Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

Những 'thợ săn' tàu ngầm trên biển Đông (phần 2)


Hải quân Mỹ đang triển khai kế hoạch, trong vài năm tới sẽ tiếp tục tinh giảm biên chế và sẽ thay thế loạt máy bay trinh sát chống ngầm thế hệ P-3C đã già cũ bằng loại máy bay tiên tiến nhất kiểu P-8A Poseidon.
P-8A Poseidon là loại máy bay trinh sát chống ngầm hiện đại nhất thế giới hiện nay
P-8A Poseidon là loại máy bay trinh sát chống ngầm hiện đại nhất thế giới hiện nay.
 
P-8A là máy bay tuần tiễu trên biển đa chức năng do hãng Boeing nghiên cứu, chế tạo trên cơ sở nguyên mẫu chiếc máy bay chở khách Boeing 737 thuộc kế hoạch nghiên cứu MMA (Multi-mission Maritime Aircraft), được triển khai cuối thập niên 90, thế kỷ XX.
P-8A bắt đầu bay thử năm 2009 và hiện đang được khản trương chế tạo hàng loạt. Hải quân Mỹ dự định đặt mua khoảng 110 chiếc, đưa vào trang bị 100 chiếc, số còn lại phục vụ công tác huấn luyện và dự bị. Hoạt động quân sự đầu tiên mà P-8A “Poseidon” tham gia chính là cuộc diễn tập “Vành đai Thái Bình Dương” (RIMPAC 2012) diễn ra từ ngày 11/7 đến 2/8 tại Honolulu – Hawai.
P-8A Poseidon có chiều dài 39 m, cao 12 m, sải cánh 35 m, trọng lượng không tải 62 tấn, tải trọng bay tối đa 85 tấn, P-8A Poseidon sử dụng 2 động cơ phản lực CFM56-7B27A với lực đẩy 120 kN, hành trình tối đa trên 11.000 km, bán kính tác chiến 4800km, tốc độ bay tối đa là 900 km/h, tốc độ bay tuần tra thông thường 400km/h.
Với phi hành đoàn 9 người, P-8A được sử dụng trong các nhiệm vụ tác chiến mặt nước và tác chiến chống ngầm tầm xa; trinh sát và giám sát (ISR) thu thập tin tức tình báo từ ven bờ ra các vùng biển xa. Trần bay tối đa của P-8A là gần 13km nhưng chủ yếu nó sẽ bay trinh sát ở tầm thấp khoảng 15000 feet (4,57km). P-8A không có khoang vũ khí trong thân máy bay mà lắp đặt 6 giá treo vũ khí hai bên cánh, có thể mang theo lượng vũ khí hơn 5,5 tấn, bao gồm: bom rơi tự do, ngư lôi Mk-54 và tên lửa chống hạm Harpoon.
Vũ khí chống ngầm chủ yếu của P-8A là ngư lôi Mk-54. Đây là loại ngư lôi chống ngầm hạng nhẹ phóng từ trên không hiện đại nhất hiện nay, có thể phóng từ trên hạm, trên máy bay trực thăng, máy bay phản lực với tầm bắn 15km, cự li tự động tìm kiếm mục tiêu là hơn 900m. Hệ thống động cơ đẩy của nó sử dụng công nghệ điều khiển bằng phần cứng giúp nó có độ tin cậy và khả năng biến tốc cao.
Thiết bị trinh sát ngầm chủ yếu của P-8A bao gồm: hệ thống thăm dò từ tính của vỏ tàu ngầm MAD do công ty CAE của Canada chế tạo và radar giám sát biển AN/APY-10 của hãng Raytheon. Đây là loại radar tích hợp đầy đủ các tính năng của radar giám sát biển AN/APS-137 mà hải quân Mỹ hiện đang sử dụng, bổ sung thêm chức năng kiểm soát không trung và điều khiển vũ khí, cải thiện khả năng theo dõi đồng thời nhiều mục tiêu, kích thước của nó cũng nhỏ hơn AN/APS-137 một chút để phù hợp lắp đặt trên máy bay.
P-8A Poseidon có khả năng mang theo hơn 5,5 tấn vũ khí
P-8A Poseidon có khả năng mang theo hơn 5,5 tấn vũ khí.
 
Ngoài ra trên máy bay còn lắp đặt các thiết bị kiểm tra, giám sát giống như P-3C, bao gồm: thiết bị thăm dò từ tính và hồng ngoại, hệ thống phao sonar, phao nước và pháo sáng…
Đầu tháng 10, tạp chí quân sự hàng đầu thế giới của Anh "Jane’s Defence Weekly" cho biết, vào năm 2013, quân đội Mỹ sẽ triển khai máy bay trinh sát chống ngầm P-8A “Poseidon” đến hai căn cứ quân sự của mình trên lãnh thổ Nhật Bản là Misawa và Kadena.
Theo tiết lộ của các chuyên gia kỹ thuật của công ty Boeing, các máy bay P-8A cất cánh từ căn cứ Okinawa chỉ mất 20 phút là có thể giám sát khu vực eo biển Đài Loan với bán kính tuần tra rộng hơn 200 hải lý, cực kỳ phù hợp với yêu cầu chuyển đổi mô hình tác chiến hiện nay của quân đội Mỹ.
Mỹ dự định sẽ triển khai P-8A Poseidon đến Nhật Bản để giám sát biển Đông và biển Hoa Đông
Mỹ dự định sẽ triển khai P-8A Poseidon đến Nhật Bản để giám sát biển Đông và biển Hoa Đông.
 
