Thứ Tư, 30 tháng 9, 2015

Hải chiến với Nhật Bản, phần thất bại sẽ thuộc về Trung Quốc?


Hải chiến với Nhật Bản, phần thất bại sẽ thuộc về Trung Quốc?
Trung Quốc đang sôi động chuẩn bị lễ diễu binh ngày 3/9 với mục đích Giả thiết một cuộc xung đột Trung Nhật thì tương quan lực lượng thế nào và bên nào có khả năng dành chiến thắng lớn hơn? Phân tích của chuyên gia Nga.
Tình hình xung đột chính trị xung quanh các hòn đảo mà Trung Quốc và Nhật Bản đang tranh chấp ngày một nóng lên. Cho đến nay cả hai bên đều cố gắng kiềm chế để đưa ra những tuyên bố mang tính quân sự cứng rắn. Những những xung đột tiềm ẩn trong đó hàm chứa một nguy cơ chuyển thành xung đột vũ trang và – khó có thể đoán trước! một cuộc chiến tranh có giới hạn?! Các chuyên gia chiến lực quân sự nước ngoài cũng đưa ra những nhận xét trái chiều, mâu thuận và thậm chí đối kháng nhau. Chúng ta thử so sánh lực lượng và dự báo một tình huống, nếu xảy ra cuộc xung đột giữa hai cường quốc kinh tế này, kịch bản của trận chiến trên Thái bình dương sẽ diễn ra thế nào?
 Vị trí quần đảo Senkaku
Tương quan lực lượng:
Lực lượng Tự vệ Biển Nhật Bản có khoảng 134 hạm tàu các chủng loại, 339 máy bay các loại trong đó  có  44 chiến hạm hiện đại.  Trong đó có 2 tàu khu trục đổ bộ hạng nặng lớp Hyūga, 2 tàu đổ bộ hạng trung lớp Shirane. Nhóm tàu khu trục hiện đại có trang bị tên lửa có điều khiển (DDG) gồm 2 tàu lớp Atago, 4 tàu lớp Kongo, 2 tàu lớp Hatakaze. Nhóm tàu khu trục thông thường (DG) gồm 2 tàu lớp Akizuki, 5 tàu lớp Takanami, 9 tàu lớp Murasame, 8 tàu lớp Asagiri, 10 tàu lớp Hatsuyuki.
 Tàu khu trục đổ bộ lớp Hyuga
Mặc dù không sở hữu tàu ngầm hạt nhân, nhưng Nhật Bản là một trong số các quốc gia có nhiều tàu ngầm diesel-điện có tính năng kỹ - chiến thuật tương đối cao, độ ồn rất thấp và khả năng hoạt động lâu ngày do sử dụng động cơ Striling và được lắp đặt các khí tài điện tử, ngư lôi và tên lửa chống tàu, tấn công các mục tiêu mặt đất hiện đại. Hải quân Nhật đang sở hữu khoảng 18 tàu ngầm trong đó  4 tàu ngầm tấn công lớp Soryu, 11 tàu lớp Oyashio và 3 tàu lớp Harushio (dùng cho nhiệm vụ huấn luyện thủy thủ).
Khu trục hạm lớp Kongo

Tàu ngầm lớp Oyashio SS-590
Đồng thời lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản cũng được trang bị các tàu phụ trợ như một số loại tàu rà quét mìn thủy lôi các loại, số lượng khoảng 29 tàu. Các tàu đổ bộ hiện đại như 3 tàu đổ bộ lớp Ōsumi, 2 tàu đổ bộ phục vụ lớp I-Go, 2 tàu lớp Yura, tổng số khoảng từ 7 đến 9 tàu.
Không quân hải quân Nhật Bản gồm có: Máy bay chống ngầm Lockheed P-3 Orion, Kawasaki P-1 82 chiếc, má bay tác chiến và trinh sát điện tử EP-3 5 chiếc, trực thăng chống ngầm Mitsubishi SH-60 – 97 chiếc, Máy bay trực thăng ra quét và rải thủy lôi CH-53E Super Stallion, AgustaWestland AW101, 17 chiếc và trực thăng tác chiến trên biển UH-60 Black Hawk 19 chiếc.
 Máy bay Mitsubishi F 15 của Nhật Bản
Lực lượng phòng vệ không quân Nhật Bản có quân số khoảng 45,000 người (2005), biên chế trang bị 791 máy bay các chủng loại, các máy bay chiến đấu là 350 chiếc bao gồm Mitsubishi F-2, Mitsubishi F-15 Eagle, F-4 Phantom II (trong đó có 12 chiếc F-2 đã bị hư hại bời sóng thần và bị loại bỏ, các máy bay Phantom cũng dần được thay thế bởi F- 15s hoặc F- 35As.);
Máy bay trinh sát điện tử cảnh báo sớm và kiểm soát bầu trời Boeing E-767, Grumman E-2 Hawkeye, tổng số là 17 chiếc; Máy bay tác chiến điện tử NAMC YS-11, Kawasaki C-1 tổng số 5 chiếc;
Vũ khí phòng không của Nhật Bản bao gồm có súng tự động phòng không M167 VADS, tên lửa đánh chặn MIM-104 Patriot (PAC-2 & PAC-3), tên lửa phòng không Type 81, Type 91  và hệ thống tên lửa phòng không tầm thấp đánh chặn tên lửa hệ thống Aegic (Surface-to-Air Missile for Aerial base Defense)
Lực lượng Hải quân Trung Quốc có khoảng 250,000 quân nhân, biên chế 1 tàu tuần dương,  14 Tàu khu trục trong đó có 4 Khu trục hạm 956/ 956EM Hạng Sovremenny ; 1 Khu trục hạm 051B (Lữ Hải ); 2 Khu trục hạm 051C ( Lữ châu); 2 Khu trục hạm 052B( Lương ); 5 Khu trục hạm 052C hạng ( Lương II). 28 Tàu khinh hạm các loại: 2 tàu Lớp 052 (Lữ Hộ); 1 tàu lớp 051 (Lữ Đại ); 13 tàu Lớp 054A(Giang Khải ); 2 tàu Lớp 054 (Giang Khải ); Tàu hộ vệ tên lửa (Corvette) 35 chiếc, tàu tên lửa tốc độ cao 119 chiếc. 
Tàu tuần dương Cáp Nhĩ Tân của Trung Quốc
Khu trục hạm lớp 52C Trung Quốc
Lực lượng tàu ngầm của PLAN rất lớn, với tất cả các loại tàu: Tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa SSBN: 5 , tàu ngầm nguyên tử tấn công đa nhiệm SSN: 8; tàu ngầm diesel điện có khoảng 58 chiếc bao gồm: lớp Tống Song-class : 14; lớp Kilo các loại 877EKM, 636; 636M: 12; lớp 041 Nguyên (Yuan-class) - 2; lớp 033 - Romeo (Romeo-class) – 06; lớp 035G - Minh (Ming-class) – 17; một tàu ngầm diesel tên lửa và một tàu ngầm diesel cứu hộ.
PLAN có khoảng 58 tàu đổ bộ các loại, trong đó có cả tàu đổ bộ đệm khí cỡ lớn Zubr sản xuất từ Liên bang Xô viết, có tốc độ tiến công và đổ bộ đường biển rất lớn. Lực lượng không quân Hải quân Trung quốc có khoảng hơn 200 máy bay.
