngoài khu vực).

Yếu tố quyết định đến chính sách trong khu vực đó là tăng cường vai trò của các vùng biển quốc tế. Biển Đông và eo biển Malacca là những nhân tố đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng kinh tế trong khu vực.

Đây cũng là những nơi tập trung các mối đe dọa quốc tế và an ninh quốc gia. Đông Nam Á nằm trên tuyến đường biển nối liền các khu vực có tiềm lực kinh tế, chính trị và quân sự như Đông Bắc Á, Ấn Độ, Trung Đông, Australia và nhiều nước thuộc khu vực Thái Bình Dương.

Đông Nam Á không chỉ trở nên có giá trị chiến lược quan trọng với Mỹ, Trung Quốc mà còn là khu vực cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn khác như Ấn Độ, Nhật Bản,…. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi mà các nước trong khu vực đều có xu hướng "mở rộng về phía biển" và đang ngày càng tập trung vào chính sách hàng hải.

Báo Nga viết, trong những năm gần đây, Việt Nam đã trở thành một trong những nước trong khu vực đẩy mạnh chính sách hàng hải. Để đảm bảo an ninh quốc gia và sự thịnh vượng của nền kinh tế đất nước với dân số trên 90 triệu người, Việt Nam đã chú trọng phát triển khả năng hàng hải đặc biệt là Hải quân. Hiện tại, việc phát triển của Hải quân Việt Nam đang trở thành một yếu tố quan trọng trong "trò chơi lớn" của 3 cường quốc Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ.

Xây dựng tiềm lực Hải quân là để bảo vệ chủ quyền đất nước

Việt Nam hiểu rằng đất nước không thể tham gia vào một cuộc chạy đua vũ khí hải quân với bất cứ quốc gia nào, đặc biệt là các nước lớn tại châu Á. Tuy nhiên, với kinh nghiệm của các cuộc chiến trước đó và để bảo vệ chủ quyền lãnh hải đất nước, Việt Nam phải xây dựng lực lượng hải quân đủ mạnh. Đó là lý do tại sao Hà Nội đã đi theo con đường xây dựng lực lượng hải quân hiện đại và hiệu quả. Đối tác chính trong việc hiện thực hóa các bước đi này là Nga và Ấn Độ - báo Nga nhận xét.

Tàu ngầm Kilo

Đến nay, Việt Nam luôn kiên định con đường xây dựng một lực lượng hải quân hùng hậu để bảo vệ các khu đặc quyền kinh tế cung như các khu vực ven biển của đất nước. Việt Nam có kế hoạch tăng cường tiềm lực hải quân để bảo vệ chủ quyền lãnh hải, chứ không phải tìm cách để tạo ra một cuộc xung đột với Trung Quốc, nước được cho là kẻ luôn muốn “thống trị” toàn diện trên biển Đông.

Ngoài việc xây dựng hải quân để bảo vệ chủ quyền đất nước trước các mối đe dọa, Việt Nam cũng không ngừng đẩy mạnh phát triển hải quan đủ sức để chống lại các mối đe dọa bất thường trên biển, trong đó bao gồm tội phạm buôn bán ma túy và buôn lậu. Và cũng để đề phòng trước các cuộc xung đột có thể với các nước trong khu vực, mặc dù khả năng này rất khó xảy ra.

Để đáp ứng các yêu nhiệm vụ đặt ra, Hải quân Việt Nam, từ một nước có các hải đội tàu nhỏ bé và lạc hậu, đến nay đã xây dựng các hải đội, hải đoàn với các tàu khu trục, tàu hộ tống, tàu ngầm và tàu tên lửa hiện đại đủ sức răn đe và sẽ tiếp tục hiện đại hóa hơn nữa.