Hiện ở khu vực biển Đông và biển Hoa Đông, chỉ có Trung Quốc là có lực lượng tàu ngầm hùng hậu với hơn 70 chiếc, lực lượng tàu ngầm của họ có thể áp đảo tất cả các nước trong khu vực. Tuy nhiên, sự xuất hiện của 2 loại máy bay trinh sát chống ngầm này làm cho các tàu ngầm của Trung Quốc không còn cảm giác an toàn trên vùng biển của chính mình.
Hiện nay, hải quân Ấn Độ cũng đã đặt mua phiên bản xuất khẩu của P-8A là P-8I, dự kiến đầu năm 2013 sẽ triển khai các hạng mục đầu tiên của hợp đồng.
Nguyễn Ngọc
Theo Tân Hoa Xã, Thời báo Hoàn Cầu

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2012

Những sát thủ săn tàu ngầm (1): “Kẻ đi săn” tàu ngầm trên biển Đông



P-3C Orion là sản phẩm của Công ty Lockheed Martin - Mỹ, thuộc loại máy bay trinh sát, chống ngầm cất cánh từ đất liền, chủ yếu dùng để thực hiện tác chiến săn ngầm trên biển tầm xa

  • Lực lượng máy bay tuần tra trên biển của hải quân Mỹ là lực lượng tác chiến rất mạnh, mặc dù đã nhiều lần tinh giảm biên chế nhưng hiện tại vẫn còn 37 trung đội máy bay tuần tiễu (trong đó có 17 trung đội dự bị). Hiện lực lượng chủ lực của các trung đội này là loại máy bay P-3C Orion.
P-3C Orion là sản phẩm của Công ty Lockheed Martin - Mỹ, thuộc loại máy bay trinh sát, chống ngầm cất cánh từ đất liền, chủ yếu dùng để thực hiện tác chiến săn ngầm trên biển tầm xa và tác chiến chống hạm và yểm hộ cho biên đội tàu sân bay trên toàn cầu, trong mọi điều kiện thời tiết.
Mỹ thường sử dụng P-3C Orion để bảo vệ biên đội tàu sân bay của mình
P-3C có chiều dài 35,6 m, sải cánh 30,4 m, trọng lượng cất cánh tối đa 64,4 tấn, sử dụng 4 động cơ cánh quạt, tốc độ trên 600 km/h, hành trình tối đa 9000 km, bán kính hoạt động tối đa gần 4000 km với phi hành đoàn 11 người.
Phần bụng phía trước máy bay này thiết kế 1 khoang đạn có kích thước 3,91m X 2,03m X 0,088m, dưới cánh máy bay có 10 giá treo vũ khí. Vũ khí chính dùng để tác chiến của P-3C có ngư lôi MK-46, tên lửa chống hạm AGM-84 Harpoon, tên lửa đối đất AGM-65 Maverick, ngoài ra nó có thể mang theo bom nổ dưới nước, bom thông thường, thủy lôi.

Thiết bị trinh sát ngầm mang theo là các loại radar, thiết bị thăm dò từ tính và hồng ngoại, ngoài ra còn hệ thống phao sonar, phao nước và pháo sáng.
Thế hệ máy bay P-3 đã phục vụ trong lực lượng hải quân Mỹ được 40 năm, trải qua nhiều lần cải tiến, nâng cấp; kiểu cuối cùng trong thuộc thế hệ này là máy bay P-3C “Orion” đã ngừng sản xuất năm 1990. Do đã xuống cấp trầm trọng, năm 2003 – 2005, hải quân Mỹ đã thải loại gần 80 chiếc thuộc kiểu P-8A/B, hiện nay chỉ còn sử dụng hơn 150 chiếc P-3C sản xuất thời gian gần đây.
P-3C Orion cũng thường xuyên phối hợp với tàu ngầm để chống tàu ngầm địch
Mặc dù Hải quân Mỹ đã phát triển máy bay P-8A Poseidon tiên tiến hơn, đồng thời có kế hoạch thay thế P-3C vào năm 2013, nhưng việc sản xuất đủ hơn 100 chiếc P-8A cũng mất rất nhiều thời gian nên hải quân Mỹ đã bắt đầu nâng cấp 5 máy bay P-3C đầu tiên thành P-3C4, đồng thời cũng bắt tay vào cải tạo lại 50 trong số 157 chiếc hiện đang sử dụng.
Nội dung cải tiến gồm: liên kết dữ liệu Link 16, thông tin vệ tinh băng thông rộng được mã hóa của vệ tinh thông tin hàng hải quốc tế và hiển thị hình ảnh chiến thuật tích hợp dựa trên hệ điều hành Windows.

