Thứ Bảy, 4 tháng 8, 2012

Kỷ niệm 48 năm Hải quân nhân dân Việt Nam đánh thắng trận đầu: Ký ức người trong cuộc


QĐND - Chưa đầy 10 năm sau khi thành lập, lực lượng tàu mặt nước Hải quân đã sát cánh cùng quân, dân miền Bắc lập nên chiến công vang dội ngày 2 và 5-8-1964. Đây là thành quả của tinh thần dám đánh, biết đánh và quyết đánh thắng của bộ đội Hải quân mặc dù trang bị vũ khí còn nhiều thiếu thốn và chênh lệch so với kẻ thù. Nhân kỷ niệm 48 năm Hải quân nhân dân Việt Nam đánh thắng trận đầu (5-8-1964/5-8-2012), chúng tôi đã có dịp gặp lại một số nhân chứng để làm rõ hơn ý nghĩa của sự kiện lịch sử này.

Tàu của Vùng 4 Hải quân sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ. Ảnh: Duy Khánh

Một niềm tin chiến thắng…

Chúng tôi về thị trấn Sóc Sơn, TP Hà Nội vào một ngày cuối tháng 7 để tìm gặp Đại tá Lê Văn Chừng - một trong 4 thuyền trưởng đầu tiên của Hải quân nhân dân (HQND) Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài và là người trực tiếp tham gia trận chiến đấu ngày 5-8-1964. Đã trải qua 3 cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc (chống Pháp, chống Mỹ và biên giới Tây Nam) nhưng có lẽ trận đầu đánh thắng là một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Trong trận thử lửa ngày 5-8-1964, ông là thuyền trưởng - người chỉ huy Tàu 225 săn ngầm cơ động vòng tránh, đánh trả quyết liệt không quân Mỹ trên vùng biển Hạ Long. Chính khẩu pháo 25mm trên tàu 225 đã bắn cháy 1 chiếc máy bay Mỹ buộc tên giặc lái An-vơ-rét phải nhảy dù xuống biển và bị bắt ngay sau đó.

Trong căn nhà nhỏ được sắp xếp gọn gàng, Đại tá Lê Văn Chừng đón chúng tôi nồng ấm như những đồng đội một thời. Ở cái tuổi xưa nay hiếm nhưng ông vẫn tráng kiện và minh mẫn. Có lẽ đó là nhờ vào sự rèn luyện của ông suốt thời trai trẻ. Khi được hỏi về trận đầu đánh thắng, ký ức của một thời oanh liệt hiện về trước mắt ông như thước phim quay chậm.

Đại tá Lê Văn Chừng kể: Những ngày cuối tháng 7 đầu tháng 8-1964, đế quốc Mỹ có nhiều hành động khiêu khích, bắn phá ở miền Bắc nước ta. Ngày 2-8-1964, tàu khu trục Ma-đốc đã xâm phạm vùng biển miền Bắc và bị lực lượng tàu phóng lôi của Bộ đội Hải quân đánh đuổi ra khỏi vùng biển của ta. Nhận định tình hình đế quốc Mỹ sẽ đưa máy bay ra đánh phá miền Bắc, Trung ương Đảng và Bộ Chính trị ra chỉ thị cho tất cả các lực lượng tăng cường cảnh giác, SSCĐ, phá tan âm mưu đánh phá miền Bắc của không quân Mỹ… Hôm đó, ngày 5-8-1964, trời biển Hạ Long trong xanh, yên tĩnh lạ thường. Từng đoàn thuyền của ngư dân vẫn tấp nập ra khơi khai thác hải sản. Các tàu của Tiểu đoàn 200 đã được lệnh cơ động ra khỏi cảng chuẩn bị chiến đấu. Tàu 225 của chúng tôi lúc đó đang làm nhiệm vụ trực ban tại quân cảng.

Khoảng 14 giờ 40 phút, một tốp máy bay Mỹ gồm 8 chiếc ầm ầm lao tới và bất ngờ phóng rốc-két xuống khu trú đậu của tàu hải quân ta. Cuộc tập kích bất ngờ của địch làm 3 tàu tuần tiễu của ta bị trúng đạn. Máy bay địch tiếp tục xuất hiện, các loại hỏa lực của ta dưới tàu, trên bờ đồng loạt nổ súng đánh trả quyết liệt.