Các chiến hạm công kích chủ lực của Trung Quốc được trang bị các loại tên lửa đối hạm và phòng không rất mạnh như tên lửa chống tàu Moskit, Club - K 3M-54E1, các tên lửa do Trung Quốc sản xuất theo các bản copy, trong đó có cả tên lửa mẫu copy Tomahawk. Tên lửa phòng không S-300 lắp trên tàu (HHQ-9), đồng thời cũng được trang bị các loại ngư lôi tiên tiến. Hệ thống radar tác chiến cũng được nâng cấp đáng kể, tuy chưa được hiện đại như Aegis nhưng cũng đã tiến gần đến nhưng yêu cầu kỹ thuật của hệ thống điều khiển hỏa lực mạng hiện đại.
Các chiến hạm tấn công của Trung Quốc cũng được áp dụng công nghệ Steath (tàng hình) với phương pháp tán xạ các tia radar chủ động.
Không quân Trung Quốc có số lượng máy bay tác chiến khá lớn, tính riêng số lượng máy bay tiêm kích đa nhiệm các dự án thiết kế như Chengdu J-10, Sukhoi Su-30MKK, Shenyang J-11, Sukhoi Su-27, Shenyang J-8, Chengdu J-7, PLA có khoảng 1045 máy bay chiến đấu hiện đại; máy bay cường kích đánh chặn, máy bay ném bom có khoảng 540 chiếc, máy bay trinh sát và cảnh báo, tác chiến điện tử dự án thiết kê KJ 2000 AWAC và KJ 200 AEW&C có 10 chiếc (Các con số tính đến nửa đầu năm 2012). Trực thăng chiến đấu có khoảng gần 100 chiếc. Đồng thời Trung Quốc cũng sở hữu rất nhiều loại máy bay chiến đấu không người lái.
Như vậy, điểm qua các con số thống kê thực tế, có thể nhận thấy, số lượng các phương tiện tác chiến không hải của Trung Quốc lớn hơn rất nhiều lần so với Nhật Bản. Cũng phải nhận xét rằng, các phương tiện tác chiến của Trung Quốc mới được sản xuất, dựa theo các tiêu chuẩn kỹ chiến thuật của các nước tiên tiến, trước hết là khối NATO và Liên bang Nga.
Theo ý kiến của chuyên gia phân tích chiến lược, ông Vasily Kashin, tổng biên tập tờ tạp chí Moscow Defence Brief nhận định: Trên biển, lực lượng hải quân PLA vượt trội hẳn về số lượng, nhưng về chất lượng, hạm đội của Trung Quốc thua sút hơn hẳn về chất lượng.
Ông Vasily kashin phân tích: Trung Quốc đã đóng những chiến hạm hiện đại bắt đầu vào những năm 2007. Các chiến hạm trước đây đã quá lỗi thời và hư hỏng, Trung Quốc có nhiều tàu ngầm, bao gồm cả tàu ngầm nguyên tử, trên thực tế là một hiểm họa đối với lực lượng hải quân Nhât. Lực lượng hải quân Nhật bản được xây dựng tập trung vào năng lực chống ngầm, đặc biệt để chống lại các tàu ngầm liên bang Xô Viết.
Các chuyên gia quân sự Mỹ trong tác chiến không hải đã đưa ra nhận xét – trong các kế hoạch tác chiến chống ngầm, kinh nghiệm, trang thiết bị và các giải pháp của quân nhân Nhật Bản dưới một góc nhìn nào đó còn vượt cả lực lượng chống ngầm quân đội Mỹ.   Chúng ta hoàn toàn chưa biết nhiều lắm về lực lượng tàu ngầm Trung Quốc, nhưng PLA cũng không thể hiện cao lắm khả năng tác chiến tàu ngầm, lực lượng binh chủng tàu ngầm không có chất lượng tốt và không được huấn luyện sẵn sàng chiến đấu cường độ cao trong tác chiến tàu ngầm. Họ vẫn còn bị chi phối bởi tư duy “đất liền quyết định biển khơi”. 
Trung Quốc hiện nay đang giữ một vị thế tương tự như Liên bang Xô Viết vào giai đoạn cuối năm 50-x – 60-x, ông Kashin nhận định – họ sẽ xây dựng lực lượng hải quân hiện đại để vươn ra biển lớn, nhưng họ cũng đứng trước nhưng vấn đề rất khó khăn: Thứ nhất – vượt qua vô vàn những khó khăn về kỹ thuật và công nghệ, điều đó chiếm một thời gian rất lớn; Thứ hai – Trung Quốc cần tiến hành một bước đại nhảy vọt về năng lực tác chiến, khả năng chiến đấu, chiến thuật và tổ chức biên chế lực lượng vũ trang trong tác chiến hiện đại. Hải quân Xô viết trong điều kiện lúc đó, đã bắt đầu phát triển từ những hạm đội ven bờ, không có khả năng tác chiến trên biển lớn, trải qua 10 năm nỗ lực đã có thể tiến hành những hoạt động trên các vùng nước đại dương. Trung Quốc hiện nay mới ở giai đoạn khởi đầu.
Vào những năm 80-x Hải quân PLA bắt đầu tiến trình thoát khỏi quan điểm phòng thủ bờ biển và vùng nước ven bờ: các hạm đội đến thời điểm đó chủ yếu là các cụm tàu lớn với một số lượng nhỏ các tầu có lượng giãn nước lớn, đại đa số là các chiến hạm hạng nhẹ và các xuồng phóng lôi, tên lửa tốc độ cao, đồng thời có một số lượng rất lớn các đơn vị pháo bờ biển. Sự phát triển thực sự của hạm đội bắt đầu vào những năm 90-x. Hạm đội phát triển có chất lượng cao được bắt đầu từ thập niên gần đây, nguyên nhân chủ yếu vẫn là thiếu hụt về kinh nghiệm và học viện quân sự hải quân, điều sẽ làm cho hải quân PLA cảm thấy tự tin hơn trong hành động.
Phó giám đốc thứ  nhất của Học viện Các vấn đề địa chính trị, Thuyền trưởng cấp 1 Konstantin Sivkov đánh giá cao về những khả năng của quân đội PLA đặc biệt là không quân và hải quân: “ Theo số lượng thì binh lực của Trung Quốc vượt trội hơn nhiều lần Nhật Bản. Trung Quốc có khoảng 1,5 triệu quân thường trực chiến đấu thời bình (theo sách Trắng PLA), Nhật Bản có khoảng 250 nghìn quân.
Nếu chiến tranh xảy ra trên đảo, thì lực lượng tác chiến chủ yếu sẽ là không quân và hải quân. Trung Quốc để giải quyết bài toán xung đột vũ trang thời gian ngắn có thể sử dụng một lực lượng không quân khoảng 400 – 500 máy bay, khoảng hơn 20 tàu ngầm diesel – điện, kết hợp với 3 tàu ngầm nguyên tử - các đảo Senkaku có vị trí địa lý không xa bờ biển của Trung Quốc, do đó PLAN có thể tăng cường một số lượng lớn các tàu cao tốc tên lửa, tàu khu trục tên lửa. Nhật Bản có thể điều động khoảng 150 máy bay tiêm kích đa nhiệm cấp chiến thuật, khoảng 10 chiếc tàu diesel – điện, 5 – 10 tàu khu trục và tàu hộ vệ tên lửa. Biên chế binh lực của Nhật Bản nếu tính về số lượng thấp hơn cụm không quân hải quân công kích của PLAN khoảng 3 lần.” 