Liên kết dữ liệu Link 16 chủ yếu dùng cho chia sẻ dữ liệu với lực lượng NATO, thông tin vệ tinh thì cung cấp truyền dữ liệu giao thức internet và cuối cùng thực hiện video trực tuyến.
Đầu năm nay, hải quân Mỹ cũng đã cải tạo kỹ thuật hệ thống âm thanh, tăng cường khả năng tiếp nhận phao sonar cho 74 chiếc.
Hải quân Philippines và Nhật Bản sẽ sử dụng P-3C để chống tàu ngầm Trung Quốc
Hiện nay, Mỹ đang cân nhắc đề nghị của Philippines về việc triển khai P-3C4 (biến thể nâng cấp hiện đại nhất của P-3C Orion) và UAV trinh sát chiến lược RQ-4 Global Hawk tại Philippines và giúp đỡ Manila xây dựng trung tâm giám sát bờ biển quốc gia.
Nguyên nhân Philippines đưa ra lời đề nghị với Mỹ không nằm ngoài lí do giám sát và hạn chế tầm hoạt động của các tàu ngầm Trung Quốc.
Về tàu ngầm hạt nhân tên lửa chiến lược, hiện Trung Quốc có 1 tàu lớp 092 (lớp Hạ) trang bị tên lửa Cự Lang-1A (JL-1A) và 2 chiếc tàu ngầm hạt nhân lớp 094 (lớp Tấn). Hiện họ đang đóng 3 chiếc và vừa bắt tay đóng mới chiếc thứ 4, nâng tổng số tàu ngầm hạt nhân lớp 094 lên con số 6.

Có thông tin cho rằng, 3 chiếc tàu ngầm đang chế tạo được trang bị hệ thống vũ khí của lớp tàu ngầm tương lai 096 (có lượng giãn nước lên tới 1,6 vạn tấn), trang bị 24 quả tên lửa đạn đạo.
Còn về tàu ngầm đa dụng, Trung Quốc hiện có 3 tàu lớp 091 (lớp Hán) và 2 tàu ngầm hạt nhân lớp 092. Hiện nay, họ đang đóng một chiếc tàu ngầm hạt nhân lớp 093 (lớp Thương), có tính năng được so sánh ngang với tàu ngầm hạt nhân 671RTM của Nga.

Hải quân Trung Quốc còn xây dựng kế hoạch trước năm 2020 sẽ đóng xong 5 tàu ngầm hạt nhân lớp 095, về tàu ngầm thông thường, họ cũng có trên 50 chiếc,
Việc Trung Quốc đang nỗ lực phát triển lực lượng tàu ngầm làm các nước trong khu vực không khỏi quan ngại, nhất là các nước đang có tranh chấp trên biển với Trung Quốc.
Tất nhiên là Mỹ không thể để các đồng minh thân cận như: Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc… phải lo lắng. Lời đề nghị của Philippines nhiều phần sẽ được Mỹ đáp ứng với lí do để bảo vệ các tàu chiến của mình sau khi Mỹ quyết định tăng cường sự hiện diện quân sự bằng cách gửi hàng loạt tàu ngầm và 2 tàu sân bay đến khu vực biển Đông và dự định quay trở lại căn cứ Subic.

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

Hé lộ tổn thất cụm tàu sân bay Mỹ trong chiến tranh Việt Nam



Trong những năm 1960-1970,  tàu sân bay Mỹ quần thảo ngang dọc trên biển Đông. Tuy nhiên, lực lượng này cũng chịu nhiều tổn thất.
(Đất Việt) Những gã khổng lồ trên biển 
Trong thập niên 1960 Mỹ có tới 14 - 15 tàu sân bay, mỗi tàu chở được 60 - 100 máy bay các loại, trong đó có một tàu sân bay năng lượng hạt nhân USS Enterprise (CVN-65) hạ thủy 1961.
Sân bay nổi trên đại dương
Đây là các căn cứ không quân cơ động có thể di chuyển với tốc độ tới 800 km/ngày tới bất cứ khu vực nào trên đại dương và tác chiến phối hợp với các căn cứ không quân ven biển hoặc hoạt động hoàn toàn độc lập khi cần thiết. 

Năm 1965, lực lượng không quân của hải quân Mỹ có gần 6.000 máy bay các loại bố trí trên các tàu sân bay và căn cứ không quân ven biển. Tới 1969 do nhu cầu chiến tranh Việt Nam số lượng này đã được tăng lên tới 8.500 chiếc (trong đó có 1.600 trực thăng).
Ngay từ đầu các tàu sân bay đã được đưa tới bờ biển Việt Nam từ năm 1964, rất lâu trước khi các lực lượng bộ binh xuất hiện trên chiến trường miền Nam. 

Ngày 5/8/1964, máy bay từ 2 tàu sân bay USS Constellation (CV-64) và USS Ticonderoga (CV-14) đã tấn công các mục tiêu ở miền Bắc, mở đầu cuộc chiến tranh bằng không quân kéo dài 8 năm. 

Tới tháng 2/1965 trên biển Đông đã có 4 tàu sân bay Mỹ, mỗi tàu sân bay đều có 6-8 tàu bảo vệ các loại như tàu khu trục, tàu ngầm, tàu hộ vệ chống ngầm (chưa kể các tàu hậu cần, chở dầu, cứu hộ) đi kèm. Các cụm tàu sân bay này hoạt động tác chiến liên tục trong 30 - 45 ngày, sau đó thay nhau trở về căn cứ bảo dưỡng và nghỉ ngơi. 