Hộ vệ hạm tên lửa Gepard

Dự án lớn nhất phải kể đến hợp đồng mua sáu chiếc tàu ngầm project 636 Varshavyanka, NATO gọi là Kilo, ký kết trong năm 2009 với chi phí 1,8 tỉ đôla. Chiếc tàu đầu tiên được xay dựng tại nhà máy đóng tàu Admiralty ở St Petersburg tháng 8 năm 2010.

Ngoài ra, Nga cũng đang là đối tác chính trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng liên quan cho Việt Nam chẳng hạn như cơ sở cho tàu ngầm. Giá trị của dự án này ước tính khoảng 1,5 đến 2,1 tỷ đôla. Các tàu ngầm đầu tiên được chuyển giao cho Việt Nam vào năm 2013 và chiếc cuối cùng vào năm 2018.

Tàu ngầm phi hạt nhân hiện đại Varshavyanka đóng cho Hải quân Việt Nam sẽ được trang bị hệ thống chống tên lửa Club-S. Thân tàu được thiết kế với 6 khoang kín có vách ngăn chứa nước nằm ngang trong 2 lớp vỏ tàu.

Tàu ngầm lớp Kilo có lượng choán nước 3,95 nghìn tấn, vận tốc tối đa 20 hải lý/giờ và có khả năng bơi tự động liên tục 45 ngày đêm. Tàu có mức độ ồn rất thấp so với độ ồn tự nhiên của đại dương. Trên thân tàu ngầm được phủ một lớp cao su đặc biệt có khả năng giảm phản xạ sóng âm sonar và khả năng bị phát hiện bởi đối phương.

Các tàu ngầm này là một trong những lựa chọn công nghệ hải quân tốt nhất theo quan điểm “chi phí rẻ, hiệu quả cao”. Nếu cần thiết, hải quân Việt Nam sẽ có thể duy trì sự hiện diện thường xuyên của các tàu ngầm này trên biển rằng trong trường hợp xảy ra xung đột trong một thời gian nhất định.

Yếu tố quan trọng thứ hai trong xây dựng hải quân đó là việc hiện đại hóa tàu khu trục hạng nặng/nhẹ. Năm 2011, Nga đã bàn giao cho Việt Nam hai tàu tuần tra Gepard 3,9 project 11661E, được sản xuất tại nhà máy Gorky ở Zelenodolsk.

Hợp đồng trị giá 350 triệu đôla đã được ký kết vào năm 2006. Sau khi nhận được 2 hộ vệ hạm Gepard, Việt Nam lại tiếp tục ký với Nga hợp đồng cung cấp thêm 2 chiếc nữa thuộc lớp tàu khu trục này. Khác với các tàu Gpard trước đó, theo yêu cầu của phía Việt Nam, các tàu sau này phải được trang bị các loại vũ khí chống tàu ngầm mạnh mẽ.

Tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển Bastion.

Tàu khu trục nhỏ Gepard 3.9 được phát triển trên nền tảng dự án tàu 11.660 của Nga. Dự án này được thành lập là nhằm để phát triển loại tàu tuần tra mới tìm kiếm cũng như theo dõi và kiểm soát bề mặt, dưới nước và các mục tiêu trên không. Gepard-3.9 có thể săn tìm, theo dõi, tác chiến hiệu quả chống các mục tiêu tàu nổi, tàu ngầm, máy bay; tuần tiễu, hộ tống, rải lôi, chi viện hỏa lực cho lực lượng đổ bộ. Tàu có thể hoạt động tác chiến độc lập hoặc trong đội hình biên đội tàu chiến thuật.

Khu trục hạm Gepard đóng cho Hải quân tại Việt Nam được xây dựng bằng cách sử dụng công nghệ tàng hình hiện đại.