Máy bay tiêm kích đa nhiệm Chengju J-10
Lực lượng không quân của PLA cơ bản là các máy bay đã lỗi thời. Về chất lượng kỹ chiến thuật, các phương tiện tác chiến của Nhật Bản vượt trội về chất lượng. Trung Quốc hiện chưa có máy bay trinh sát và cảnh báo sớm. Nhật Bản đã trang bị máy bay trinh sát được trang bị hiện đại, có thể quản lý toàn bộ không gian tác chiến và điều hành các hoạt động tác chiến trên không, sự vượt trội về công nghệ đó tạo ra ưu thế làm chủ bầu trời của không quân tiêm kích Nhật Bản. nói chung, trong tác chiến trên không, cán cân lực lượng của Trung Quốc và Nhật Bản tương đường nhau, dù số lượng của không quân PLA lớn hơn. 
 Tiêm kích – ném bom Hải quân JH-7
So sánh cán cân lực lượng của hải quân, các tàu ngầm của Trung Quốc theo các thông số kỹ chiến thuật và công nghệ chế tạo thì tương đương với các hạm tàu được sản xuất vào những năm 70 –x. các tầu ngầm có tiếng ồn lớn. Nhật Bản có những tàu ngầm hiện đại hơn, độ ồn thấp hơn, do đó hiệu quả tác chiến ngầm cao hơn của Trung Quốc. Thực tế so sánh binh lực thì số lượng chiến hạm tham chiến của Trung Quốc chắn chắn lớn hơn của Nhật Bản từ 2 đến 3 lần, mặc dù số lượng tên lửa và tầm bắn của các tên lửa đó tương đương nhau.
Cuộc chiến quy ước.
Ông Vasily Kashin nhận xét: “có nhiều khả năng Trung Quốc sẽ thất bại thê thảm nếu sử dụng xung đột vũ trang để chiếm đảo – nếu xảy ra một cuộc chiến tranh giới hạn mà lực lượng hai bên tương đương nhau, người Trung Quốc sẽ tổn thất nặng nề và khó lòng có thể gây ra những tổn thất tương đương cho phía người Nhật.
Tại thời điểm này người Nhật có ưu thế hơn hẳn về cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật, đồng thời lực lượng vũ trang Nhật Bản có ưu thế hơn hẳn về huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và kinh nghiệm, năng lực kỹ chiến thuật, khả năng điều hành và chỉ huy tác chiến. PLA xây dựng các hệ thống quản lý, điều hành, chỉ huy tác chiến và huấn luyện chiến đấu hoàn toàn mới, hệ thống tổ chức binh lực chưa được thử nghiệm trên chiến trường.
Cấp độ sẵn sàng chiến đấu của các kíp trắc thủ, các phi đội, các thủy thủ đoàn vẫn còn có nhiều dấu hỏi. Ngoài ra, vũ khí trang bị và phương tiện chiến tranh của PLA thua sút so với của Nhật Bản, do đó các đơn vị của PLA khó lòng phát huy được hết uy lực tác chiến của vũ khí khí tài, đồng thời với phương thức chỉ huy điều hành tác chiến cổ điển của chiến thuật đại binh có thể dẫn đến các tổn thất nặng nề. Có lẽ, chiến tranh sẽ kết thúc với một thảm bại mang tính hủy diệt, và đối với Trung Quốc thì điều đó không thể nói có ý nghĩa thế nào.
“ Hải quân Nhật Bản thực tế là lực lượng hùng mạnh – ông khẳng định – Mặc dù Trung Quốc đã có những bước tiến vượt bậc trên lĩnh vực hải quân, nhưng để bước lên đẳng cấp của Nhật Bản, đặc biệt trong lĩnh vực chiến thuật và huấn luyện lực lương, người Trung Quốc cần kinh nghiệm và nhiều năm huấn luyện chiến đấu nữa”
Constantine Sivkov không đồng ý với nhận xét này, ông khẳng định: tổn thất của PLA sẽ rất lớn, nhưng người Nhật cũng sẽ có những thiệt hại đáng kể. Trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang cấp độ cao, PLA sẽ sử dụng phương án chiến đấu tấn công, với mật độ phương tiện tác chiến dày đặc. Lực lượng phòng vệ Nhật Bản sẽ buộc phải lựa chọn giải pháp phòng ngự chủ động, nếu xung đột trực tiếp binh lực, Trung Quốc có nhiều khả năng đạt được mục đích đặt ra.
Trung Quốc có ưu thế vượt trội về số lượng các tàu tên lửa hạng nhẹ và các tàu khu trục mang tên lửa, theo công bố của báo giới đại lục, có công nghệ tương đương với công nghệ thế giới. với số lương lớn, PLAN có thể bao vây công kích và tiêu diệt các cụm chiến hạm của Nhật Bản  ngay cả trong trường hợp với tổn thất lớn, đồng thời đổ bộ lực lượng đánh chiếm quần đảo.
Với số lượng vượt trội về không quân và lực lượng dự bị, không chiến trên bầu trời sẽ rất dữ dội, tiêm kích Nhật Bản sẽ phải đối phó với những đợt tiến công liên tiếp, nhiều tầng nhiều hướng, lực lượng phòng không trên biển của Nhật sẽ phải đối phó với các đợt tấn công của tên lửa hành trình mặt đất, do đó sự hỗ trợ sẽ là rất thấp. Với số lượng nhỏ hơn, khả năng bẻ gãy các đợt không kích và yểm trợ hải quân trên biển cũng bị suy giảm, do đó, tính khả thi của khả năng dành thằng lợi của PLA nói chung rất lớn.
“ Không thể đánh giá thấp cấp độ huấn luyện chiến đấu của PLAN, theo những thông tin công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, cấp độ huấn luyện của PLAN hoàn toàn không thấp hơn hải quân Nhật Bản, mà có thể cao hơn – ông Sivkov nhận định – điểm khác hơn so với Nhật Bản, quân đội PLA huấn luyện tích cực, chủ động và rất thường xuyên, nội dung huấn luyện cơ bản và rất vững chắc, đồng thời quân đội Trung Quốc cũng sử dụng một số lượng lớn vũ khí, trang thiết bị và phương tiện chiến tranh phục vụ huấn luyện.
Như vậy, nếu xét trên góc độ năng lực chiến đấu, có thể coi năng lực tác chiến thực tế của hai bên ngang nhau, Nhật Bản vượt trội hơn Trung Quốc về kinh nghiệm tác chiến trên biển có từ đại chiến thế giới lần thứ II, nhưng với số lượng lớn, Trung Quốc cũng có thể bù đắp điểm yếu này. Do đó Trung Quốc hoàn toàn có khả năng tiêu diệt các cụm không quân Nhật ngay trên bầu trời Nhật Bản, dù có những tổn thất vô cùng lớn – nhưng có thể thực hiện được, nhằm mục tiêu là đổ bộ lực lượng lên đảo Sankaku.
Lực lượng đồng minh
Nhật Bản mặc dù có số lượng binh lực thấp hơn nhiều lần so với quân đội Trung Quốc, nhưng lại có một lợi thế vượt trội – là Đồng minh của Mỹ, theo hiệp ước phòng thủ chung đồng minh, quân đội Mỹ bắt buộc phải tham gia vào xung đột vũ trang, nêu như trong các quan hệ quốc tế, Nhật Bản có nguy cơ bị xâm lược. Trong những dự báo về cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc với lực lượng đồng minh Mỹ, Nhật, các chuyên gia đều có đồng quan điểm, Trung Quốc sẽ nhanh chóng thảm bại.