Lúc đầu, các tàu sân bay được triển khai ở 2 khu vực: vịnh Bắc Bộ (2 chiếc) và ngoài khơi Nha Trang (một chiếc), di chuyển cách bờ 150 - 200 hải lý và khi máy bay chuẩn bị xuất kích thì vào sát bờ 40 - 120 hải lý (70 - 210 km). Sau khi có thêm máy bay B-52 tham chiến thì từ tháng 8/1966 chỉ còn bố trí ở vịnh Bắc Bộ (thường xuyên có 3 - 4 tàu sân bay).
Tàu sân bay năng lượng hạt nhân đầu tiên thế giới - USS Enterprise. Ảnh: U.S. Navy
Trong chiến tranh Việt Nam, các tàu sân bay Mỹ đã phải hoạt động với cường độ rất căng thẳng, tới 75 - 80% thời gian ở trên biển và chỉ còn khoảng 20% thời gian được ở căn cứ. 

Tất cả các tàu sân bay Mỹ đều lần lượt tham chiến ở Việt Nam, thông thường mỗi tàu 3 tháng nhưng có khi phải kéo dài đến 6-8 tháng. Tùy theo thời tiết, không quân trên hạm thực hiện từ 2.000-8.000 phi vụ mỗi tháng, tức là trung bình mỗi phi công phải bay 20 giờ/tháng. 

Tổn thất máy bay cũng rất nặng nề: mỗi tàu sân bay hàng tháng bị mất 10-15 chiếc khi vào đánh phá miền Bắc Việt Nam. Các tàu sân bay không bị tấn công do luôn nằm ngoài tầm bắn của các loại pháo bờ biển và phía Việt Nam chưa có tên lửa đối hạm. Tuy vậy, cường độ hoạt động cao, kéo dài và sự mệt mỏi, căng thẳng của các nhân viên trên tàu sân bay đã không ít lần dẫn đến tai nạn cháy nổ, gây thiệt hại nặng về cả người và vũ khí, trang bị làm nhiều tàu hư hỏng lớn, phải sửa chữa kéo dài và rất tốn kém.
Vụ cháy nổ chấn động nước Mỹ
Nổi tiếng nhất là vụ cháy nổ trên tàu USS Forrestal (CV-59), trọng tải 80.000 tấn, chở 70 75 máy bay, xảy ra vào sáng 29/7/1967 khi đang ở trong vịnh Bắc Bộ. Nguyên nhân theo điều tra là do động cơ của quả tên lửa Zuni 127 mm treo dưới cánh chiếc F-4 bất ngờ hoạt động và tên lửa lao thẳng vào thùng nhiên liệu của chiếc máy bay cường kích A-4 rồi phát nổ. 

Nhiên liệu cháy lan ra khắp sàn tàu tới các máy bay đang chuẩn bị cất cánh rồi kích nổ hàng loạt bom đạn và tên lửa mang theo, tạo ra 4 lỗ thủng rất lớn trên mặt boong và phá hủy nhiều thiết bị, máy móc cùng với cơ cấu cất, hạ cánh máy bay.
 Vụ cháy nổ trên tàu sân bay Forestol ở Vịnh Bắc Bộ năm 1967. Ảnh: tư liệu
Đám cháy nổ dữ dội kéo dài 13 giờ liền mới dập tắt được và đã làm 134 lính Mỹ thiệt mạng, 162 lính khác bị thương cùng với 29 máy bay phản lực chiến đấu bị phá hủy hoàn toàn, 42 chiếc khác hư hỏng nặng. 

Tàu USS Forrestal bị loại khỏi vòng chiến đấu và phải sửa chữa kéo dài 7 tháng liền. Đây là thiệt hại nặng nề nhất về người và vũ khí, trang bị của tàu sân bay Mỹ (tổn thất theo báo cáo của quân đội Mỹ ước tính 72 triệu USD theo thời giá lúc bấy giờ) và chưa từng có trong lịch sử hải quân từ trước tới nay.
Một vụ cháy nổ lớn khác cũng đã xảy ra trên tàu sân bay hạt nhân USS Enterprise (91.000 tấn, chở 90 máy bay) vào tháng 1/1969 với lý do tương tự: 1 quả tên lửa MK-32 Zuni 127 mm tự phát nổ dưới cánh chiếc F-4 rồi kích nổ tiếp 9 quả bom loại 300-400 kg ở các máy bay bên cạnh làm chết 27 lính Mỹ và phá hủy hoàn toàn 15 máy bay chiến đấu cùng 32 chiếc khác bị hư hỏng nặng. Tàu USS Enterprise hỏng nặng và phải sửa chữa khôi phục mất hơn 3 tháng.
Trong toàn bộ cuộc chiến Việt Nam, trên các tàu sân bay Mỹ đã xảy ra 20 vụ cháy nổ lớn và trung bình, thiêu rụi hoàn toàn tới 60 máy bay chiến đấu các loại (chưa kể số bị hư hỏng nặng), làm hàng trăm lính Mỹ chết và bị thương. Điều đó đã gây ra khá nhiều chỉ trích đối với loại căn cứ không quân nổi này nhưng cũng không thể phủ nhận được sự cần thiết của tàu sân bay trong các cuộc xung đột quân sự và chiến tranh cục bộ.
 