Tàu tên lửa thuộc Vùng 4 Hải quân huấn luyện trên biển. Ảnh: Duy Khánh

Phán đoán máy bay địch sẽ bổ nhào theo từng đợt, tôi ra lệnh cho Tàu 225 cơ động ra khỏi quân cảng sẵn sàng đón đánh. Cuộc chiến đấu ngày càng diễn ra ác liệt. Trong khói bom mù mịt, các vị trí trên tàu phối hợp nhịp nhàng nhả đạn. Cùng chia lửa với các tàu hải quân là các trận địa của phòng không, DQTV miền Bắc. Hàng loạt đạn của ta bắn về hướng máy bay đang bổ nhào cắt bom. Một tiếng nổ lớn vang lên, 2 chiếc máy bay Mỹ trúng đạn, một chiếc tan xác cùng tên giặc lái, chiếc còn lại bốc cháy buộc viên phi công nhảy dù xuống biển. Đó là tên giặc lái Mỹ An-vơ-rét... Sau chiến thắng, Tàu 225 cùng nhiều cá nhân được thưởng Huân chương Chiến công các hạng. Riêng Thuyền trưởng Lê Văn Chừng được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba...

Nhắc đến chiến công ngày 5-8-1964, Đại tá Lê Văn Chừng không khỏi bùi ngùi nhớ lại những khoảnh khắc đau thương khi đồng chí, đồng đội ở các tàu bạn bị thương, hy sinh. Giọng ông chùng xuống: Những đồng chí bị thương và hy sinh trong trận đánh đó hầu hết tuổi đời còn rất trẻ. Họ đã hy sinh để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Điều quan trọng nhất là sự hy sinh của họ cùng với chiến công trong trận đánh đã khẳng định tinh thần dám đánh, biết đánh và quyết đánh thắng của HQND Việt Nam, đập tan âm mưu của địch dùng không quân để phá hoại miền Bắc và các căn cứ của hải quân ta.

… và một tinh thần quả cảm

Trở về Hải Phòng, chúng tôi được gặp ông Trương Thế Hùng - người đã được lịch sử ghi danh như một trong những huyền thoại sống về rà phá thủy lôi trên sông, biển miền Bắc. Ông là người trực tiếp chuẩn bị ngư lôi cho Phân đội 3, Đoàn 135 đánh đuổi tàu khu trục Ma-đốc của Mỹ ra khỏi vùng biển miền Bắc nước ta ngày 2-8-1964. Hôm nay, ông đến Bảo tàng Hải quân để nói chuyện với thế hệ trẻ về trận đầu đánh thắng cách đây 48 năm. Ở tuổi 83 mà ông vẫn nhớ rõ từng chi tiết của trận đánh ngày hôm đó.

Ông nói với chúng tôi: "Đó là một tinh thần chiến đấu tuyệt vời, quả cảm của cán bộ, chiến sĩ 3 tàu phóng lôi 333, 336 và 339. Nếu so sánh tương quan lực lượng thì các tàu của ta quá nhỏ bé so với tàu địch. Tàu khu trục Ma-đốc mang ký hiệu 731 được trang bị 6 khẩu đại bác 127mm, 12 pháo 40mm, 5 giàn ngư lôi, bom chìm, bom phóng và cả sự yểm trợ của không quân. Trong khi đó, mỗi tàu của ta chỉ được trang bị 2 quả ngư lôi và súng máy 14,5mm cùng súng bộ binh".

Ông Hùng nói tiếp: "Trong trận đánh đó, chúng ta đã tìm mọi cách để tiếp cận đánh địch. Địch tăng cường máy bay yểm trợ, đồng thời các họng pháo trên tàu bắn dữ dội về phía các tàu phóng lôi. Trong thế trận không cân sức, máy tàu 339 bị trúng đạn, khói bốc lên mù mịt; tàu 336 bị trúng rốc-két, Thuyền trưởng Nguyễn Văn Tự hy sinh. Mọi loại hỏa lực tập trung về tàu 333. Một loạt đạn đã làm vỡ quả ngư lôi bên trái nhưng tàu 333 vẫn tăng tốc, tìm cách tiếp cận tàu Ma-đốc, vừa dùng súng bắn quét lên mặt boong vừa phóng ngư lôi".

