Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2014

Những tàu tên lửa Việt: Bầy sói bao vây con mồi kềnh càng.

 

Những tàu tên lửa Việt: Bầy sói bao vây con mồi kềnh càng
Những chiếc tàu tên lửa của hải quân Việt Nam như bầy sói bao vây con mồi là những chiếc tàu chiến to lớn và kềnh càng, khó xoay xở của đối phương.
Nếu như trong tác chiến hải quân, những chiếc tàu to lớn thể hiện uy lực ở việc trang bị đồng bộ, có thể tác chiến dài ngày trên biển thì những chiếc tàu nhỏ với khả năng cơ động cao lại đóng vai trò là những đòn đánh nhanh, hiểm.
Hải quân Việt Nam chú trọng phát triển các tàu chiến, tàu phóng tên lửa vừa và nhỏ có tốc độ cực nhanh, tác chiến linh hoạt và hiệu quả với động cơ hiệu suất cao. Những chiếc tàu này như bầy sói bao vây con mồi là những chiếc tàu chiến to lớn và kềnh càng, khó xoay xở của đối phương. Đây là sự kế thừa nghệ thuật quân sự Việt Nam “lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít đánh nhiều”.
Tàu tên lửa lớp Molniya (Project 1241.8)
Năm 2006, hợp đồng xây dựng cho Việt Nam các tàu tên lửa dự án 1241.8 đã được Việt Nam và Tập đoàn xuất khẩu vũ khí Nga Rosoboronexport ký kết. Hợp đồng bao gồm việc cung cấp cho Việt Nam hai tàu tên lửa dự án 1241.8 và xây dựng tại Việt Nam 10 tàu như vậy với sự hỗ trợ của Nga. Tổng giá trị của hợp đồng lên tới 1 tỷ USD.
Hai chiếc tàu tên lửa thuộc dự án 1241.8 đã được hoàn thành và bàn giao cho Hải quân nhân dân Việt Nam trong năm 2007 (hai tàu mang số hiệu HQ-375 và HQ-376).
1 / 9
 
Tàu tên lửa Molnya Project 1241.8 được thiết kế để tiêu diệt tất cả các loại tàu chiến, tàu vận tải, cũng như tàu đổ bộ của đối phương. Molnya có lượng giãn nước toàn tải 550 tấn, dài 56,1m, rộng 10,20m, mớm nước (toàn tải) 2,14m, vận tốc 35 hải lý/giờ. Thủy thủ đoàn vận hành tàu khoảng 40 người.
Tuy tàu chỉ có kích cỡ nhỏ, nhưng hỏa lực con tàu đủ sức đánh chìm những chiến hạm lớn hơn nó gấp nhiều lần. Molnya được trang bị hệ thống tên lửa hành trình chống tàu Kh-35 Uran-E với 16 đạn tên lửa được bố trí ở 4 bệ phóng 2 bên sườn tàu. Loại tên lửa này có khả năng đánh chìm chiến hạm có lượng giãn nước cỡ 5.000 tấn.
1 / 2
 
Ngoài hệ thống tên lửa Uran-E, tàu Molnya trang bị một pháo hạm tự động AK-176M cỡ nòng 76,2mm, 2 pháo phòng không cao tốc Ak-630M và 12 tên lửa đối không tầm thấp Igla.
Về thiết bị điện tử, tàu Molnya được trang bị hệ thống radar mạng pha 3 chiều Pozitiv-ME1 trinh sát mục tiêu trên không và trên biển. Radar có một số tính năng gồm: phát hiện mục tiêu có diện tích phản xạ radar 1m2 bay ở độ cao 1km từ cự ly 110km; phát hiện tên lửa chống tàu có diện tích phản xạ radar 0,03m2 bay độ cao 15m ở cự ly 15km; theo dõi 15 mục tiêu đồng thời và khóa 3-5 mục tiêu cùng lúc.
Ngoài ra, tàu còn trang bị hệ thống radar trinh sát mặt nước, hệ thống điều khiển hỏa lực (pháo, tên lửa), hệ thống đối phó điện tử…
Với 12 tàu tên lửa Molnya, Hải quân Nhân dân Việt Nam sẽ được tăng cường đáng kể sức mạnh giúp bảo vệ vững chắc biển đảo, nhất là quần đảo Trường Sa.
Tàu tên lửa cỡ nhỏ lớp BPS 500
Đây là loại tàu được Nga thiết kế nhưng khâu sản xuất và lắp ráp được tiến hành tại Việt Nam. Tàu dài 62m, rộng 11m, độ mớm nước 2.5 m, độ giãn nước 517 tấn, tốc độ 32 hải lý/giờ. Theo các thông tin khác nhau thì hiện nay Việt Nam có 2 tàu thuộc lớp này mang số hiệu HQ-381, HQ-383. Tuy nhiên, các hình ảnh về tàu HQ-383 rất ít khi thấy xuất hiện.
1 / 3
 