Chính từ đây bắt đầu xuất hiện chính sách ngoại giao mới trên thế giới được gọi là "ngoại giao tàu sân bay ". Và từ năm 1968 chính quyền Mỹ đã quyết định xây dựng thế hệ tàu sân bay mới - tàu sân bay hạt nhân với lượng dãn nước hơn 100.000 tấn, không phải nạp nhiên liệu trong suốt thời gian vận hành và sức chở lớn hơn (tới 100 máy bay hiện đại hơn và mang theo 3.000 tấn vũ khí các loại). 

Đại tá, KS Nguyễn Thụy Anh

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2012

Chuyện ít biết về tàu tên lửa đầu tiên của VN

Trong bài viết có một số chỗ viết chưa chính xác ví dụ như: Thay vì tiểu đoàn tàu tên lửa 137 lại là 136 ...Nhưng dù sao cũng nhắc lại một thời để nhớ của các CCB Hải quân chúng ta thời kì đó.

Ít ai biết rằng, trong kháng chiến chống Mỹ, Hải quân Nhân dân Việt Nam được tiếp nhận một vài tàu trang bị tên lửa có điều khiển – những tàu tên lửa đầu tiên của hải quân.

(ĐVO) Theo Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam, tháng 12/1972, Việt Nam được tiếp nhận 4 tàu chiến cỡ nhỏ project 183R lớp Komar từ Liên Xô. Toàn bộ tàu được biên chế vào  Tiểu đoàn 136, Trung đoàn 172 (sau này là Lữ đoàn 172).

“Nhỏ mà có võ”

Tàu tên lửa project 183R lớp Komar do Liên Xô thiết kế từ đầu những năm 1950 dành cho nhiệm vụ duy nhất tấn công tiêu diệt chiến hạm bằng tên lửa hành trình chống tàu. Đây là tàu tên lửa đầu tiên trên thế giới.

Tàu lớp Komar có lượng giãn nước 66,5 tấn, dài 25,4m, thủy thủ đoàn 17 người, trang bị động cơ diesel cho phép đạt tốc độ tối đa 44 hải lý/h.

Komar là con tàu dễ chế tạo, với phần vỏ tàu làm bằng gỗ, khung tàu và kết cấu thượng bằng hợp kim nhôm. Tàu trang bị hệ thống điện tử đơn giản: radar điều khiển hỏa lực MR-331, hệ thống phân biệt bạn – thù, thiết bị thông tin liên lạc.
Tàu tên lửa project 183R Komar của Hải quân Nhân dân Việt Nam trên vịnh Hạ Long. Nguồn: Sách ảnh Hải quân Nhân dân Việt Nam (1955-1985).
Hỏa lực chính của tàu Komar gồm 2 đạn tên lửa hành trình đối hạm P-15 Termit (NATO định danh SS-N-2A Styx) trong bệ phóng KT-67 và một tháp pháo 2 nòng cỡ 25mm (1.000 viên đạn).

Trong đó, P-15 Termit là một trong những công nghệ vũ khí tiên tiến nhất những năm 1950-1960.

Tên lửa có thân hình trụ, mũi hình tròn, giữa thân có 2 cánh tam giác lớn và 3 cánh lái ở đuôi.

Các thiết bị điện tử trong tên lửa dựa trên thiết kế tín hiệu đơn giản với cảm biến radar hình nón.

Tên lửa lắp động cơ nhiên liệu lỏng với thành phần phóng axit đặc biệt. Nhiên liệu lỏng này có vấn đề với nhiệt độ môi trường, nó không thể phóng khi nhiệt độ vượt ra khỏi giới hạn -15 độ C tới 38 độ C và axit sẽ ăn mòn thân tên lửa nếu để quá lâu. Tên lửa đạt tầm bắn tối đa 40km, tốc độ hành trình cận âm (biến thể sau này tăng tầm tới 80km).

Trước khi phóng, đài radar MR-331 sẽ quét, khóa mục tiêu trước. Theo quy định của Liên Xô, khi phóng tên lửa, tàu Komar phải chạy tốc độ trên 15 hải lý/h và chỉ bắn được trong điều kiện sóng cấp 4.

Ở pha giữa, tên lửa hành trình bay tự động (cách mặt biển 100-300m), pha cuối, cách mục tiêu 11km, cảm biến radar kích hoạt từ tìm mục tiêu tấn công. Với đầu đạn hình phễu nặng gần 500kg, P-15 Termit có khả năng đánh chìm tàu chiến cỡ lớn.

Với hỏa lực như vậy, trong tác chiến, tàu Komar có thể độc lập hoặc đi theo đội hình cùng tấn công mục tiêu lớn với sự yểm trợ không quân, không ở lại trên biển hơn một ngày hoặc lâu hơn tránh thời tiết xấu.

Người Mỹ sợ hãi

Trở lại với câu chuyện tại Việt Nam, ngay trong năm 1972, tình báo Mỹ nhanh chóng đánh hơi việc Liên Xô trang bị loại tàu tên lửa nguy hiểm này cho Hải quân Nhân dân Việt Nam. Quân Mỹ có lý do để lo ngại sự an toàn chiến hạm của mình hoạt động trên vịnh Bắc Bộ trinh sát miền Bắc Việt Nam.

Năm 1967, tàu tên lửa Project 183R Komar của Hải quân Ai Cập đánh chìm tàu chiến Eilat của Hải quân Israel. Sự kiện này gây ra cú sốc trên thế giới khi một tàu chiến dài gần 100m, lượng giãn nước gần 2.000 tấn bị đánh chìm bởi tàu nhỏ hơn nhiều lần.