Tàu của Hải quân nhân dân Việt Nam trong trận đánh ngày 5-8-1964. Ảnh tư liệu

Để minh chứng cho tinh thần dũng cảm tiến sát tàu địch của các tàu thuộc Phân đội 3, ông Hùng lấy từ trong túi ra một đầu đạn do tàu Ma-đốc bắn găm vào ống phóng ngư lôi của ta mà ông lấy được và cất giữ từ hôm đó, khi các tàu chiến thắng trở về. Chiếc đầu đạn mà ông gìn giữ như kỷ vật thiêng liêng suốt hơn 48 năm qua, nay được giao lại cho Bảo tàng Hải quân để trưng bày. Ông cho biết, với loại đạn này, chỉ khi tàu ta tới gần thì địch bắn mới găm vào ống phóng lôi được. Điều đó chứng tỏ sự mưu trí, dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ khi vượt qua lưới đạn trên tàu và máy bay địch để tiến vào tầm phóng ngư lôi hiệu quả. Tàu khu trục Ma-đốc được trang bị tối tân nhất lúc bấy giờ đã bị trúng ngư lôi và phải lầm lũi chạy ra khỏi vùng biển miền Bắc nước ta... Thật tự hào vì chúng ta đã biết “lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều”. Theo ông Hùng: "Trận đánh ngày 2 và 5-8-1964 không chỉ thể hiện bản lĩnh và tinh thần dám đánh, biết đánh, quyết đánh thắng mà còn khơi nguồn sáng tạo cho những chiến công của HQND Việt Nam trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc sau này".

Còn với ông Lê Duy Khoái, nguyên Đoàn trưởng Đoàn 135 - đơn vị trực tiếp đánh đuổi tàu Ma-đốc, câu chuyện 48 năm về trước như vừa mới hôm qua. Sau khi kể lại nhưng diễn biến chính, nhớ tới những tấm gương chiến đấu, hy sinh đầy quả cảm của đồng đội, ông Khoái khẳng định: “Tuy giặc Mỹ có máy bay tầm xa, tàu chiến hiện đại, nhưng không đánh thắng được ý chí gan góc kiên cường và chiến thuật đánh sông biển độc đáo của HQND Việt Nam. Quy luật của chiến tranh là mạnh được yếu thua, nhưng phần thắng không phải lúc nào cũng thuộc về kẻ mạnh. Nhân dân Việt Nam chiến thắng không phải có vũ khí hiện đại hơn mà chúng ta có tinh thần chiến đấu dũng cảm và không bao giờ bị khuất phục trước mưu đồ của kẻ xâm lược”.

Đúng như lời Đô đốc Nguyễn Văn Hiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tư lệnh Quân chủng Hải quân: "Sự kiện đánh đuổi tàu Ma-đốc, tiêu diệt máy bay Mỹ trong trận đầu ra quân có ý nghĩa lịch sử trong quá trình xây dựng quân đội và trưởng thành của HQND Việt Nam. Đó là chiến thắng của sức mạnh chính trị - tinh thần của toàn dân tộc, là ý chí quyết tâm "dám đánh, biết đánh, quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" của HQND Việt Nam; là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân “lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều”, đánh địch bằng vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có. Đây là chiến thắng của trí thông minh và lòng dũng cảm của quân và dân ta chống chiến tranh phá hoại của kẻ thù mặc dù chúng có trang bị, vũ khí kỹ thuật hiện đại. Chiến thắng trận đầu có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo tiền đề thuận lợi, động viên khí thế tiến công, để quân và dân miền Bắc đánh bại cuộc leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc hậu phương lớn miền Bắc, chi viện sức người, sức của cho quân và dân miền Nam làm nên những chiến công liên tiếp trên các chiến trường".

Thái Bình - Quốc An

Đá Lớn mong chờ tấm lọc nước ngọt.


Đào Đá Lớn nằm trong "vĩ độ thấp" nên quanh năm nóng bức, thời tiết khắc nghiệt, hiếm nước ngọt.