Hệ thống vũ khí trên tàu bao gồm: 8 Kh-35 Uran-E, 1 khẩu 76,2 ly/59cal DP, 1 khẩu AA 30 ly AK-630 , 2 khẩu MG 12,7 ly , ống phóng ngư lôi cùng hỏa tiễn chống tàu ngầm RBU-120.
BPS 500 được trang bị radar Positiv-E/Cross Dome có thể định vị trên không và dưới biển và hệ thống phóng mồi bẫy 2 PK.
1 / 3
 
Việc trang bị những tàu tên lửa cỡ nhỏ là một hướng đi sáng tạo của Việt Nam. Cùng một chi phí sản xuất chế tạo thay vì một chiến hạm cỡ lớn Việt Nam có được nhiều tàu tên lửa có thể đảm nhận được nhiệm vụ cùng lúc tại nhiều địa điểm khác nhau.
Những tàu chiến này có khả năng xoay xở nhanh, có thể bí mật áp sát, rồi đồng loạt tấn công các tàu chiến lớn hơn từ nhiều hướng khác nhau. Trong trường hợp này hỏa lực của các tàu lớn cồng kềnh rất khó để phát huy hết hiệu quả. 
Lịch sử quân sự Việt Nam đã cho thấy phương châm lấy nhỏ đánh lớn, sáng tạo, bí mật, bất ngờ đã làm nên chiến thắng của Việt Nam trước nhiều kẻ thù hùng hậu hơn nhiều. Chiến tranh du kích Việt Nam đã trở thành thương hiệu trên toàn thế giới. 
Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển nhưng nghệ thuật quân sự độc đáo này vẫn có thể tích hợp vào bản thân nó những vũ khí hết sức hiện đại.
Theo Trí Thức Trẻ

Thứ Ba, 8 tháng 7, 2014

Siêu vũ khí kết hợp “tia chớp” và “hổ mang chúa” hứa hẹn bao quát Biển Đông.

 

Siêu vũ khí kết hợp “tia chớp” và “hổ mang chúa” hứa hẹn bao quát Biển Đông
Sự kết hợp giữa” tia chớp” Yakhont/Brahmos và “hổ mang chúa” Su-30 tạo ra một đòn đánh mạnh mẽ, gần như tức thì với vùng biển bao la.
Tên lửa Yakhont/Brahmos có thể phóng từ các máy bay tiêm cường kích như Su-30, Su-33, MiG-29…Đây thực sự là một đòn đánh hết sức linh hoạt.
Khi phóng từ trên bờ, tên lửa Yakhont/Brahmos chỉ có thể đạt tầm xa 300 km tính từ bờ biển. Các tàu mặt nước, tàu ngầm bị giới hạn bởi tốc độ di chuyển khá chậm trên biển nên khi phóng từ các tàu chiến, tên lửa sẽ bị hạn chế phần nào tính năng, nhất là khi phải bảo vệ vùng biển rộng lớn.
 Tàu tên lửa Ezzat có tốc độ lớn nhất thế giới hiện nay 41 hải lý/h (76 km/h)
Tàu tên lửa Ezzat có tốc độ lớn nhất thế giới hiện nay 41 hải lý/h (76 km/h)
Trong khi đó, biến thể phóng từ máy bay có thể khắc phục được tất cả nhược điểm này.                                                                                                                                        Với thời gian phản ứng nhanh, tầm hoạt động của các loại máy bay dòng Su, MiG lên đến 1.500-2500 km, tên lửa Yakhont phóng từ máy bay có thể bao quát được cả một vùng đại dương bao la.
Các máy bay này chỉ cần đứng ngoài vùng hỏa lực của đối phương và tung ra đòn tấn công là có thể tiêu diệt được các tàu chiến.
 Quỹ đạo của Yakhont/Brahmos phóng từ máy bay
Quỹ đạo của Yakhont/Brahmos phóng từ máy bay
Phiên bản Yakhont phóng từ máy bay không cần động cơ phóng - tăng tốc mà lợi dụng luôn vận tốc của máy bay mang do đó khối lượng chỉ 2500 kg so với 3000 kg khi có cả động cơ phóng - tăng tốc. Chiều dài của phiên bản lắp đặt trên máy bay: 6.100mm trên Su-30 và 8.900mm trên Su-33.
Tên lửa Brahmos phiên bản phóng trên không của Ấn Độ có 2 loại, tên lửa Brahmos-1 được nghiên cứu chế tạo riêng cho máy bay chiến đấu Su-30MKI, năm 2013 bắt đầu thử nghiệm, tầm phóng vượt xa 300 km, bán kính tác chiến của Su-30MKI đạt 1.500 km, hầu như có thể vươn tới hầu hết các khu vực của Ấn Độ Dương.
Tên lửa Brahmos-3 phát triển cho máy bay chiến đấu hải quân MiG-29K đang được nghiên cứu phát triển, trọng lượng nhẹ hơn, tầm phóng đạt 350 km.
1 / 7
 