Tàu được trang bị hệ thống tên lửa chống hạm Uran gồm 4 bệ phóng, mỗi bệ có 16 quả tên lửa chống tàu nổi Kh - 35E, một súng 76,2 mm AK-176M đặt ở mũi tùi dùng để chống mục tiêu trên mặt nước, mặt đất và máy bay tầm thấp có tốc độ bắn 60-120 phát mỗi phút, tiêu diệt mục tiêu ở cự ly trên 15 km và bay cao 11,5 km, 3 tên lửa pháo phòng không cao tốc Palma-SU có thể đánh chặn đồng thời 6 mục tiêu ở cự ly 200 m đến 8 km và bay cao 3,5 km. Ngoài ra, tàu còn được trang bị các ống phóng ngư lôi 533 mm.

Hộ vệ hạm tên lửa Gepard có lượng giãn nước 2.100 tấn, tốc độ tối đa 28 hải lý (52 km/h), bơi ở chế độ tự động liên tục trong 20 ngày đêm. Tàu có thể mang theo trực thăng chóng ngầm Ka-28 hoặc Ka-31.

Khu trục hạm SIGMA.

Mùa thu năm 2011 Việt Nam đã bắt đầu các cuộc đàm phán với Hà Lan về việc cung cấp 4 tàu hộ tống /tàu khu trục SIGMA. Các nước như Indonesia và Moroc đã mua nhiều tàu hộ tống lớp Sigma từ Hà Lan, quốc gia hàng đầu thế giới về công nghệ đóng tàu.

Các khu trục hạm SIGMA có lượng giãn nước từ 1.700 đến 2.400 tấn tùy thuộc vào từng biến thể. Về trang bị vũ khí và đặc điểm kỹ thuật cũng tương tự như Gepard của Nga.

Nói về sức mạnh của Hải quân Việt Nam trong thời kỳ hiện nay không thể không nhắc tới hệ thống tên lửa di động ven biển Bastion-P mà Việt Nam mua lại từ Nga.

Mỗi tổ hợp tên lửa này được trang bị 36 siêu tên lửa chống tàu siêu âm Yakhont , có khả năng đánh trúng mục tiêu ở khoảng cách lên đến 300 km và luôn đặt các tàu của đối phương vào tình trạng báo động. Giai đoạn 2009-2011, Việt Nam đã nhận được hai hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển K-300P Bastion-P.

Một dự án lớn khác là hợp đồng cung cấp và cấp giấy phép sản xuất các tàu tên lửa Molniya project 1241RE với tổng chi phí khoảng 1 tỷ đôla. Trong những năm 1990, Việt Nam đã được bàn giao 4 tàu Molniya, trang bị tổ hợp tên lửa Termit.

Năm 1993, Việt Nam đã được cấp giấy phép sản xuất các tàu tên lửa này với tổ hợp tên lửa chống hạm Uran. Chiếc Molnya đầu tiên trang bị hệ thống tên lửa Uran đã được chuyển giao cho Việt Nam trong năm 2007, và chiếc thứ hai vào năm 2008.

Chiến hạm Lý Thái Tổ của Hải quân Việt Nam (ảnh SGTT)


Theo hợp đồng đã ký, trong số 12 chiếc Molnya được Việt Nam đặt hàng thì hai chiếc tàu đầu tiên được đóng ở Nga còn10 chiếc còn lại sẽ được cấp phép xây dựng tại Việt Nam.

Hiện nay, tàu đầu tiên đã được khởi đóng tại Việt Nam theo tài liệu thiết kế và công nghệ do Viện thiết kế hải quân trung ương Almaz chuyển giao.

Nhà máy đóng tàu Vympel sẽ hỗ trợ Việt Nam đóng Molnya Project 1241.8 theo giấy phép của Nga. Vympel sẽ chế tạo các bộ phận và linh kiện để lắp ráp 6 tàu tên lửa Molnya Projekt 1241.8 đầu tiên và bắt đầu cung cấp linh kiện từ thành phố Rybinsk sang Việt Nam để lắp ráp 6 tàu trong năm nay theo hợp đồng trị giá 30 triệu đôla và sẽ tiếp tục đến năm 2015.