(ĐVO) Đảo Đá Lớn là lá chắn thép, cùng với đảo Nam Yết bảo vệ sườn phía Đông của các tỉnh Nam Trung bộ. Nằm trong “vĩ độ thấp” nên quanh năm nóng bức. Mùa khô thời tiết rất khắc nghiệt, trời nắng từ sớm đến chập tối.

Thiếu tá Hàn Xuân Lâm, chính trị viên đảo Đá Lớn chia sẻ: “Trong nhiều đảo chìm, Đá Lớn là cụm đảo hiếm nước ngọt nhất. Vào mùa khô, nước ngọt phải tiết kiệm tối đa, chủ yếu dùng ăn, uống."

"Chúng tôi vẫn xuống biển tắm nước mặn thường xuyên, nước ngọt chỉ tráng qua người. Khó khăn nhất hiện nay của đảo là nước ngọt. Tháng trước, đảo Đá Tây B được báo Đất Việt tặng 1 tấm lọc nước ngọt nhỏ, 2 điểm đảo Đá Tây A và C cũng luôn mong chờ. Nếu có tấm lọc nước ngọt sẽ giúp cuộc sống của bộ đội đỡ phần nào vất vả hơn," anh Hàn Xuân Lâm nói.

Rau xanh từ những giọt nước hiếm ở đảo Đá Lớn.

Ở đảo Đá Lớn, không chỉ có cán bộ chiến sĩ thuộc khung đảo, mà còn có một bộ phận lính công binh luôn túc trực ở đây để xây các công trình. Sau những giờ lao động mệt nhọc, anh em lại xuống triền đảo tắm nước biển mặn. Do nhiều lần tắm biển, da ai cũng đen choay, khỏe khoắn chắc nịch, cuối tuần, anh em được gội đầu bằng nước ngọt, coi như bữa đó “liên hoan”.

Đại úy Tạ Ngọc Duẩn, đảo Trưởng Đá Lớn điểm A cho biết: “Trong 21 đảo và điểm đảo thuộc quần đảo Trường Sa tỉnh Khánh Hòa, Đá Lớn là một trong những cụm đảo chìm hiếm nước ngọt nhất. Khác hoàn toàn với Trường Sa lớn chiến sĩ tắm ngày một lần, thì ở Cụm đảo Đá Lớn nước ngọt chủ yếu đựng bể chứa mi ni, bộ đội ở đây tắm tuần 2 lần, tiết kiệm từng ca nước nhỏ, nước thừa dồn lại tưới rau".

"Nếu mùa mưa, anh em tắm thoải mái, nhiều khi nước tràn ra ngoài xối xả, vì bể chứa nhỏ, nhưng mùa khô thì chia nhau từng ca nước ngọt. Đảo có triền san hô rộng sát mép đảo, nên việc anh em lội xuống triền đảo tắm rất dễ dàng. Tắm nước biển mặn có nhiều ưu điểm, rất săn chắc. Ở đảo mà không tắm biển thì gọi gì là lính Trường Sa”.

Trần mạnh Tuấn.

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2012

Bộ đội Trường Sa cứu phi công Mỹ năm 1988.


Trưa ngày 10/7/1988, Tàu HQ-11 thuộc Lữ Đoàn 171 đang làm nhiệm vụ bảo vệ đảo Đá Lớn đã cứu sống được 3 phi công Mỹ gặp nạ

Những phi công này bị rơi khỏi máy bay khi từ Singapore trở về căn cứ Subic (Philippines).

Không quản sóng to, gió lớn khó khăn gian khổ, cán bộ chiến sĩ Tàu HQ-11 đã nhanh chóng tiếp cận cứu người bị nạn đưa về tàu an toàn.

Câu chuyện về lá thư Mỹ thắm tình yêu Việt còn nguyên vẹn trong ký ức Thượng tá Hoàng Văn Thể, nguyên là Thuyền phó Quân sự Tàu HQ-11 ngày ấy.