Máy bay Su-27, Su-30MK2, Su-30MK2V của Việt Nam là những máy bay tiêm cường kích được chế tạo chuyên dùng cho nhiệm vụ tác chiến trên biển. Su-30MK2 vừa thực hiện tuần tra Trường Sa nhân dịp 30-4, có thể mang 5.270 kg nhiên liệu (không tính nhiên liệu trong các thùng chứa phụ), thực hiện liên tục nhiệm vụ trong 4,5 giờ với phạm vi 3.000 km. 
Nếu được tiếp nhiên liệu trên không, nó có thể duy trì 10 giờ bay nhiệm vụ với tầm bay là 8.000 km. Vận tốc cực đại lên đến 2.120 km/h. Nếu bay ra và về không tiếp nhiên liệu thì Su-30MK2 có thể tác chiến trên quần đảo Trường Sa trong vòng 45 phút với đầy đủ vũ khí.
Hiện chưa thấy thông tin nào thể hiện Yakhont đã được trang bị trên các máy bay của Không quân Việt Nam. Nếu được sở hữu loại tên lửa này, các máy bay Su-27, Su-30 của Việt Nam sẽ gia tăng đáng kể sức chiến đấu, đảm bảo bao quát toàn bộ khu vực biển Đông.
Theo Tri thức trẻ

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

“Tia chớp trên biển” diệt hạm siêu thanh: Việt Nam có, Trung Quốc không.

“Tia chớp trên biển” diệt hạm siêu thanh: Việt Nam có, Trung Quốc không
Tên lửa Yakhont được xem là sát thủ diệt hạm. Hiện nay các nước sở hữu Yakhont hoặc Brahmos là Nga, Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia, Syria. 
Với tốc độ cao tới 750 m/s (2,6M, hơn 2.700 km/h), khả năng bay sát mặt biển (cách mặt biển 5-15 m) và công nghệ tàng hình (công nghệ Stealth) nên hầu như không một hệ thống phòng thủ hạm tàu nào có thể ngăn chặn được Yakhont. Phần chiến đấu 200 kg có thể tiêu diệt hầu hết các loại tàu chiến chỉ với một quả đạn.
Tên lửa Yakhont hay còn gọi là Oniks (NATO gọi là SS-N-26), do Liên hiệp NPO Mashinostroyeniya phát triển năm 1997, là tên lửa hành trình chống hạm siêu thanh có tốc độ cao nhất thế giới hiện nay, tầm bắn đến 300 km.
Loại tên lửa Việt Nam khiến Trung Quốc run sợ
Tổ hợp Bastion sử dụng tên lửa Yakhont của Hải quân Việt Nam
Hiện nay các nước sở hữu Yakhont hoặc Brahmos là Nga, Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia, Syria. Trung Quốc được cho là rất muốn sở hữu loại tên lửa này nhưng phía Nga từ chối bán cho Trung Quốc do lo ngại phía nước này sẽ dùng để gây ảnh hưởng tới các nước khác hoặc sao chép trái phép.
 Tên lửa Yakhont và container chứa
Tên lửa Yakhont và container chứa
Tên lửa Brahmos là một biến thể khác của Yakhont, sản phẩm hợp tác giữa Nga và Ấn Độ, lấy theo tên viết tắt của hai con sông: Brahmaputra của Ấn Độ và Moskva của Nga.
 Tên lửa Brahmos, sản phẩm hợp tác của Nga và Ấn Độ
Tên lửa Brahmos, sản phẩm hợp tác của Nga và Ấn Độ
Tên lửa Yakhont có chiều dài 8,9 m, đường kính 0,72 m, khối lượng phóng 3.000 kg, sử dụng hệ dẫn kết hợp quán tính và radar chủ động, động cơ phóng - tăng tốc sử dụng động cơ nhiên liệu rắn, động cơ hành trình sử dụng động cơ phản lực không khí dòng thẳng.
 Ảnh 4: Cấu tạo tên lửa Yakhont gồm: chụp mũi, đầu tự dẫn, thiết bị hỗ trợ điều khiển, phần chiến đấu, phần nhiên liệu hành trình, bộ truyền động bánh lái, động cơ hành trình dòng thẳng, tầng phóng- tăng tốc
Cấu tạo tên lửa Yakhont gồm: chụp mũi, đầu tự dẫn, thiết bị hỗ trợ điều khiển, phần chiến đấu, phần nhiên liệu hành trình, bộ truyền động bánh lái, động cơ hành trình dòng thẳng, tầng phóng- tăng tốc