Chưa hết, năm 1971, trong cuộc chiến tranh Ấn Độ - Pakistan, 2 tàu tên lửa cỡ nhỏ của Ấn Độ đã phóng 4 quả P-15 Termit đánh chìm một tàu quét mìn và một tàu khu trục lượng giãn nước 3.290 tấn của Hải quân Pakistan.

Với những cuộc “thử nghiệm thành công trên chiến trường”, minh chứng rõ ràng nhất cho sự lo sợ “trở thành nạn nhân tiếp theo” của người Mỹ.
Kỹ thuật viên hải quân lắp tên lửa chống hạm P-15 Termit lên bệ phóng tàu Komar. Nguồn: Sách ảnh Hải quân Nhân dân Việt Nam (1955-1985)
Theo tài liệu Hải quân Mỹ, trong năm 1972, khi đang hoạt động ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, hệ thống tác chiến điện tử AN/WLR-1 trên tuần dương hạm USS Sterett (CG-31) phát hiện tín hiệu radar MR-331 trong chế độ khóa mục tiêu liên tục. Sau khi hệ thống radar xác định rõ, các sĩ quan điều khiển USS Sterett cho rằng đó là một tàu Komar của Việt Nam và tên lửa P-15 Termit đang tiến đến.

Ngay lập tức, USS Sterett phóng 2 tên lửa đối không tầm trung RIM-2 Terreir đánh chặn. Ít giây sau, mục tiêu biến mất trên màn hình radar. Lịch sử hoạt động của USS Sterett ghi nhận, tàu này đánh chặn thành công tên lửa P-15.

Tuy nhiên tới năm 1999, Hải quân Mỹ mở cuộc điều tra và xác định không hề có bất kỳ tên lửa P-15 nào được phóng đi vào ngày hôm đó. Đây là sự nhầm lẫn của hệ thống điện tử. Điều đó cho thấy, tên lửa P-15 và chiến hạm lớp Komar thực sự là nỗi ám ảnh của người Mỹ.

Tính tới tháng 4/1975, Hải quân Nhân dân Việt Nam duy trì hoạt động 3 tàu tên lửa Komar. Trong giai đoạn sau, Komar tích cực tham gia bảo vệ biển đảo Tổ quốc trong tình hình mới.

Những năm 1980, Việt Nam lần lượt cho nghỉ hưu tàu Komar và thay thế bằng tàu tên lửa hiện đại hơn Project 205U Osa II.


Phượng Hồng

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2012

Có thật tàu ngầm Kilo đứng đầu Đông nam Á?


Để định nghĩa một chiếc tàu ngầm hiện đại cần dựa trên nhiều yếu tố khác nhau như: thời gian chế tạo, công nghệ ứng dụng, vũ khí trang bị và đặc tính kỹ chiến thuật..

(ĐVO) Gần đây xuất hiện một số bài viết trên báo nước ngoài và được một số báo trong nước dẫn nguồn lại cho rằng Việt Nam có hạm đội tàu ngầm mạnh nhất Đông Nam Á. Điều này thật đáng mừng bởi vị thế của Quân đội Nhân dân Việt Nam và Hải quân nói riêng được đánh giá cao. Tuy nhiên, cũng cần có cái nhìn tỉnh táo để tránh được sự lạc quan thái quá.

Việc so sánh tính năng kỹ chiến thuật của các hệ thống vũ khí trong đó có tàu ngầm đã trở thành một thông lệ quen thuộc.Tuy nhiên, để đánh giá một chiếc tàu ngầm hiện đại cần dựa trên nhiều yếu tố khác nhau. 

Trước hết là niên đại chế tạo. Tàu ngầm hiện đại có khoảng thời gian chế tạo từ khoảng 1995-đến nay, khoảng thời gian này không có nhiều đột phá về công nghệ, nếu có chắn chắn không nằm trong những sản phẩm được xuất khẩu.

Thứ nữa phải tính đến các công nghệ ứng dụng gồm: công nghệ điện tử, động cơ thế hệ thứ 3, trong đó hệ thống đẩy không khi độc lập AIP được đánh giá cao hơn cả. Tuy nhiên, tàu ngầm Kilo chưa được trang bị công nghệ này.
Tàu ngầm Kilo của Việt Nam được đánh giá hiện đại nhất Đông Nam Á. 
Bên cạnh đó là vũ khí trang bị trên tàu ngầm gồm: ngư lôi thế hệ 3 như loại 53-65 của Nga, Mark 48 của Mỹ… Về tên lửa phóng từ tàu ngầm có thể kể đến như UGM-84 Harpoon của Mỹ, Exocet của Pháp, Club của Nga. Theo nhiều nguồn tin, tàu ngầm Kilo xuất khẩu cho Việt Nam sẽ trang bị tên lửa Club, đây sẽ là móng vuốt sắc nhọn của lực lượng tàu ngầm Việt Nam trong tương lai.

Độ ồn khi hoạt động được xem là nhân tố quyết định tới "chất lượng" tàu ngầm. Một tàu ngầm hiện đại phải là loại có độ ồn khi hoạt động rất thấp, con số chính xác về độ ồn của các tàu ngầm thường được bảo mật khá chặt chẽ bởi đây là yếu tố nhạy cảm.