Theo nhận xét của ông Constantine Sivkov, nhân tố quân đội Mỹ đương nhiên sẽ loại trừ khả năng Trung Quốc tiến hành một cuộc xung đột vũ trang trong khu vực quần đảo Senkaku. Trong cuộc đối đầu có tính quy ước giữa PLAN và không quân – hải quân Mỹ - Nhật, ngay cả trong trường hợp Trung Quốc đưa vào cuộc không kích một số lượng khổng lồ các máy bay chiến đấu, lực lượng không quân Mỹ trên các tàu sân bay, lực lượng cụm không quân chiến thuật trên đảo Okinawa và lực lượng không quân chiến lược trên đảo Guam kết hợp với lực lượng không quân Nhật Bản theo số lượng biên chế có khả năng ngăn chặn mọi đòn công kích đường không của Trung Quốc, đồng thời sẽ tấn công các căn cứ ven biển, các sân bay, căn cứ hải quân bằng và hệ thống hạm đội PLAN tên lửa hành trình Tomahawk với số lượng rất lớn.
Đây là đòn phản kích vô cùng mạnh mẽ, lực lượng không quân PLA sẽ bị tiêu diệt phần lớn cùng với hạ tầng cơ sở kỹ thuật, không quân và các căn cứ hải quân Trung Quốc hoàn toàn không thể chịu đựng được trong vòng hai tuần, lực lượng không quân sẽ không còn khà năng chiến đấu. Với sự tham chiến của tàu ngầm nguyên tử đa nhiệm Los Angeles, liên hải quân Mỹ - Nhật sẽ nhanh chóng dìm tất cả các chiến hạm tham chiến của Trung Quốc xuống biển Hoa Đông.
Vũ khí trên hạm tàu của Trung Quốc rất mạnh, nhưng hệ thống phòng không tương đối yếu, Trung Quốc có các chiến hạm phòng không được trang bị tên lửa phòng không tương đương S-300, nhưng hệ thống radar trinh sát, dẫn đường và chỉ thị mục tiêu chưa đồng bộ, thống nhất các loại hỏa lực phòng không, do đó với tên lửa chống tàu lớp Tomahawk hoàn toàn không có khả năng đánh chặn.
Các tên lửa chống tàu của Mỹ có tầm bắn xa ngoài tầm tấn công của tên lửa Trung Quốc, do đó các chiến hạm Mỹ nằm ngoài tầm với. Trong điều kiện thực tế, nếu tình huống chính trị liên quan đến các đảo ở Senkaky nóng lên đến mức xảy ra xung đột vũ tranh, và nếu cuộc xung đột tiềm năng đó có sự tham gia của hải quân Mỹ thì khả năng cao nhất của Trung Quốc là chấm dứt các hoạt động quân sự, nhưng sẽ sử dụng phương pháp có hiệu quả hơn, đó là các đòn phản kích về kinh tế.
Không có sự yểm trợ của Mỹ, lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản khó lòng giữ được các hòn đảo đó, nêu như chính phủ Trung Quốc quyết tâm chiếm đảo bằng mọi giá. Mặc dù không quân Trung Quốc sẽ có những tổn thất rất lớn, dự kiến đến 150 máy bay chiến đấu, và Nhật Bản cũng sẽ bị tổn thất một số lượng máy bay đáng kể (hàng chục chiếc), cũng không ngăn chặn được Trung Quốc đổ bộ lên đảo. Nhưng nếu Mỹ tham chiến theo hiệp ước, thì lực lượng không hải của PLA sẽ nhanh chóng bị tiêu diệt mà không đạt được mục đích đề ra.
Mỹ không chiếm vị trí nào trong cuộc tranh chấp biển đảo, nhưng nếu xảy ra xung đột vũ trang, các chính khác Mỹ có thể giải thích như một hành động tấn công xâm lược Nhật Bản, và theo hiệp ước họ có thể gửi quân đội tham chiến - Vasily Kashin dự đoán – quân đội Mỹ có một cụm không quân hải quân công kích chủ lực với sự có mặt của tàu sân bay "George Washington", lính thủy đánh bộ trên đảo Okinawa, lực lượng không quân và bộ binh  ở Hàn Quốc. Điều đó có nghĩa là, lực lượng quân đội Mỹ ở biển Hoa Đông khá mạnh.
Trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo Senkaky có sự hiện diện của lực lượng vũ trang Mỹ, bao gồm cả cụm không quân hải quân công kích chủ lực, lực lượng quân đội Mỹ này  nếu xảy ra nguy cơ xung đột có thể trong một thời gian rất ngắn, có thể được tính bằng giờ sẽ có mặt trong khu vực xung đột và sẵn sàng tham chiến. Cán cân lực lượng hoàn toàn bất lợi cho Trung Quốc, nên trong mọi tham vọng của Bắc Kinh, để xảy ra một cuộc xung đột vũ trang là điều hoàn toàn không mong muốn. Để có thể đe dọa và gây nguy hiểm bằng chiến tranh nhỏ có giới hạn cho Nhật Bản, Trung Quốc phải đi thêm một đoạn đường rất dài.
Từ góc độ chiến lược – chiến thuật, có thể thấy. Lực lượng tác chiến không hải của PLA trên thực tế thực sự hùng mạnh, những đánh giá của các chuyên gia quân sự trên thực tế vẫn chưa thể nêu rõ được khả năng có xảy ra một cuộc xung đột vũ trang lớn hay không và kết quả của nó. Một trong những yếu tố quan trọng là vấn đề thời gian – cuộc chiến xảy ra thời điểm nào, thời gian dài hay ngăn, tại thời điểm đó tình hình kinh thế và an ninh thế giới ở cấp độ nào?
Nhưng nếu lấy quan điểm của chính người Trung Quốc “ chiến tranh là phương tiện để thực hiện mục đích chính trị..” thì rõ ràng, khả năng xảy ra một cuộc xung đột “ Trung – Nhật” trên quần đảo Senkaky còn phụ thuộc vào Học thuyết quân sự hải dương của Trung Quốc và chiến lược Phòng thủ ngoài khơi xa của PLAN. Để đánh giá chi tiết hơn những hành động có tính khiêu khích của lực lượng không quân – hải quân Trung Quốc trong những năm gần đây, tính từ Sensaky đến các đảo của Malaisia cũng như ý nghĩa của nó, cần có nhưng phân tích cụ thể hơn về cuộc chiến tranh dành lợi ích Bắc Kinh mong muốn đạt tới trong giai đoạn đầu của thế kỷ 21. 

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

Trận đấu giữa 2 chiến hạm vĩ đại nhất: Yamato Nhật Bản hay Iowa Mỹ sẽ thắng?


Yamato Nhật Bản hay Iowa Mỹ sẽ thắng?
Đó là một trận thư hùng của hai chiến hạm Thế chiến II vĩ đại nhất trong lịch sử. Chiến hạm Yamato, với trọng lượng 65.000 tấn, là tàu chiến lớn nhất trong lịch sử, còn Iowa là niềm tự hào của nước Mỹ
Thực tế, hai chiến hạm này chưa từng đối đầu nhau trong chiến tranh. Nhưng nếu chúng chạm trán nhau trên biển, chuyện gì sẽ xảy ra? Ông Jon Parshall, nhà sử học và là tác giả sách lịch sử nổi tiếng đã so sánh nhiều loại chiến hạm của các nước trên trang Combinedfleet.com, nơi có đầy đủ thông tin về các loại tàu chiến trong lịch sử.
Trong số những tàu được so sánh có Yamato và Iowa, và chúng được xét trên 5 tiêu chí: pháo của tàu, giáp của tàu, lớp bảo vệ dưới mặt nước, hệ thống ngắm bắn và các yếu tố chiến lược (như tốc độ và khả năng giảm thiểu hư hại tàu).