 Ra-đa tự dẫn
Radar tự dẫn
 Động cơ phản lực không khí dòng thẳng
Động cơ phản lực không khí dòng thẳng
Đặc điểm nổi bật của Yakhont là: Tầm bắn ngoài đường chân trời; tác chiến hoàn toàn tự hoạt (nguyên lý “bắn-quên”); quỹ đạo bay linh hoạt (“thấp”, “cao-thấp”); tốc độ siêu âm ở mọi giai đoạn bay; chuẩn hóa hoàn toàn cho nhiều phương tiện mang (các lớp tàu nổi chủ lực, tàu ngầm và bệ phóng trên bờ); tàng hình đối với radar hiện đại (công nghệ Stealth).
 Tên lửa Yakhont/Brahmos được phóng từ bệ phóng cố định và cơ động trên bờ, từ máy bay, tàu mặt nước và tàu ngầm
Tên lửa Yakhont/Brahmos được phóng từ bệ phóng cố định và cơ động trên bờ, từ máy bay, tàu mặt nước và tàu ngầm
Tên lửa có thể bay ở 2 chế độ: độ cao nhỏ với tầm bắn hiệu quả 120 km hoặc kết hợp “cao-thấp” với tầm bắn đến 300 km. Ở chế độ bay kết hợp, tên lửa bay hành trình ở độ cao đến 14.000 m và 10-15 m ở giai đoạn bay cuối. Ở chế độ bay ở độ cao nhỏ, tên lửa bay hoàn toàn ở độ cao đến 15 m.
Tốc độ tối đa của tên lửa ở độ cao lớn là 750 m/s, ở độ cao nhỏ là 680 m/s. Với độ cao và tốc độ này, các loại radar trên các tàu chiến rất khó phát hiện, nếu có phát hiện cũng không có loại vũ khí nào có thể ngăn chặn được.
 Quỹ đạo tên lửa Yakhont với 2 chế độ: độ cao nhỏ và kết hợp “cao-thấp”
Quỹ đạo tên lửa Yakhont với 2 chế độ: độ cao nhỏ và kết hợp “cao-thấp”
Hiện nay, để vượt qua được hệ thống phòng thủ trên tàu của đối phương, các tên lửa diệt hạm thường có quỹ đạo bay sát mặt biển. Với độ cao quỹ đạo tầm 5- 15 m, các radar trên tàu hầu như bị tê liệt do sự phản xạ tín hiệu bị nhiễu rất mạnh bởi sóng biển.
Tuy nhiên để có được quĩ đạo này, cần có trình độ hết sức hiện đại về kỹ thuật đo cao, điều khiển, khí động học. Với sóng biển cao 3-4 m, vận tốc bay tên lửa lớn hơn 680 m/s chỉ cần xử lý chậm 1/10.000 s hoặc sai số nhỏ là tên lửa sẽ đâm xuống mặt biển.
 Với độ cao quỹ đạo nhỏ, vận tốc lớn và công nghệ tàng hình Yakhont vượt qua mọi hệ thống phòng thủ
Với độ cao quỹ đạo nhỏ, vận tốc lớn và công nghệ tàng hình Yakhont vượt qua mọi hệ thống phòng thủ
Theo Tri Thức Trẻ

Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2014

Việt Nam giải bài toán phòng không hạm như thế nào?


(Vũ khí) - Khu vực biển Đông khiếm thiếu khả năng phòng không hạm khi không một nước đông nam Á nào có một tàu khu trục phòng không thực thụ.