Độ ồn khi hoạt động của các tàu ngầm chủ yếu dựa vào các biện pháp triệt tiêu âm thanh của chân vịt, động cơ nhờ vào các hệ thống che chắn như ngói chống âm... Những tàu ngầm điện diesel theo tiêu chí nói trên gồm có: Kilo của Nga, Archer của Thụy Điển, Type-212/214 của Đức, Scorpene của Pháp, Oyashio của Nhật Bản, trong đó 4 loại được xuất khẩu nhiều nhất là Kilo, Archer, Type-212/214, Scorpene.

Tàu ngầm điện-diesel nào chạy êm nhất thế giới vẫn là một khái niệm mơ hồ và rất khó để có con số chính xác nhất điều đó phụ thuộc nhiều vào hệ thống sonar được sử dụng để phát hiện ra tàu ngầm. Tuy nhiên, điểm đáng nói, tàu ngầm Kilo được chính Hải quân Mỹ đặt cho danh hiệu "hố đen" bởi sự yên lặng của nó trong quá trình hoạt động.
Tàu ngầm Scorpene của Hải quân Hoàng gia Malaysia cũng là tàu ngầm hiện đại còn có nhất ĐNA hay không thì còn phải bàn.
Để phát huy sức mạnh tàu ngầm, đặc tính kỹ chiến thuật của tàu chỉ là yếu tố cần chứ chưa đủ, quan trọng là chiến lược sử dụng tàu ngầm cũng như sự phối hợp giữa nhiều lực lượng liên quan để tạo nên sức mạnh tổng thể.

Nên nhớ rằng trong chiến tranh thế giới thứ 2, Hải quân Đức có hạm đội tàu ngầm  và hiện đại nhất thời đó nhưng do thiếu chiến lược tổng thể hợp lý nên hạm đội tàu ngầm này vẫn bị đánh bại một cách thảm hại.

Quan trọng hơn cả là mục đích sử dụng để tạo nên sức mạnh tổng thể, một chiếc tàu ngầm cho dù là hiện đại nhất thế giới nhưng nếu đặt nó vào trong một chiến lược không phù hợp thì chẳng mang lại nhiều ý nghĩa, không phải cứ hiện đại nhất thì sẽ có sức mạnh cao nhất.
(Nguồn Đất Việt)

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2012

Việt Nam tự đóng mới tàu tên lửa hiện đại




Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam đã ký hợp đồng với nhà máy Hồng Hà Ba Son để đóng mới 2 lớp tàu pháo TT400TP và tàu tên lửa project 12418.
Sáng 8/10, tại Hải Phòng, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân đã tổ chức ký hợp đồng với Công ty đóng tàu Hồng Hà và Ba Son (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng) đóng mới 2 lớp tàu chiến đấu hiện đại là tàu pháo TT400TP và tàu tên lửa hiện đại project 12418.

Chuẩn Đô đốc Nguyễn Văn Ninh, Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân (đại diện Chủ đầu tư) đã ký hợp đồng với đại diên các đơn vị đóng tàu của Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.

Hai lớp tàu chiến đấu trên nằm trong chương trình trang bị tiếp theo cho Quân chủng Hải quân để nâng cao năng lực quản lý và bảo vệ chủ quyền biển đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc, góp phần xây dựng Quân chủng Hải quân tiến lên cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong tình hình mới.

Tàu pháo TT400TP và tàu project 12418 được mua thiết kế và chuyển giao công nghệ triển khai đóng thành công tại Công ty đóng tàu Hồng Hà và XNLH Ba Son (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng).

Trong đó, tàu cao tốc tên lửa project 12418 do Nga thiết kế để tiêu diệt tất cả mục tiêu trên biển (tàu chiến, tàu đổ bộ đối phương), tham gia nhiệm vụ tuần tra, hộ tống. Hỏa lực của project 12418 có thể đánh chìm tàu chiến lớn hơn nó gấp nhiều lần.

Tàu có lượng giãn nước hơn 500 tấn, dài khoảng 56m, thủy thủ đoàn 50 người. Project 12418 trang bị: pháo hạm AK-176, 16 tên lửa hành trình đối hạm Kh-35 Uran (tầm bắn 130km), 2 tổ hợp pháo phòng không bắn nhanh Ak-630 và tên lửa đối không tầm thấp.
Báo QĐND