Bữa trưa đang dở

“Trong ký ức của những người đi biển, có lẽ tôi không thể nào quên được một sự kiện đáng nhớ trong đời, đó là lần cứu sống 3 sĩ quan phi công Mỹ bị tai nạn ở đảo Đá Lớn, quần đảo Trường Sa. Với tôi đó không chỉ là kỷ niệm sâu sắc nhất của đời lính biển, mà còn là niềm vui, niềm tự hào. Vì mình đã cứu sống những người khách quốc tế đặc biệt giữa đại dương bao la”. Đó là tâm sự của Thượng tá Hoàng Văn Thể, nguyên là Thuyền trưởng Tàu HQ-11, khi tôi hỏi kỷ niệm sâu sắc nhất về đời lính biển tại nhà riêng của ông.

Ông Thể kể: 11h15 ngày 10/7/1988 như thường lệ, cán bộ, chiến sĩ Tàu HQ-11 ăn cơm vừa xong chuẩn bị nghỉ trưa, thì bất chợt phát hiện tiếng máy bay gầm rú phía đông đảo Đá Lớn. Chỉ vài phút sau, chiếc máy bay dạng vận tải quân sự vụt tới lắc lư như có ý xin hạ cánh.

“Toàn tàu báo động chiến đấu khẩn cấp” - tiếng Thuyền trưởng Đại uý Nguyễn Quang Tạo hô lớn. Một hồi kẻng báo động chiến đấu vang lên từ Phòng trực ban. Tất cả về vị trí chiến đấu.

Cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 171 Hải quân nghiêm trang trong buổi chào cờ đầu tháng, Ảnh: Mai Thắng

Lúc này chiếc máy bay loạng choạng phía bắc đảo Đá Lớn, rồi đâm nhào xuống biển cách tàu 1 hải lý.

Tất cả cán bộ, chiến sĩ trên tàu chỉ kịp nhìn thấy một luồng sóng trắng xoá, rồi từ đó hiện lên một chiếc phao cao su, trên đó có 3 người.

Thuyền phó Quân sự Đại uý Hoàng Văn Thể lệnh cho bộ đội thả hai xuồng cứu sinh và trực tiếp chỉ huy một tiểu đội nhanh chóng cơ động về phía máy bay gặp nạn cứu người.

Giữa sóng to, gió lớn, hai chiếc xuồng cứu sinh nhỏ xíu như chìm nghỉm trong lòng biển cứ chồm lên ngụp xuống. Quần áo cán bộ, chiến sĩ ướt nhèm.

Khi tiếp cận, những người bị nạn vô cùng hoảng hốt. Xung quanh họ là một màu nước biển vàng chói. Thì ra họ đã kịp dựt những chai thuốc phát tín hiệu cấp cứu lúc máy bay vừa chìm.

Một phi công đang cầm bộ đàm liên lạc với người của họ. Nêu cao tinh thần cảnh giác, Thuyền phó Quân sự Hoàng Văn Thể đã yêu cầu thu bộ đàm liên lạc và nói bằng tiếng Anh: “Chúng tôi là cán bộ, chiến sĩ Hải quân Việt Nam. Chúng tôi sẵn sàng cứu các bạn”.

Ba phi công mừng rỡ lộ rõ trên khuôn mặt. Một phi công nữ nói và ra hiệu chị đang có thai trong bụng ba tháng, xin được cứu chị.

Tàu HQ-11 huấn luyện sẵn sàng chiến đấu tại cảng. Ảnh: Mai Thắng.

Chiếc xuồng cứu sinh nhỏ bé lại chồm lên ngụp xuống trong sóng gió đưa 3 phi công lên Tàu HQ-11 an toàn.

Cán bộ, chiến sĩ đã giành riêng phòng câu lạc bộ sĩ quan cho 3 phi công. Việc đầu tiên là khám sức khoẻ cho phi công nữ đang mang thai. Biết đứa con trong bụng còn sống, chị đã khóc. Tên chị là Stein Necker nhân viên, còn hai người kia là Richard Kamaurer (chỉ huy tổ lái), và nhân viên Michael Rneel.

Ban Chỉ huy tàu và Trung uý Máy trưởng Nguyễn Huy Tuấn trực tiếp làm việc với 3 phi công gặp nạn.