Khinh hạm FREMM của Pháp-Italia có khả năng phòng không khá mạnh
Khinh hạm FREMM của Pháp-Italia có khả năng phòng không tương đối mạnh
Khả năng phòng không của chiến hạm Việt Nam
Xét về tàu mặt nước, Hải quân Việt Nam hiện chỉ được xếp vào loại trung bình trong khu vực. Trước đây, chúng ta được trang bị 5 tàu hộ vệ hạng nhẹ Petya (Project 159), chỉ là loại tàu chống ngầm thuần túy. Hiện nay, Việt Nam đã đặt mua 4 tàu hộ vệ đa năng lớp Gepard 3.9 của Nga, trong đó 2 tàu đã được bàn giao, 2 tàu đang chế tạo.
Tàu hộ vệ lớp Gepard 3.9 có chiều dài 102,4 mét, rộng 14,4 mét, mớn nước 5,6 mét, trọng lượng giãn nước toàn tải 2.200 tấn, tốc độ tối đa 29 hải lý/giờ (53 km/giờ), bán kính tác chiến 4.000 km, thời gian hoạt động liên tục trên biển 15 ngày, và thủy thủ đoàn 98 người. 
Vũ khí chủ lực của tàu là 8 quả tên lửa hạm đối hạm Kh-35 Uran E, dẫn đường bằng quán tính và radar chủ động, với tầm bắn tối đa 130 km và tốc độ bắn tối đa là 0,9 Mach (gần 1.100 km/giờ). Ngoài ra, nó còn được trang bị hệ thống pháo hạm, phòng không, chống ngầm, … tiên tiến.
Tuy nhiên, hệ thống tên lửa phòng không của chiến hạm Gepard 3.9 Việt Nam cũng rất yếu khi nó chỉ được trang bị 8 tên lửa phòng không dẫn bằng laser M311 Sosna-R thuộc hệ thống CIWS Palma, chỉ có tầm bắn hiệu quả 10 km, tầm cao 5 km.
Tàu hộ vệ lớp Gepard 3.9, Project 11661E của Việt Nam
Tàu hộ vệ lớp Gepard 3.9, Project 11661E của Việt Nam
Ngoài ra, Việt Nam đã đặt đóng 2 tàu hộ vệ kiểu Sigma tại xưởng đóng tàu Gorinchem, hãng Damen. Tàu hộ vệ mà Việt Nam đặt mua thuộc loại Sigma 9814, là tàu hộ vệ hạng nhẹ có chiều dài 98m và rộng 14m, lượng giãn nước 1950 tấn, với số lượng thủy thủ gần 90 người. 
Vũ khí cơ bản của các chiến hạm SIGMA như sau: 2 cụm 4 ống phóng tên lửa chống hạm Exocet MM-40; hệ thống phóng thẳng đứng Silva-54 với 12 ống phóng tên lửa phòng không MICA; 2 giá, mỗi giá 4 ống phóng tên lửa phòng không tầm gần Mistral; 2 cụm 3 ống phóng 324mm ngư lôi chống ngầm B-515, pháo hạm Oto Melara 76mm, 2 khẩu súng máy 20mm.
Các chiến hạm Sigma Việt Nam có thể sẽ được trang bị tên lửa hạm đối hạm MM40 Block3 là phiên bản tên lửa chống hạm mới nhất của dòng tên lửa Exocet, do tập đoàn MBDA tại Pháp phát triển, được nghiên cứu, chế tạo dựa trên cơ sở tên lửa MM40 Block 2.
MM40 Block3 có tầm bắn tối đa 180km, tốc độ cận âm 0,9Mach, được thiết kế để tiêu diệt các tàu chiến mặt nước cũng như các mục tiêu ven biển. Điểm đặc biệt là nó có khả năng được dẫn đường bằng hệ thống định vị vệ tinh GPS và có khả năng tấn công cả các mục tiêu trên đất liền, ven bờ biển.
Khinh hạm kiểu Sigma 9813 của Indonesia
Khinh hạm kiểu Sigma 9813 của Indonesia
Tên lửa MM-40 Exocet Block3 có khả năng xuyên thủng mọi hệ thống phòng vệ của đối phương nhờ quỹ đạo bay phức tạp, độ cao bay thấp so với mực nước biển, cũng như áp dụng các biện pháp chống nhiễu mới.
Tàu Sigma được trang bị hệ thống chỉ huy kiểm soát TACTICOS và hệ thống truyền số liệu chiến thuật LINK-Y MK2; các hệ thống tìm kiếm/đo đạc bao gồm radar đối không/hải MW08, radar mảng pha điện tử đối không SMART-SMK2, radar điều khiển hỏa lực LIROD MK2 và sonar chủ/bị động trung tần; hệ thống trinh sát chi viện điện tử cùng với các ống phóng tên lửa nhử mồi và tên lửa gây nhiễu. 