Vỏ giáp dày của Yamato khiến thiết giáp hạm này chịu được nhiều trận không kích của máy bay đối phương

Chiến hạm Iowa của Mỹ
Pháo trên tàu
Pháo hạm có cỡ nòng 45cm của tàu Yamato là loại pháo lớn nhất được lắp đặt trên tàu chiến. Bởi Nhật Bản không thể sánh với Mỹ về quân số, chiến lược của nước này là phải làm mỗi tàu chiến mạnh hơn về mọi mặt so với các tàu của Mỹ. Pháo của Yamato có thể bắn đạn pháo nặng hơn 1,4 tấn và đạt tầm xa tối đa 42km, trong khi pháo của Iowa chỉ dùng được đạn nặng 1,2 tấn và có tầm bắn ngắn hơn.
Mặc dù đạn pháo của Nhật không có sức công phá bằng Mỹ, tàu Yamato có lợi thế về tầm bắn. Vấn đề còn lại là bắn trúng vào mục tiêu. Với hệ thống ngắm bắn của Thế chiến II, khả năng bắn trúng một tàu chiến di chuyển với tốc độ 30 hải lý/giờ từ khoảng cách 40km là rất nhỏ.
Trong phân tích của mình, Parshall giả định rằng thuyền trưởng của hai tàu chiến sẽ thu hẹp khoảng cách xuống còn 37km. Ở khoảng cách này, pháo của cả tàu Yamato lẫn Iowa có thể xuyên thủng lớp giáp của nhau. “Do đó tôi nghĩ rằng yếu tố may mắn là rất quan trọng”, Parshall giải thích. “Iowa có hệ thống ngắm bắn tốt hơn, tuy nhiên nếu Yamato may mắn bắn trúng trong loạt pháo đầu, rất có thể Iowa sẽ phải chịu thúc thủ”.
Lớp giáp của tàu
Về mặt này, Yamato vượt trội so với tàu Iowa, khi lớp giáp ở mạn tàu Nhật Bản dày 40cm so với 30cm của tàu Mỹ. Tàu Yamato còn có lớp giáp trên boong dày 22cm so với 15cm của Iowa. Ở bề mặt tháp pháo, tàu Yamato có giáp dày đến 66cm, so với chỉ 50cm của tàu Iowa.
“Tàu Yamato được chế tạo để chống chịu và áp đảo bất kỳ tàu chiến nào của Mỹ và Anh bằng hỏa lực và giáp trụ”, ông Parshall viết. 
Trong khi Yamato được trang bị giáp trụ ở mọi nơi, giáp của tàu Iowa dày hơn ở những vị trí trọng yếu. Tuy nhiên, Parshall cho biết, chỉ Mỹ mới có thể chế tạo tàu chiến hoàn toàn từ thép luyện đặc biệt nhẹ và cứng hơn, tức là tàu chiến Mỹ có thể nhỏ và nhẹ hơn mà vẫn được bảo vệ một cách cẩn thận.
Dù vậy, Parshall vẫn coi tàu Yamato tốt hơn về mặt giáp trụ. Nếu cả hai tàu đều bị hỏng hệ thống ngắm bắn và phải lại gần để giao chiến, sức chịu đựng của tháp pháo tàu Yamato trước Iowa sẽ rất quan trọng.
Lớp bảo vệ dưới mặt nước
Tại sao lớp giáp dưới mặt nước của tàu chiến lại quan trọng đến vậy, khi mà các tàu thường nã pháo vào nhau thay vì sử dụng ngư lôi?
Bởi vì vào đầu Thế chiến II, chiến hạm Bismarck của Đức đã bị săn đuổi và đánh chìm sau khi một viên đạn pháo của tàu Prince of Wales của Anh đã không bắn trúng tàu của Đức mà đâm xuống mặt nước và xuyên thủng phần đáy tàu.
Nhằm đảm bảo tính ưu việt trong chiến đấu, Nhật Bản huấn luyện các đội tàu chiến của mình có thể bắn những phát pháo xuyên thủng đáy tàu. “Tỉ lệ đạn pháo bắn trúng đáy tàu là khá nhỏ”, Parshall nói. “Nhưng nếu hàng loạt đạn pháo được bắn đi, khả năng đó sẽ tăng lên và sẽ có phát bắn trúng”.
Trong số 7 tàu chiến mà Parshall xem xét, tàu Yamato và Iowa có giáp bảo vệ đáy tàu tốt nhất. Tuy nhiên  đường nối giữa phần trên và dưới của mạn tàu Yamato lại không được kín và đó là lý do khi tàu bị trúng thủy lôi của máy bay ngoài khơi Okinawa, nước đã tràn vào và khiến tàu chìm.
Hệ thống ngắm bắn
Độ chính xác của pháo là một trong những tiêu chí quan trọng khi tàu thường phải bắn pháo từ khoảng cách 40km. Đây có thể coi là thế mạnh lớn nhất của tàu Iowa, bởi hệ thống rađa của Nhật Bản rất kém, trong khi của Mỹ thì được coi là tốt nhất thế giới.
“Trong một cuộc thử nghiệm năm 1945, một tàu chiến của Mỹ có thể đảm bảo khả năng bắn chính xác ngay cả khi phải thực hiện quay tàu 45 độ, tiếp đó là một lần quay đầu 100 độ khác”, ông Parshall viết.
“Khả năng của hệ thống ngắm bắn Mỹ rõ ràng tốt hơn các hệ thống cùng thời”, ông nói, “và cho phép tàu chiến Mỹ có lợi thế chiến lược khi tàu có thể vừa bắn vừa đổi hướng, trong khi tàu địch chỉ có thể thực hiện một trong hai động tác trên”.
Tàu Iowa là biểu tượng của hải quân Mỹ, một trong những tàu có thành tích oanh liệt nhất trong Thế chiến II.
Tuy nhiên, tàu Nhật Bản có thiết bị xác định tầm bắn quang học cùng ống nhòm nhìn đêm, cho phép Yamato có thể đánh úp và tiêu diệt tàu của Mỹ, cụ thể là trong các trận hải chiến đêm ở Guadalcanal (Thái Bình Dương). Nhưng thiết bị quang học lại yếu thế khi gặp thời tiết xấu hoặc khi có nhiều khói.
“Thực tế, các hệ thống quang học có thể xác định góc bắn rất tốt, nhưng lại không hiệu quả khi xác định tầm bắn”, ông Parshall nói. “Hệ thống rađa thời Thế chiến II sẽ cho phép xác định khoảng cách rất rõ ràng, nhưng xác định góc bắn chuẩn cũng là một lợi thế. Có thể nói rằng, sự kết hợp giữa hệ thống quang học tốt với hệ thống rađa đẳng cấp hơn hẳn hệ thống quang học đẳng cấp nhưng rađa lại kém”.
Yếu tố chiến lược
Về mặt này, Parshall chỉ ra một vài yếu tố, ví dụ như tốc độ và khả năng né tránh đạn pháo. Iowa có vận tốc tối đa 33 hải lý/giờ còn Yamato chỉ có 27 hải lý/giờ, điều đó sẽ giúp tàu của Mỹ có lợi thế trong việc kiểm soát tầm bắn. Tàu Yamato có trọng lượng lớn hơn Iowa, điều đó sẽ giúp tàu chịu được hư hại tốt hơn.
Nhưng về mặt giảm thiểu hư hại cho tàu, Mỹ hoàn toàn bỏ xa Nhật Bản và các nước khác.