Qua tiếp xúc được biết họ là thành viên của Đoàn bay CT-39-NALO192 thuộc Hải quân Mỹ (Hạm đội Thái Bình Dương). Hôm đó họ đi làm nhiệm vụ từ Singapore đến căn cứ Hải quân Subic (philippines) thì gặp thời tiết xấu, máy bay không thể hạ cánh được, bèn bay vòng ra biển thì gặp nạn.

Cảm ơn Bộ đội Hải quân

Vào thời điểm ấy, Tàu HQ-11 đi làm nhiệm vụ trên biển xa đã 73 ngày. Lương thực thực phẩm, rau xanh, nước ngọt đã cạn. Giữa biển khơi bao la nắng và gió, hơn 100 cán bộ, chiến sĩ đã phải chắt chiu chia nhau từng ca nước ngọt, nhường nhau từng cọng rau xanh, nhưng quyết không để 3 phi công thiếu thốn.

Thuyền phó Quân sự Hoàng Văn Thể đã phát động phong trào tiết kiệm: “Mỗi người nhịn tắm 7 ngày giành nước ngọt cho 3 phi công”.

Thấy các bạn không ăn được cơm, Ban Chỉ huy tàu quyết định mở kho lương thực dự trữ lấy mì tôm và sữa hộp đặc cho họ.

Vận động cán bộ, chiến sĩ nhường thuốc lá cho bạn, còn tất cả anh em hút thuốc rê, thuốc lào. Mọi nơi ăn, nghỉ của bạn được cán bộ, chiến sĩ Tàu HQ-11 chăm sóc chu đáo. Họ đã không còn rụt rè nữa. Có người đã khe khẽ hát, đi lại trên lan can hút thuốc nhả khói khắp tàu.

Sau khi liên lạc với Mỹ theo đường ngoại giao, sáng 13/7/1988, 3 phi công gặp nạn được Tàu của HQ-187 Hải quân đón về đất liền. Cuộc chia tay có một không hai diễn ra ngay trên boong tàu. Giữa bộn bề sóng nước, một bên là những vị khách quốc tế gặp nạn, một bên là ân nhân chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam.

Ai cũng xúc động chẳng nói nên lời. Những tấm ảnh chụp vội vã làm kỷ niệm như thay lời ghi nhớ công ơn của các chiến sĩ Hải quân Việt Nam đã cứu họ.

Xúc động chen lẫn niềm vui, anh phi công Richard Kamaurer (chỉ huy tổ lái) nói: “Xin cảm ơn Bộ đội Việt Nam. Cảm ơn các bạn. Nếu không có các bạn chúng tôi đã bị đắm chìm dưới đại dương bao la này”.

Còn chị Stein Necker đã bật khóc. Cô xin mảnh giấy, mượn bút viết vội lá thư như thay lời cảm ơn gửi lại tàu, bức thư có đoạn: “Cảm ơn các bạn đã cứu chúng tôi từ lòng biển cả. Lòng mến khách của các bạn thật tuyệt vời. Cảm ơn các bạn rất nhiều và chắc chắn chúng ta sẽ gặp lại nhau”.

Lá thư của chị Stein Necker hiện đang lưu giữ tại Nhà Truyền thống của Lữ đoàn 171. Ảnh: Mai Thắng chụp lại từ ảnh tư liệu.

Bức thư của người nữ phi công Mỹ viết vội ngày nào đã thành kỷ vật thiêng liêng đặt khiêm tốn trong Phòng truyền thống của Lữ đoàn 171 Hải quân.

Mỗi lần nhớ đến, như nhắc lại một kỷ niệm đẹp về lòng nhân ái của những người lính bộ đội Cụ Hồ.

Được biết, đứa con trai của người nữ phi công Stein Necker được sinh ra trên đất Mỹ và được chị đặt tên con là HQ-11- tên con tàu với những người lính Hải quân Việt Nam dũng cảm đầy lòng nhân ái đã cứu mẹ con chị thoát nạn giữa đại dương bao la.

Theo Tuyên giáo Sóc Trăng

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012

Ảnh cũ đăng lại 2.