Ngày nay, Hải quân Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi và phát triển các hải đội tàu từ nhỏ yếu lạc hậu lên các hải đội tàu mạnh mẽ và cực kỳ hiện đại. Đến cuối thập kỷ này, Việt Nam sẽ có một hạm đội hùng hậu đủ sức bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, đặc biệt là đối với chủ quyền tuyên bố trên Biển Đông.

Trịnh Tuân (Theo Topwar)

Thứ Hai, 2 tháng 7, 2012

Đọc báo giùm bạn :Chân dung các thuyền trưởng đoàn tàu không số (tiếp theo và hết). .



Kỳ 8: Nguyễn Chánh Tâm, người anh hùng sống mãi

QĐND - Trong chuyến chở vũ khí chi viện cho quân và dân ta tham gia Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu thân 1968, bốn con tàu mang số hiệu 43, 56, 235, 165 của Lữ đoàn 125 đêm 29-2, rạng ngày 1-3 đều gặp địch. Chỉ còn tàu 56 trở về. Cũng như tàu 43 và 235, tàu 165 của Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm đã chiến đấu anh dũng và đi vào huyền thoại. 18 cán bộ, thủ thủy đã ra đi, không để lại một dấu vết...

Quyết tử giữa biển khơi

Đêm 25-2, từ căn cứ A2, tàu 165 được lệnh xuất phát, chở hàng vào bến Vàm Lũng (Cà Mau). Cán bộ, thủy thủ gồm: Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm; Chính trị viên Nguyễn Ngọc Lương; Thuyền phó Hoàng Văn Thuyết và Nguyễn Văn Thông; Chính trị viên phó Nguyễn Văn Danh; Thợ máy Nguyễn Văn Thị, Trần Văn Dựng, Nguyễn Duy Tạo; Báo vụ: Lý Khánh Hồng và Vương Văn Diêng; Thủy thủ trưởng: Nguyễn Kính; Hàng hải: Nguyễn Văn Em và Mai Đức Long; Y tá Nguyễn Đình Văn; Thủy thủ: Trần Văn Quồi, Phạm Văn Phương, Trần Văn Bé; Cơ yếu: Vũ Hữu Nghị.

Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm.

Theo tuyến đường của những chuyến đi trước, tàu 165 đi qua Hoàng Sa, Trường Sa, hòa vào dòng tàu buôn nước ngoài ngược xuôi trên biển quốc tế, hướng về phía Nam. Thông tin giữa tàu và Sở chỉ huy và bến vẫn giữ liên lạc tốt. Ngay tại hải phận quốc tế tàu đã bị địch theo dõi. Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm bình tĩnh, mưu trí cùng anh em vượt qua vòng phong tỏa của địch. Đêm 29-2, tàu đến vùng biển Cà Mau, chuẩn bị chuyển hướng. Mọi phương án đón tàu ở bến được chuẩn bị chu đáo, kể cả trong “trường hợp xấu nhất”, bến sẵn sàng “chia lửa” với tàu.

Nhưng dự định đó đã không thành hiện thực. Trời biển Cà Mau đêm đó đã chứng kiến trận đấu quyết tử của những người lính “Tàu không số” với gần chục tàu chiến và máy bay địch. Con tàu 165 nhỏ nhoi đã hóa thân vào biển không để lại một dấu vết gì ngoài hai bức điện cuối cùng gửi về sở chỉ huy trong đêm 29-2 rạng ngày 1-3-1968. Bức điện thứ nhất đề lúc 18 giờ ngày 29-2: "Chuyển vào. Gặp máy bay trinh sát đi qua tàu-Lương (tức Chính trị viên Nguyễn Ngọc Lương). Bức điện thứ hai, ngày 1-3: "Chúng tôi gặp 8 tàu địch bao vây, quyết cảm tử!". Đó là hai lời nhắn nhủ cuối cùng trước lúc tàu 165, Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm và 17 thủy thủ đi vào huyền thoại.