Kết luận
Vậy tàu chiến nào sẽ thắng cuộc? Dựa trên những số liệu, tàu Iowa có ưu thế hơn do có hệ thống ngắm bắn tốt hơn. Tuy nhiên chỉ cần một phát bắn may mắn của tàu địch, rađa có thể dễ dàng bị phá hủy và với loại pháo cỡ nòng 45cm, một phát bắn của tàu Yamato sẽ khiến Iowa thiệt hại nghiêm trọng.
Mặc dù hai tàu đều có những lợi thế riêng, sự hơn kém của những đặc tính này rất nhỏ đến mức chỉ có may mắn mới quyết định chiến thắng của hai tàu.
Đương nhiên, tất cả mọi thứ chỉ là giả thuyết. Trên thực tế Yamato và Iowa sẽ không bao giờ đối đầu nhau kiểu một đối một trên chiến trường, mà quanh chúng sẽ là những tàu chiến và tàu ngầm khác. 
Trong lịch sử hải quân, chỉ duy nhất có một lần hai tàu chiến đấu tay đôi với nhau mà không có sự can thiệp nào khác, đó là trận chiến giữa tàu Bismarck cùng tàu Prinz Eugen đấu với tàu Prince of Wales và Hood của Anh ở eo biển Đan Mạch.
Sau cùng, một cuộc đối đầu thực sự giữa Yamato và Iowa chưa bao giờ xảy ra. Đến năm 1945, thời đại của các chiến hạm lớn đã đến hồi kết khi các tàu lớn bị nhiều phi đội máy bay tiêu diệt. Yamato đã bị đánh chìm ở Okinawa vào ngày 7/4/1945 sau khi hàng trăm máy bay Mỹ mang thủy lôi tấn công cùng lúc.
Tàu Iowa thì sống sót qua Thế chiến II và sau đó còn tham gia Chiến tranh Triều Tiên, vào những năm 1980 vẫn còn được tái sử dụng. Nó đã nhiều lần tấn công các mục tiêu ở bờ biển, nhưng chưa có cơ hội đối đầu trực tiếp với chiến hạm của đối phương.
Nội dung được thực hiện qua tham khảo Tạp chí National Interest. National Interest được thành lập vào năm 1985. Tạp chí thường tập trung vào vấn đề chính sách đối ngoại và những lợi ích quốc gia của Mỹ.
Anh Tuấn (lược dịch)

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2015

Khám phá bí ẩn tàu đổ bộ đệm khí Bò rừng “Zubr”.


Tàu đổ bộ đệm khí Zubr là chiếc tàu đổ bộ chạy nhanh nhất thế giới và có khả năng mang được một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ mạnh. Zubr thực sự là phương tiện quan trọng của Hải quân Xô viết - Nga
Tàu đổ bộ trên đệm khí kiểu Zubr (Bò rừng) dự án 12322
Zubr «Bò rừng » là tàu chạy trên đệm không khí lớn nhất thế giới. Zubr “Bò rừng” có khả năng chạy với tốc độ của xe ô tô trên hải trình 300 hải lý. Điều đó có nghĩa là với tốc độ của một chiếc xe BMW  nhanh chóng vượt qua biển Đen, sử dụng hỏa lực trên boong tàu bắn cấp tập bao chùm cả một khu vực phòng thủ rộng lớn của đối phương và đổ bộ lực lượng lính thủy đánh bộ với xe tăng, thiết giáp.
 Cũng không có nhiều người biết rằng, Bò rừng được chế tạo tương tự như một tàu tấn công chủ lực mang tên lửa hành trình chiến lược với tính cơ động siêu việt, đây quả thực là một dự án vượt quá sức tưởng tượng của bất cứ  nhà tư duy chiến lược nào, đáng kinh ngạc hơn nữa là khả năng cơ động của tàu Zubr trên mặt nước và cả trên bộ.
Khả năng này đã buộc những chiến lược gia phải xem xét lại toàn bộ các kế hoạch phòng thủ và tấn công của mình ngay tại thời điểm đã rất xa so với thời kỳ Xô viết. Lịch sử phát triển tàu tấn công trên đệm không khí được giữ bí mật tuyệt đối, mang đầy những bí ẩn và những sáng tạo bất ngờ.
Sự hình thành khái niệm “ tàu chạy trên đệm không khí”
Bản dự án thiết kế tàu chạy trên đệm không khí đầu tiên từ thế kỷ 18 được một kỹ sư Thụy Điển Emmunel Svedenburg. Nói chung, ngay cả nhà phát minh thiết kế cũng thấy đây là một sáng tạo bất khả thi, do đòi hỏi phải có một động cơ công suất rất lớn và rất gọn, nhỏ, loại động cơ này thời điểm lúc đó hoàn toàn chưa xuất hiện.
Nhưng trong thời kỳ Xô viết, ý tưởng táo bạo đó đã gây sự chú ý đối với  Konstantin Tsiolkovsky, ông tổ ngành tên lửa. Năm 1924, chính Tsiolcovsky đã đề nghị chế tạo một xe địa hình không có bánh xe mà chạy trên đệm không khí, tiến về phía trước trên cơ sở các động cơ phản lực.
Thời gian sau đó, giáo sư ngành nghiên cứu thử nghiệm khí động học Vladimir Levkov từ thời sinh viên khi đọc cuốn sách của Tsionkovski đã bị mê hoặc và ám ảnh ý tưởng chế tạo tàu chạy trên đệm không khí.
Sau nhiều lần chế tạo các tàu thử nghiệm chạy đệm khí, vào năm 1937 dưới sự lãnh đạo của Lebkov đã chế tạo thành công mẫu xuồng phóng ngư lôi thử nghiệm L-5. Nhờ có đệm không khí, L-5 có những tính năng kỹ chiến thuật hoàn toàn mới, tốc độ cơ động của xuồng phóng lôi đạt tới 130 km/h. Khi tàu chạy hết tốc độ, không một ngư lôi nào có thể đuổi kịp. Đồng thời L-5 có cả khả năng đi trên mặt nước và đi trên cạn.
Những tính năng kỹ thuật mới của tàu L-5 đã thuyết phục các sĩ quan, binh sĩ Hải quân và không những thế, bộ binh cũng rất quan tâm.  Nhưng những yếu tố về công nghệ đã cản bước L-5 trở thành vũ khí thực sự của Hải quân.  Vladimir Levkov tiếp tục làm việc với các dự án tàu chạy trên đệm không khí cho đến khi qua đời vào năm 1954.
Ông đã không thực hiện được ước mơ biến dự án thành một chiếc tàu thực sự chạy trên đệm khí do những khó khăn về công nghệ. Sau này, hai phát minh thiên tài đã đưa công nghệ chế tạo tàu chạy đệm không khí thoát khỏi ngõ cụt mà Levkov đã không thành công. 
Sự phát triển tiếp theo của tàu đệm khí là các xe trinh sát hạng nhẹ chạy trên đệm không khí, được phát triển bới trung tâm nghiên cứu phát triển công nghệ của Tập đoàn sản xuất xe vận tại Transmash. Các xe trinh sát dễ dàng vượt qua các trận địa mìn chống tăng và bộ binh thông thường, vượt qua những khu vực mà xe tăng bị xa lầy hoặc cơ động khó khăn, nhưng không thể lắp cho xe vũ khí hay giáp hạng nhẹ.