Xét về tổng thể, tàu hộ vệ SIGMA hiện đại hơn và uy lực hơn chiến hạm Gepard của Nga trong biên chế của hải quân Việt Nam. Tuy nhiên, các hệ thống vũ khí; chỉ huy, kiểm soát; điều khiển hỏa lực; tác chiến điện tử; thông tin liên lạc… của SIGMA đều là sản phẩm của hãng Thales và MBDA của Pháp. Điều này sẽ gây nhiều khó khăn trong hiệp đồng, chia sẻ thông tin tác chiến đối với đại đa số các tàu chiến mua của Nga.
Về hỏa lực phòng không, Sigma 9814 được trang bị 12 tên lửa phòng không VL MICA chứa trong hệ thống phóng thẳng đứng (VLS) bố trí ngay phía sau ụ pháo Oto Melara. Tuy nhiên, khả năng phòng không của nó cũng không cao, tầm bắn 20km với mục tiêu cỡ lớn như máy bay trực thăng và 10km với mục tiêu là tên lửa hành trình đối hạm bay thấp.
Khinh hạm lớp Formidable của hải quân Singapore có khả năng phòng không mạnh nhất khu vực
Khinh hạm lớp Formidable của hải quân Singapore có khả năng phòng không mạnh nhất khu vực
Phòng không hạm là điểm yếu chung của hải quân khu vực
Có thể thấy, các chiến hạm mặt nước trên biển Đông đều có khả năng chống hạm khá mạnh với các loại tên lửa Exocet MM 40 của Malaysia, Việt Nam, RGM-84 Harpoon trang bị trên tàu chiến của Indonesia, Singapore, Thái Lan hay SS-N-25 Kh-35 UranE trên khinh hạm Gepard 3.9 của Hải quân Việt Nam…
Tuy nhiên, khả năng phòng không của các chiến hạm mặt nước của các nước đông nam Á rất tồi. Cơ bản các chiến hạm này đều thuộc dạng tàu hộ vệ, thiên về chống hạm, chống ngầm chứ không có tàu khu trục chuyên đảm nhận chức năng phòng không. Đây là điểm yếu lớn nhất, làm cho các quốc gia này đau đầu, vì giá của tàu khu trục thường rất đắt, có loại lên tới hàng tỷ USD.
Trừ khinh hạm Formidable của Singapore có khả năng phòng không khu vực, tầm xa với tên lửa Aster-30 (tầm phóng tới 120km), còn lại các tàu khác chỉ được trang bị các hệ thống phòng không dạng điểm, tầm ngắn và tầm trung như Sea Wolf, Mistral, MICA, RIM-7 Sea Sparrow, RIM-162 ESSM (Evolved Seasparrow Missile).
Với năng lực phòng không yếu kém, các tàu hộ vệ của hải quân đông nam Á không có cơ hội tiếp cận các máy bay chiến đấu Trung Quốc để tới tầm phóng hiệu quả của tên lửa phòng không, trước sự uy hiếp của các tên lửa chống hạm phóng từ máy bay, có tầm phóng hàng trăm km của Trung Quốc.
Các hệ thống phòng không tầm gần kiểu như Sea Wolf không thể chống được các máy bay chiến đấu mang tên lửa hành trình chống hạm
Các hệ thống phòng không tầm gần kiểu như Sea Wolf không thể chống được các máy bay chiến đấu mang tên lửa hành trình chống hạm
Thực tế này cho thấy, nếu một cuộc chiến diễn ra trên biển, Trung Quốc có nhiều lợi thế bởi các tiêm kích hạm hoặc tiêm kích chuyên đánh biển như JH-7, Su-30MKK, Su-35…, nhất là trong tương lai, khi tàu sân bay Trung Quốc hoàn thiện khả năng tác chiến thì lại càng nguy hiểm.
Hiện nay, các nước đông nam Á chỉ còn cách sử dụng các tiêm kích đánh biển để bảo vệ chiến hạm trước các máy bay chiến đấu Trung Quốc trong một cuộc chiến giả định tương lai. Tuy nhiên, Trung Quốc đang hoàn thiện lực lượng tàu khu trục phòng không rất mạnh để bảo vệ hạm đội của mình trước sự uy hiếp từ trên không.
Hải quân Trung Quốc đang sở hữu 3 loại tàu khu trục có hệ thống phòng không khu vực, tầm xa là khu trục hạm Type 051C với 48 quả tên lửa phòng không S-300FM (SA-N-20) của Nga, tầm phóng 150km; khu trục hạm Type 052C với 48 quả tên lửa phòng không nội địa HHQ-9, tầm phóng 200km; khu trục hạm Type 052D với 64 ống phóng tên lửa phòng không HHQ-9.