Từ trái qua:Tâm"bễ" quê Hải Dương, Long quê Hải Dương, Đạt, Nhân"giun", Hải"tù" quê Hải Dương tại cảng cửa Hội,Vùng 2 duyên hải.
Từ trái qua:Nhất quê Đồ Sơn-HP, Nam ba toác , Phong Ba đờ sốc quê HP, Đạt bột tại Đà Nẵng 1975.
Từ trái qua:Nam, Tân, anh (?), Sang "Cù kỳ", Đạt.

Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2012

Nước ngọt Trường Sa: Sơn Ca 'ba nhất'.


Đảo Sơn Ca được mệnh danh là “đảo ba nhất”: nề nếp chính qui nhất, nước da chiến sĩ trắng nhất, tiết kiệm nước ngọt tốt nhất.

Chuyển nước ngọt từ tàu lên bể tích trữ nước đảo Sơn Ca.

(Đất Việt) Sơn Ca - hòn đảo đẹp nhất trong 21 đảo và điểm đảo thuộc quần đảo Trường Sa tỉnh Khánh Hòa. Không chỉ cảnh quan môi trường xanh sạch đẹp, Sơn Ca còn được mệnh danh là “đảo ba nhất”: nề nếp chính qui nhất, nước da chiến sĩ trắng nhất, tiết kiệm nước ngọt tốt nhất.

Sự khác biệt của đảo Sơn Ca là do thổ nhưỡng ở đây mầu mỡ so với các đảo khác, mặt đảo phủ lớp mùn dầy từ phân chim phân hủy từ lâu. Vì “địa lợi” nên chiến sĩ ở đây ai cũng có nước da trắng mịn màng (dĩ nhiên là chỉ dám so với chiến sĩ các đảo khác).

Câu chuyện về chiến sĩ đảo Sơn Ca có nước da trắng nhất được kể lại rằng, “khung trời” nơi này luôn ôn hòa, nước mưa ở vùng đảo này ít a xít và ngọt hơn. Nước mưa được đựng trong bể chứa chôn sâu trong lòng đảo nên ngọt hơn, mát hơn, thấm sâu vào da chiến sĩ hơn nên da trắng hơn.

Từ năm 2004 trở về trước, Sơn Ca cũng thuộc diện đảo hiếm nước ngọt như đảo chìm, cán bộ chiến sĩ dè dặt từng ca và tắm “theo kế hoạch”. Từ năm 2005, Sơn Ca xây thêm nhiều bể chứa để hứng nước mưa, ngoài nước từ đất liền chở ra. Trước đây tuần tắm 2 lần, thì nay ngày một lần tắm.

Hạ sĩ Lê Văn Thắng, ở phân đội bộ binh, cho biết: “Tuy nước ngọt ở đây “xông xênh” hơn trước, song bọn em cũng tiết kiệm tối đa. Bây giờ đang cuối mùa khô, lượng nước dự trữ vơi dần nên càng phải tiết kiệm. Anh em chờ mưa cả tháng rồi. Nhiều bữa cơn giông kéo đến nhưng chỉ lác đác vài hạt. Đảo Sơn Ca đã có điện từ năng lượng mặt trời rồi, bây giờ chỉ có máy lọc nước biển thành nước ngọt nữa thì chẳng khác gì sống ở thành phố”.

Trung tá Lê Việt Hòa, Chính trị viên đảo Sơn Ca, chia sẻ: “Ở Trường Sa, nước ngọt luôn là hàng dự trữ chiến đấu. Riêng đảo Sơn Ca, nước ngọt không hiếm như ngày trước, song anh em vẫn có ý thức tiết kiệm, tránh lãng phí. Chúng tôi luôn bảo đảm nước ngọt cho bộ đội sinh hoạt, huấn luyện, bất kể mùa khô hay mùa mưa. Chính ở nơi khó khăn gian khổ này, tình đồng đội thêm gắn bó, chí khí thêm kiên cường, tinh thần thêm vững chãi”.

Trần Mạnh Tuấn

Thứ Hai, 16 tháng 7, 2012

Việt Nam nhận 2 chiến hạm thuộc Project 10412


Tờ Flotprom của Nga đưa tin, lễ ký văn bản bàn giao 2 tàu tuần tra lp Project 10412 cho Hải quân Việt Nam diễn ra tại nhà máy đóng tàu Almaz, hôm 20/10/2011.