Các anh đã chiến đấu, đã hy sinh như thế nào, đến nay cũng chưa ai biết rõ. Nhớ lần chúng tôi tới thăm cựu chiến binh Khưu Ngọc Bảy tại Thành phố Cần Thơ, ông Bảy đã bùi ngùi kể cho tôi nghe về sự kiện bi hùng này: Đêm đó, tất cả chúng tôi đã sẵn sàng, chuẩn bị đón tàu. Bỗng thấy máy bay địch lượn nhiều. Hình như chúng báo động. Trên bờ, ngóng ra biển ai cũng nơm nớp lo âu... Rồi chừng hơn một giờ sáng, phía ngoài khơi nhiều ánh lửa và đường đạn vạch lên trời... Chừng 20 phút sau, loáng lên những tia chớp và một ngọn lửa hình nấm vọt lên kèm theo tiếng nổ lớn trùm xuống biển...

Chúng tôi vẫn tin anh em còn sống và tìm đón nhiều ngày dọc ven biển. Nhưng chỉ còn hai báng súng K44, vài mảnh chiếc đài màu nâu đỏ, một đoạn cột ăng ten tàu và một mảnh áo phao... Tất cả chỉ còn vậy. Tàu 165, Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm và 17 thủy thủ đoàn đã vĩnh viễn ra đi. Các anh mãi mãi nằm lại vùng biển Tây Nam của Tổ quốc-vùng biển Cà Mau... không bao giờ trở lại.

Anh còn sống mãi

Với thành tích 8 chuyến đi chở hơn 600 tấn vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam trong điều kiện hết sức khó khăn, gian khổ, năm 2005, Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Hơn 40 năm đã trôi qua, những ký ức về anh-người thuyền trưởng anh hùng, dũng cảm, người bạn thủy chung vẫn khắc ghi mãi trong lòng bạn bè và những người thân của anh.

Bà Đỗ Thị An, tuổi ngoài 90, hiện ở Ngõ Cấm, thành phố Hải Phòng khi nhắc đến tên người con rể với con cháu hiện nay vẫn rưng rưng xúc động: "Bố các cháu là người nhân hậu, sống có nghĩa, có tình, cứ mỗi lần công tác về là có quà cho mọi người, tranh thủ giúp gia đình, vợ con mọi việc lớn nhỏ... Nhớ mãi chuyến đi lần cuối của bố các cháu. Tối đó mấy bố con cứ quấn quýt mãi bên nhau. Sáng ra, Tâm dậy sớm, chắp tay: "Chào mẹ, con đi công tác, chưa biết bao giờ mới về...". Ba bà cháu tiễn bố ra ngõ, bịn rịn. "Mẹ về đi!". Tâm động viên tôi. Hai cháu Tuấn, Tú cứ ôm chặt lấy bố, mãi không rời... Ba Tâm xoa đầu hai con, nựng: "Các con ở nhà ngoan ngoãn, nghe lời bà và mẹ, vài bữa nữa ba về... Tôi cũng không thể ngờ rằng đó là lần chia tay cuối cùng!”.

Với Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đắc Thắng, hiện ở Thành phố Cần Thơ thì Chánh Tâm là “người bạn thân thiết, thủy chung, ngay từ ngày đầu vào bộ đội”.

Các cựu chiến binh Đoàn tàu Không số tưởng niệm đồng đội đã hy sinh tại Vàm Lũng, Cà Mau.

Đôi bạn Đắc Thắng-Chánh Tâm đều sinh năm 1935 tại Cần Thơ. 19 tuổi hai ông cùng nhập ngũ vào bộ đội và tập kết ra Bắc, sau đó được đi học lớp thuyền trưởng Hải quân. Tốt nghiệp, Đắc Thắng được điều về Đoàn 759 (tiền thân Đoàn 125 ngày nay), còn Chánh Tâm về Đoàn tàu tuần tiễu ở căn cứ 2. Sau chiến thắng trận đầu 5-8-1964, Nguyễn Chánh Tâm được điều về Đoàn tàu Không số làm thuyền trưởng tàu 165. Đôi bạn ngày xưa lại được chung một nhiệm vụ vẻ vang và tình bạn của họ ngày càng thắm thiết. “Tâm là một người bạn nhiệt tình, sống hết mình với bạn bè. Anh ấy còn là “nhịp cầu” tình yêu của tôi và Sáu Thùy, người vợ yêu quý của tôi sau này”. Ông Thắng bồi hồi nhớ lại.