Cuối cùng các ý tưởng đó đều bị loại bỏ và quyết định chế tạo tàu chạy đệm không khí với mô hình mà đến hiện nay, các tàu đổ bộ chạy trên đệm không khí vẫn đang sử dụng. Khả năng chế tạo ra tàu đổ bộ chạy trên đệm khí đã được sự ủng hộ cao nhất của Tư lệnh của Hải quân Liên bang Xô viết Sergei Gorskov. Đối với ông, đó là một khát vọng lớn cho hải quân Liên bang. 
Một trong những phương tiện chiến tranh có mối đe dọa cao nhất từ phía các nước hiếu chiến (Mỹ) là các tàu sân bay, nhờ có các tàu sân bay, lực lượng quân đội Mỹ có khả năng tiến hành các chiến dịch trên chiến trường châu Âu và Thái bình dương. Để tiêu diệt các cụm tàu tấn công chủ lực, hải quân đề nghị sử dụng các cụm tàu tuần dương tên lửa, tàu ngầm với các tên lửa hành trình từ chiến thuật đến chiến lược.
Nhưng bản thân đô đốc, tư lệnh trưởng Hải quân Liên bang rất hiểu rằng, nếu không đánh chiếm được khu vực vùng vịnh và vùng đất ven bờ thì ngay các chiến hạm mạnh nhất cũng không có nhiều cơ hội tiến vào khu vực tác chiến.
Vào năm 1963 nhờ những nỗ lực đấu tranh của Tổng tư lệnh hải quân Liên bang Sergei Gorskov đã hình thành lực lượng lính thủy đánh bộ. Lực lượng lính thủy đánh bộ sẽ là lực lượng mở đường cho các chiến hạm liên bang Xô viêt ra biển lớn.
Bộ tư lệnh hải quân Xô viết đặt các nhà thiết kế của Trung tâm thiết kế hải quân Almaz một nhiệm vụ không đơn giản là thiết kế phát triển chiến hạm chạy trên đệm không khí. Tàu chạy trên đệm không khí phải có khả năng mang và đổ bộ tăng, thiết giáp lực lượng lính thủy đánh bộ trực tiếp lên bờ.
Dự án được đặt mã hiệu là "Dzheiran", các nhà đóng tàu thành phố Leningrad đã buộc phải làm quen với một công nghệ đóng tàu hoàn toàn mới và vật liệu đóng tàu mới. Vỏ tàu được chế tạo từ vật liệu hợp kim nhôm.
Trong quá trình đóng vỏ tàu đòi hỏi phải ghép các tấm nhôm với tiếng ồn rất lớn, người bình thường không thể ở lâu trong môi trường tiếng động có độ ồn cao như vậy, do đó từ mọi miền đất nước tuyển về những thợ đóng tàu câm – điếc. Sau một thời gian, công nghệ vỏ tàu ghép tấm nhôm với độ ồn lớn bị loại bỏ do vỏ tàu hợp kim nhôm bị già hóa rất nhanh.
Kết quả nỗ lực thiết kế và chế tạo thử tàu chạy trên đệm không khí với muôn vàn khó khăn vất vả chỉ cho được một tàu nhỏ chạy trên đệm không khí, nhưng tàu Dzheiran đã gây ấn tượng rất mạnh với khả năng kỹ thuật của nó, với tốc độ gần 100 km/h tàu có thể đổ bộ lên bờ biển đối phương 2 xe tăng và 200 lính thủy đánh bộ.
Tính năng kỹ chiến thuật của tàu đổ bộ hạng nhẹ trên đệm không khí  Dzeiran:
Lượng giãn nước - 360 tấn; Tầm xa cơ động - 100 hải lý; Tốc độ - 48 hải lý/h; Thủy thủ đoàn - 21 người;
Vũ khí trang bị : Súng tự động 30 mm АК-230 - 2;
Khả năng đổ bộ :
Phương án 1: 4 xe tăng PT-76 và  50 lính thủy đánh bộ;
Phương án 1:  2 xe tăng hạng trung và  200 lính thủy đánh bộ;
Trên thực tế, song song cùng với dụ án Dzheiran , trung tâm thiết kế trang bị Hải quân Almaz cũng phát triển xuồng chạy trên đệm  khí Skat, có khả năng mang 40 lính thủy đánh bộ với đầy đủ vũ khí trang bị..
Sự phát triển tiếp theo của tàu trên đệm khí Liên bang Xô viết
Vào đầu những năm 70-x các hạm đội của Hải quân Xô viết càng ngày càng mở rộng tầm hoạt động xa bờ biển đất nước. Càng ngày, hạm đội càng nhận nhiều hơn những nhiệm vụ gìn giữ hòa bình, cân bằng lực lượng và hỗ trợ cho các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước đang bị đè nén bởi chủ nghĩa đế quốc.
Nhưng những chiến dịch cần có sự tham gia của lính thủy đánh bộ, các tàu chạy trên đệm khí như Skats và Dzeiran không thể cùng tham gia hải trình do tầm hoạt động không đủ xa. Giải pháp được đặt ra là bố trí nhiều xuồng đổ bộ cao tốc trong hầm tàu của một tàu lớn.  
Đô đốc, Tổng tư lệnh lực lượng Hải quân xô viết nguyên soái Gorskov ra chỉ lệnh phát triển loại tàu đổ bộ hạng nặng này. Dự án mang tên Kalmar, trên thiết kế tàu được áp dụng các trống hướng gió, làm tăng cường hiệu suất phản lực của các cánh quạt tuốc bin mà không phải tăng đường kính của cánh quạt gió. Dzheiran, Skats, Kalmar là những tàu đệm khí đầu tiên của thế hệ các tàu chạy trên đệm khí.  
Cuối những năm 70x , ranh giới của mặt trận chiến tranh lạnh đã nằm cắt ngang trên đại dương, các nhà thiết kế tên lửa Xô viết đã thử nghiệm thành công tên lửa hành trình có cánh chống tàu, những tên lửa này buộc người Mỹ phát triển các tên lửa chống tàu như Harpoon và Tomahawk.
Các chuyên gia hải quân Xô viết đã phát hiện được những điểm yếu của các hệ thống hỏa lực chống tàu. Năm 1973 theo Chỉ lệnh của Tổng tư lệnh lực lượng Hải quân Xô viết, Trung tâm thiết kế trang bị hải quân Almaz đã phát triển các tàu tên lửa hạng nhẹ kiểu Sivutr.
Các tàu tên lửa này trong điều kiện hải trình sẽ chạy với tốc độ khoảng 20 hải lý/h, trong trường hợp chuyển trạng thái chiến đấu phần phía trước của tàu sẽ được hạ màn chắn mềm, động cơ công suất lớn của tàu sẽ nén không khí giữa hai thân tàu, tàu nhanh chóng trở thành chiến hạm trên đệm khí. Trên boong tàu được lắp đặt 8 ống phóng tên lửa chống tàu Moskit.
Nhưng cho đến ngày nay, rất ít người được biết, Trung tâm thiết kế trang thiết bị Hải quân Almaz đã thiết kế một mẫu tàu độc nhât trên thế giới chạy trên đệm khí mang vũ khí tấn công chiến lược (các đầu đạn hạt nhân). Nếu điều này thành hiện thực, các chiến lược gia phương Tây sẽ phải thay đổi quan điểm về chiến lược hải quân.
Năm 1988, tàu đổ bộ trên đệm khí lớp Zubr dự án 12322 chính thức được chuyển giao vào biên chế của lực lượng hải quân Xô viết.