(ĐVO) Hai tàu tuần tra lớp Project 10412 được bàn giao cho Hải quân Việt Nam mang số hiệu nối tiếp nhau là 044 và 045 và là chiếc thứ ba và thứ tư thuộc Project 10410 Firefly (NATO gọi là Svetlyak) được phía Nga đóng cho Hải quân Vệt Nam.

Trước đó, 2 tàu đầu tiên thuộc lớp này đã bàn giao cho Hải quân Việt Nam vào năm 2002.

Cả hai tàu mới đều được khởi công đóng vào cùng một ngày (26/6/2009). Trong đó, tàu 044 được hạ thủy vào tháng 4/2011, và tàu 045 được hạ thủy sớm hơn vào ngày 12/11/2010.

Việc bàn giao bị chậm so với dự kiến vài tháng vì các đối tác của nhà máy đóng tàu không cung cấp linh kiện và phụ tùng đúng tiến độ, đặc biệt là việc lắp đặt ụ pháo AK-176M, được cung cấp bởi nhà máy Arsenal.

Tàu tuần tra lớp Project 10412 mang số hiệu 045 neo đậu ở cảng của nhà máy đóng tàu Almaz.

Sau khi hoàn thành chương trình thử nghiệm vào giữa tháng 10/2011, cả 2 tàu này sẽ được đưa vào ụ tàu nổi của nhà máy PD-423 để vận chuyển bằng đường biển về cảng St. Petersburg, sau đó được đưa lên tàu vận tải chuyển về Việt Nam.

Ngoài ra, 2 tàu chiến cùng loại, mang số hiệu là 420 và 421, đang được gấp rút hoàn thành tại công ty Vostochnaya Verf ở Vladivostoc. Dự kiến, 2 tàu này được bàn giao cho Hải quân Việt Nam vào năm 2012, cũng do phía đối nhà máy chậm trễ.

Tàu tuần tra lớp Project 10412 mang số hiệu 044.

Chiến hạm Project 10412 là một biến thể của tàu tuần tra lớp Project 10410 Firefly, do viện thiết kế TsMKB Almaz thiết kế cho các đơn vị hải quân biên phòng của Ủy ban An ninh Nhà nước Liên Xô KGB vào cuối thập niên 1980.

Từ khi bắt đầu đóng các tàu Firefly, Almaz đã bàn giao cho khách hàng là Bộ Quốc phòng Nga và nước ngoài tổng cộng 16 tàu, (tính cả 2 tàu có số hiệu 044 và 045 và 1 chiếc nữa đang được đóng). Tổng cộng đã có 36 tàu lớp Firefly đã được đóng ở tất cả các nhà máy đóng tàu của Nga.

So với biến thể cơ sở, các tàu Firefly đóng cho Hải quân Việt Nam không có vũ khí chống ngầm nên có thể xếp vào loại tàu pháo.

Mỗi tàu Firefly có trọng tải là 364 tấn, chiều dài 49,5 m, chiều rộng là 9,2 m, mướn nước 2,4 m. Tốc độ tối đa của tàu lên tới 31 hải lý/h (khoảng 50 km/h), hành trình dự trữ 2.200 hải lý và có khả năng hoạt động độc lập liên tục trong 10 ngày đêm.

Vũ khí trên tàu bao gồm: 1 ụ pháo tự động 6 nòng 30 mm AK-306, 1 ụ pháo 76,2 mm AK-176M, hệ thống tên lửa phòng không Igla-1M và hai súng máy 14,5 mm.

(Nguồn Đất Việt)

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2012

Ảnh cũ đăng lại.

Từ trái qua:Điển , Hồng quê Hải dương, anh Dinh , Nam , anh Đức quê Quảng Ninh, Hóa"bẹp" dân Bình Định sống ở Hải Phòng, Sang "cù kỳ" quê Thanh Hóa, Long "tóc bạc" quê Hải Phòng tại căn cứ đoàn 172.
Tân"buji" tàu V.422 tại xưởng 46.
Thanh"gù",Chí Hòa,Nhân "giun" đoàn 125.
Chí Hòa đoàn 125.
Từ trái qua:Đạt bột,Khánh chuột,Lợi quoắt tại cảng Cửa Hội (Nghệ An) năm 1976.