Hệ thống phòng không hạm S-300FM của Nga
Hệ thống phòng không hạm S-300FM của Nga
Việt Nam hiện cũng đang gặp phải khó khăn rất lớn trong việc nâng cấp khả năng phòng không của mình. Các hệ thống phòng không hạm hiện nay chỉ có phạm vi bảo vệ rất ngắn, độ cao tác chiến rất thấp nên các chiến hạm Gepard và Siagma sẽ trở nên yếu thế trước các máy bay chiến đấu mang tên lửa hành trình chống hạm tầm xa.
Hiện nay, Nga là nước có khả năng thiết kế các chiến hạm giá rẻ và cũng sở hữu hệ thống phòng không hạm S-300FM (phiên bản trên hạm của S-300). Tuy nhiên, hệ thống này của Nga lại thường được thiết kế trên các tuần dương hạm hạng nặng trên 10.000 tấn chứ không phải các khu trục hạm.
Tuy là một khách hàng quen thuộc của Nga nhưng Việt Nam cũng không có khả năng mua sắm các tuần dương hạm khủng lớp Slava hay Kirov của nước Nga, nên trong tương lai, để giải quyết bài toán phòng không Việt Nam sẽ phải cân nhắc lựa chọn một số khả năng, hoặc là mua hàng của châu Âu hoặc đặt đóng khu trục hạm của Nga, hoặc là hợp tác với Ấn Độ.
Việt Nam giải bài toán phòng không hạm như thế nào?
Hiện khinh hạm FREMM - một sản phẩm hợp tác giữa Tập đoàn đóng tàu DCNS của Pháp và Tập đoàn Fincantieri của Italia đang được 2 cường quốc hải quân này sử dụng có thể là một khả năng được xem xét. Việt Nam có thể bỏ qua khả năng tấn công mặt đất bằng tên lửa hành trình, chỉ mua phiên bản phòng không nhỏ hơn của loại tàu hộ vệ này.
Khinh hạm FREMM lớp Bergamini của hải quân Italia
Khinh hạm FREMM lớp Bergamini của hải quân Italia
Về tên lửa hành trình chống hạm, chiến hạm FREMM của hải quân Pháp có 2 cụm bệ phóng tên lửa hành trình chống tàu tầm xa MM-40 Exocet Block 3 đạt tầm 180km (8 quả), còn khinh hạm FREMM của hải quân Italia sử dụng 8 tên lửa hành trình chống tàu Otomat MK-2/A Block IV với tầm bắn 200km.
Về phòng không hạm, FREMM Pháp lắp đặt 16 ống phóng SYLVER A43 VLS, sử dụng tên lửa hạm đối không tầm trung Aster-15 (1,7-30km), còn  FREMM  Italia có khả năng phòng không hạm mạnh hơn, với hệ thống phóng thẳng đứng SYLVER A50 VLS để phóng cả 2 loại tên lửa đối không tầm trung/xa Aster-15 và Aster-30 (Aster-30 có tầm phóng 120km). 
Tuy nhiên, giá thành phiên bản phòng không của loại tàu này cũng không hề rẻ, thấp nhất cũng phải tầm trên 600 triệu USD/chiếc. Năm 2009, Hy Lạp từng đàm phán 1 hợp đồng mua 6 khinh hạm loại này với giá 3,45 tỷ USD nhưng không thành công. Còn Morocco đã từng mua 1 phiên bản chỉ có chức năng chống ngầm của FREMM với giá 492 triệu USD.
Một phương án khác là Việt Nam cũng có thể lợi dụng quan hệ tốt với Công ty đóng tàu Damen - Hà Lan để đặt mua phiên bản Sigma lớn hơn, được tích hợp hệ thống phòng không Aster-30. Xét về công nghệ, đây là phương án khả thi vì các hãng châu Âu thường sử dụng chung các tài nguyên vũ khí trong công nghiệp đóng tàu.
Liệu Damen có đóng được khu trục hạm hạng nặng dựa trên cơ sở khinh hạm Sigma?
Liệu Damen có đóng được khu trục hạm hạng nặng dựa trên cơ sở khinh hạm Sigma?