Tàu đổ bộ lưỡng cư trên đệm khí Zubr
Trong thiết kế chế tạo của tàu đệm khí Zubr đã đặt vào đó toàn bộ kinh nghiệm chế tạo các tàu đổ bộ của Trung tâm thiết kế trang thiết bị Hải quân Almaz. Sự xuất hiện tàu đổ bộ lưỡng dụng của Liên bang Xô viết ngay lập tức đã nằm trong tầm ngắm của các chuyên gia quân sự Phương Tây. Các nhà quân sự Hải quân đặt tên nó là Pomornik.  
Bò rừng “Zubr” trở thành  chiến hạm chạy nhanh nhất trên thế giới. Giới hạn tốc độ của nó không ai đoán được, kể cả các nhà thiết kế - chế tạo. Trong các cuộc hành trình thử nghiệm tàu đạt đến tốc độ 70 hải lý/h và đấy không phải là giới hạn cuối cùng.
Tàu đổ bộ đệm khí lớp Zubr bao gồm có thân tàu có dạng góc vuông, là phần chính mang các trang thiết bị trên tàu, trên thân tàu phần sàn tàu có vách ngăn chia thành 3 khoang chính.
Khoang giữa là khoang chứa lực lượng đổ bộ và trang thiết bị vận tải.
Khoang cuối thân tàu là khoang động lực, bao gồm các động cơ chính và các động cơ phụ trợ, trang thiết bị bảo vệ và chống vũ khí hủy diệt lớn, đồng thời là hệ thống trang thiết bị đảm bảo duy trì sự sống và các hoạt động trên tàu.
Khoang ở mũi tàu có khoang riêng dành cho thủy thủ đoàn, các phân đội lính thủy đánh bộ cơ động trên tàu, để duy trì mọi hoạt động công tác và sinh hoạt cũng như nghỉ ngơi, trên tàu được trang bị hệ thống thông gió, làm mát và cách âm. 
Tiếp nhận lên tàu và đổ bộ xuống tàu binh lực và vũ khí trang bị thông qua hai cửa lật kiêm sàn cầu ở đuôi tàu và mũi tàu.  
Tàu đệm không khí không có bộ phận neo, các tấm đệm mềm vách ngăn không khí đóng vai trò neo đậu khi ở trạng thái không hoạt động sẽ buông rủ xuống và tàu sẽ đậu tại chỗ.
Khi động cơ hoạt động, các tấm đệm vách không khí mềm sẽ được nhấc lên bằng sức ép không khí lên đến 6m so với mặt đất dựa vào lực đẩy của không khí bị nén dưới đáy thân tàu. Khi 3 động cơ cánh quạt đẩy hoạt động đồng thời với hoạt động của bánh lái gió, tàu có thể chạy với tốc độ rất cao. 
Một trong những vị trí thú vị nhất của tàu là buồng lái và trung tâm chỉ huy tàu. không có bánh lái như các tàu thông thường khác, trên tàu lắp bộ phận điều khiển kiểu máy bay, bản thân người lái tàu cũng được gọi là Phi công, và chỉ có 1 người lái.
Tên gọi phi công của người lái có thể nêu lên đặc điểm đặc biệt của điều khiển tàu đệm khí. Do tính cơ động của tàu rất cao đòi hỏi người lái phải có rất nhiều kinh nghiệm và phản ứng nhanh nhạy, chính xác nhằm đảm bảo an toàn cho hải trình.
Từ trung tâm chỉ huy tàu có 5 màn hình TV và các display, các thiết bị điện tử kiểm soát và thông báo mọi hoạt động của bộ phận chuyển động, động cơ nâng và động cơ đẩy thân tàu, trạm nguồn và các trang thiết bị phụ trợ khác. 
Một trong những thành tựu nổi bật của tàu đệm khí Zubr (Bò rừng) là tốc độ hải hành rất cao, khả năng vận tải lớn và khả năng cơ động trên mặt nước cũng như trên cạn. Theo khẳng định của các chuyên gia hàng hải, Zubr đã đi trước thời gian rất nhiều năm.
Thực tế các cuộc diễn tập thực binh cho thấy, Zubr thật sự là một mẫu tàu đổ bộ quan trọng trong các hoạt động tác chiến ven bờ và hải đảo, với tốc độ siêu cao, Zubr có thể nhanh chóng tiếp cận khu vực cần đánh chiếm trên một hải trình dài.
Trong giai đoạn từ năm 1985 – 2000. Liên bang xô viết đã đóng 8 tàu đổ bộ đệm khí mẫu Zubr, ba chiếc được giao cho hạm đội Biển đen của Liên bang Nga, những chiếc còn lại theo hiệp định được chia cho hải quân Ucraina là "Kramatorsk", "Gorlovka", "Donetsk", "Donetsk" và "Ivan Bagun".
Hai tàu sau này được hoàn thiện bởi nhà máy đóng tàu More thuộc Feodosia .
Rất đáng tiếc rằng, trong học thuyết quân sự hải quân hiện đại của cả Liên bang Nga và Ucraina đều không có phương hướng sử dụng loại tàu đệm khí hiện đại, có công suất lớn và đắt giá này.
Chính vì vậy, ngày 24 tháng 1 năm 2000 tại Athens giữa Liên bang Nga, Ucraina và Hy lạp đã ký kết một hợp đồng bán các tàu đổ bộ lớp Zubr cho Hải quân Hy Lạp. Trong vòng hai năm, Athens đã nhận 4 tàu đổ bộ lớp Zubr.
Các tàu được mang tên mới là: «Keffallonia», «Kerkyra», «Kakynthos», «Ithaki». Những chiếc tàu đổ bộ hiện đại này đã đưa hải quân Hy lạp sang một trang sử mới. Người Hy Lạp vô cùng tự hào với những chiếc tàu họ mua được. Hy Lạp đã đưa một chiếc ra trưng bầy trong triển lãm phương tiện vũ khí quân sự tại Athens năm 2000 và tàu đã được nhận Huy chương đồng. 
Tàu đổ bộ đệm khí lưỡng cư dự án 12322 Zubr. «Зубр» có: Lượng rãn nước - 480 tấn; Chiều dài - 57,3 m;Chiều rộng - 25,6m; Ngấn nước - 1,5m;
Động lực – ba động cơ tuốc bin khí (động cơ đẩy) M-71 có công suất 36000 sức ngựa, 4 động cơ nén không khí có công suất 24000 sức ngựa.  
Tốc độ hải trình cao – 60 hải lý/h; Tầm xa hải trình với tốc độ 60 hải lý/h là 300 hải lý, với tốc độ 50 hải lý/h là 1000 hải lý;
Thủy thủ đoàn theo biên chế: 4 sĩ quan; 27 thủy thủ;
Tàu đệm khí được trang bị khá mạnh mẽ: 2 tên lửa chống tàu 140 mm - МS-227 Ogol (Ngọn Lửa) hoặc có thể lắp các loại tên lửa hành trình khác…; 4 tên lửa phòng không tầm thấp Igla; 2 súng tự động nòng xoay АК-630М ;
“Bò rừng” có khả năng đổ bộ với số lượng lớn
Phương án 1: 3 chiếc xe tăng Т-80 với 80 lính thủy đánh bộ;
Phương án 2: 10 xe thiết giáp BTR;
Phương án 3: Lính thủy đánh bộ đầy đủ trang bị  - 360 binh sĩ.
Theo kế hoạch đã được công bố, hiện Hải quân Trung Quốc đang nỗ lực đóng 2 tàu đệm khí Zubr theo thiết kế mua được của Ukraine, 4 chiếc theo đơn đặt hàng sẽ được Nga hoàn thiện trong giai đoạn tới. Như vậy, tương lai gần Trung Quốc sẽ có 6 tàu đệm khí đổ bộ siêu mạnh.
Trịnh Thái Bằng