Về câu chuyện tình của Thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng và nữ y tá Huỳnh Biên Thùy đến nay không kể hết bao nhiêu bài báo đã viết về họ. Đó là mối tình xuyên Biển Đông. Mối tình rất "nổi tiếng" của Đoàn tàu Không số. Chuyện là, trong một chuyến chở hàng vào Cà Mau, Thuyền trưởng Đắc Thắng đã “phải lòng” cô “nuôi quân” kiêm y tá Huỳnh Biên Thùy có giọng ca cải lương ngọt ngào. Tình yêu của họ chỉ chờ ngày sum họp sau khi anh ra Bắc báo cáo tổ chức, sau đó sẽ trở lại bến làm đám cưới. Thế rồi nhiệm vụ vận chuyển bí mật, những chuyến đi mở bến mới ở miền Trung... Thuyền trưởng Đắc Thắng không còn cơ hội trở lại bến xưa để “kết tóc se duyên” với người nữ y tá. Lúc này, Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm với những chuyến đi vào Cà Mau đã trở thành sợi dây liên lạc tình cảm giữa hai người. Sáu Thùy vẫn thường xuyên nhận được “quà của người yêu” gửi vào. Khi thì cuốn sách “Ruồi Trâu”, “Thép đã tôi thế đấy”, khi là chiếc nón bài thơ xinh xắn. Sáu Thùy cũng nhờ Chánh Tâm chuyển tới người yêu những món quà đầy ý nghĩa như món tóc thề hay những chiếc khăn thêu... Tình yêu của họ vì thế vẫn được kết nối, tình cảm ngày càng thêm gắn bó. Mãi sau này, khi thành vợ chồng, cô Thùy mới biết những món quà cô vẫn đều đặn nhận được trong những ngày xa cách đó đều là của Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm mua tặng. “Anh ấy tốt lắm, mỗi chuyến trở về Bắc tàu anh ấy còn tặng lại chúng tôi rất nhiều lương khô để “dùng khi giặc càn” - cô Sáu Thùy kể lại. “Ngày nghe tin tàu nổ trên biển, ngỡ là anh Thắng, tôi đã khóc ròng ròng, rồi lập bàn thờ để tang anh. Sau này mới biết đó là anh Chánh Tâm. Tôi đã khóc rất nhiều thương tiếc anh...”.

Hơn 40 năm đã trôi qua, đất nước đã thanh bình và biển xanh đã xóa đi tất cả. "Sóng xóa đi dấu vết, biển vẫn con đường mòn...". Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm và đồng đội tàu 165 đã ra đi... không để lại một dấu vết. Nhưng dấu ấn về một con đường vận tải trên biển, con đường của những huyền thoại và những chiến công thầm lặng của những người lính biển anh hùng vẫn sống mãi với dân tộc Việt Nam.

-----------

Kỳ 1: Thuyền trưởng tàu không số đầu tiên

Kỳ 2: Thuyền trưởng tàu sắt đầu tiên

Kỳ 3: Từ du kích trở thành thuyền trưởng

Kỳ 4: Nguyễn Phan Vinh, bản hùng ca bất tử

Kỳ 5: Đồng Xuân Chế: “Biển gọi tôi suốt cuộc đời”

Kỳ 6 : Nắm đất của Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh

Kỳ 7: Thuyền trưởng Lưu Đình Lừng và niềm tự hào về Tàu 42

Bài và ảnh: Trịnh Dũng - Thu Hương