Tuy nhiên, phương án này cũng có những khó khăn vì Damen chưa hề có kinh nghiệm đóng tàu hộ vệ hoặc khu trục hạm hạng nặng lên tới 6-7000 tấn, hơn nữa, thiết kế kiểu châu Âu cũng rất đắt, trong khi tầm phóng của Aster-30 cũng không phải là quá xa. Chúng ta có thể thấy điều này trong hợp đồng mua 2 tàu hộ vệ Sigma 9814 của Việt Nam, có lượng giãn nước 2150 tấn (chưa bằng 1/3 lượng giãn nước của các khu trục hạm) nhưng giá lên tới 600 triệu USD.
Phương án thứ 3 là Việt Nam cũng có thể đặt riêng thiết kế khu trục hạm của Nga, tích hợp hệ thống phòng không hạm S-300FM (phiên bản xuất khẩu là Rif-M), Trung Quốc cũng đã đặt mua 2 tổ hợp này để trang bị trên các khu trục hạm Type 051C của mình. Tuy nhiên, giá thành phát triển thiết kế ban đầu một loại khu trục hạm giành riêng cho Việt Nam chắc chắn là không hề rẻ, chưa nói tới khả năng Trung Quốc có thể chọc ngoáy vào vấn đề này.
Phương án thứ 4 có tính khả thi cao nhất là hợp tác với Ấn Độ để phát triển tàu khu trục trên cơ sở khu trục hạm lớp Kolkata của hải quân nước này. Nó được trang bị hệ thống vũ khí toàn diện về khả năng tấn công và phòng thủ, đặc biệt là khả năng phòng không cực mạnh. Nếu hợp tác với Ấn Độ, các nước đông nam Á sẽ được lợi rất nhiều vì Ấn Độ cũng đang muốn kiềm chế Trung Quốc.
Về khả năng chống hạm, tàu được trang bị 4 hệ thống phóng thẳng đứng với 16 tên lửa hạm đối hạm BrahMos. Đây là loại tên lửa chống hạm có tốc độ nhanh nhất thế giới hiện nay (trên Mach 3), với tầm bắn lên đến 300km. Với khả năng tấn công cực kỳ linh hoạt, BrahMos thực sự là cơn ác mộng cho bất kỳ tàu chiến nào.
Mô hình thiết kế khu trục hạm lớp Kolkata
Mô hình thiết kế khu trục hạm lớp Kolkata
Về khả năng phòng không và phòng thủ tên lửa, tàu khu trục lớp Kolkata sử dụng 3 loại tên lửa siêu âm khác nhau cho nhiệm vụ chống máy bay, đánh chặn tên lửa đạn đạo và tên lửa chống hạm với đủ tầm cao, tầm trung và tầm thấp. Bất kỳ tên lửa chống hạm, hay máy bay chiến đấu nào trước khi uy hiếp tàu khu trục lớp Kolkata phải vượt qua 3 hệ thống đánh chặn này.
Về đánh chặn tầm xa, tàu sử dụng 8 hệ thống phóng thẳng đứng VLS cho tên lửa đánh chặn tầm xa AAD, một biến thể của hệ thống phòng thủ tên lửa ADD trên đất liền (vận tốc 4,5Mach), do Ấn Độ tự lực phát triển. Loại tên lửa này có tầm bắn lên đến 200km và có khả năng đánh chặn cả tên lửa đạn đạo.
Về đánh chặn tầm trung, tàu sử dụng 48 tên lửa đánh chặn Barak-8 với tầm bắn 70km, tên lửa có khả năng hoạt động độc lập rất cao và gần như không phải phụ thuộc vào hệ thống nhắm mục tiêu hay dẫn đường của bệ phóng. Ở tầm ngắn, tàu sở hữu 32 tên lửa đánh chặn Barak-1 với tầm bắn 12 km.
Cả 4 phương án trên đều có tính khả thi và Việt Nam có thể đàm phán với các đối tác để mua được, nhưng vấn đề mấu chốt là giá cả của các loại chiến hạm này vượt quá tầm với của nước ta. Để có được một cặp khu trục hạm cùng với các loại tên lửa, đạn dược, Việt Nam có thể phải chi thấp nhất là 1,2-1,3 tỷ USD, đây là gánh nặng quá lớn đối với ngân sách quốc phòng eo hẹp của ta.
Hiện nay, phương án khả thi nhất là Việt Nam phải liên kết với 1 vài nước trong khu vực có cùng điểm yếu như Indonesia, Malaysia…, xây dựng một kế hoạch phát triển lực lượng tàu khu trục đồng bộ với một đối tác duy nhất, thực sự mong muốn kiềm chế Trung Quốc là Ấn Độ. Như vậy, mới có thể làm giảm chi phí ban đầu hoặc giá thành mua sắm, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia
Kỳ sau: Tương quan tàu mặt nước khu vực đông Á
  • Thiên Nam