Thứ Hai, 22 tháng 10, 2012

Đọc báo giùm bạn :Mắc cạn giữa Biển Đông





QĐND - Vào một ngày đầu tháng 5-1964, để lập thành tích chào mừng sinh nhật Bác Hồ, chỉ huy Đoàn tàu không số (Lữ đoàn 125) phát động đợt thi đua đặc biệt mà nội dung chủ yếu là đột phá mở đường, đem hàng vào chiến trường bằng phương tiện mới: Tàu vận tải vỏ sắt do Xưởng Đóng tàu Bạch Đằng (Xưởng đóng tàu 3-Hải Phòng) thiết kế và thi công. Tàu có sức chở lớn, tốc độ nhanh, trang bị máy móc hàng hải tương đối hiện đại, hơn hẳn những con tàu gỗ trước đó. Đơn vị tàu không số mang mật danh 41 của chúng tôi được cấp trên tín nhiệm sử dụng loại tàu mới này để đưa hàng vào Cà Mau-bến tận cùng cực Nam của Tổ quốc.
Trước vinh dự lớn lao này, mọi cán bộ, chiến sĩ trên tàu đều hồ hởi, phấn khởi, thi đua đưa hàng xuống thật nhanh, chuẩn bị hậu cần thật tốt. Đặc biệt, về tư tưởng, ai nấy đều xác định sẵn sàng chấp nhận hy sinh, gian khổ, hoàn thành nhiệm vụ.
Chuyến đi đó của chúng tôi lúc ấy chưa xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ (5-8-1964). Tuy nhiên, khi đó ở vùng Vịnh Bắc Bộ của nước ta đã dày đặc tàu chiến, máy bay thuộc Hạm đội 7 của đế quốc Mỹ; cùng với nó là tàu chiến của ngụy quân phong tỏa suốt ngày đêm. Mọi con đường của tàu, thuyền bị địch kiểm soát, ngăn chặn gắt gao. Nhiều chuyến tàu, chuyến tiếp tế ra các đảo nằm trong Vịnh Bắc Bộ đã bị tàu địch bắn chìm, thủy thủ hy sinh nên con đường tiếp tế vào chiến trường miền Nam của những con tàu không số gặp không ít khó khăn. Nhưng với tinh thần quyết tâm cao, cán bộ, chiến sĩ Tàu 41 đã khôn khéo chuyển hướng hành trình xa bờ, lợi dụng vùng biển giáp ranh giữa ta và nước bạn, luồn lách qua các hòn đảo, làm hạn chế khả năng trinh sát kỹ thuật bằng sóng ra-đa từ các tàu chiến Mỹ. Cứ như thế, Tàu 41 thoát khỏi tầm kiểm soát của địch, ung dung tiến ra Biển Đông, thẳng hướng miền Nam.
Tàu 41 (ảnh thu từ tài liệu của địch).
Thời tiết tháng 5 nên trên biển hay có giông lớn. Đêm đó, Tàu 41 đã không may bị một cơn giông đột ngột kéo đến, sóng gió quá to đã hất con tàu và hơn 60 tấn vũ khí vào một bãi cạn san hô thuộc quần đảo Hoàng Sa. Giữa biển cả mênh mông, đêm tối, sóng lại lớn, các thủy thủ nhìn nhau mắt cay sè, nỗi lo âu tràn ngập... Nhưng với kinh nghiệm dày dạn và bản lĩnh vững vàng, Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh và Chính trị viên Nguyễn Hoàng Chiến đã giúp anh em nhanh chóng lấy lại bình tĩnh. Mọi người cùng nhau lặn xuống biển, đào san hô thành cái rãnh sâu để đưa tàu thoát khỏi bãi cạn. Kế hoạch này được triển khai gấp rút trong đêm. Từ những người già đến các thủy thủ tuổi đôi mươi lần đầu tham gia Đoàn tàu không số như tôi đều thi nhau bẩy đá, đào rãnh, làm tời, mắc cáp kết hợp với hệ thống kéo neo đã có sẵn để lôi con tàu nặng hơn 100 tấn ra khỏi bãi cạn ngay trong đêm. Sở dĩ chúng tôi phải làm ngay trong đêm vì nếu để đến sáng hôm sau thì chẳng biết điều gì sẽ xảy ra. Bởi nơi con tàu mắc cạn gần ngay một hòn đảo nhỏ thuộc quần đảo Hoàng Sa do hải quân ngụy trấn giữ.
Thời gian “chiến đấu” cùng bóng đêm đã xuất hiện những tấm gương quên mình. Tôi cứ nhớ mãi tấm gương của hai thủy thủ già là bác Trần Nhợ, quê ở Bình Định và bác Nguyễn Văn Lộc, quê ở Núi Thành (Quảng Nam). Lúc đó, hai bác đều đã ở tuổi 50 (sau đó, hai bác đều hy sinh trong một chuyến tàu đưa hàng vào Nam). Còn trong các thủy thủ trẻ, có Nguyễn Công Ở, quê Quảng Bình, đã lập công xuất sắc, sau chuyến này được Bác Hồ tặng chiếc đồng hồ mạ vàng mà trang Tiếp lửa truyền thống, Báo Quân đội nhân dân đã phản ánh qua bài “Cảm tử cứu tàu không số” ngày 3-6-2011... Đó là những đảng viên đã nhận về mình mọi việc nguy hiểm. Nhờ có những con người như vậy, chúng tôi đã đưa tàu vượt ra khỏi bãi cạn, tiếp tục cuộc hành trình vào bến Cà Mau theo đúng kế hoạch. Chúng tôi đã được chỉ huy Lữ đoàn 125 công nhận: “Lập được chiến công xuất sắc dâng mừng sinh nhật Bác Hồ kính yêu và làm tiền đề cho một giai đoạn vận chuyển vũ khí vào chiến trường miền Nam bằng tàu mới hiện đại”.
Sau chuyến đi vượt qua sự cố mắc cạn đó, chúng tôi liên tiếp thành công trong các chuyến vận chuyển vũ khí vào miền Nam, góp phần giúp quân dân Khu 5 và Tây Nguyên liên tiếp giành thắng lợi trong các trận đánh lớn, giải phóng nhiều vùng dân cư, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Bây giờ, mỗi lần nhớ lại chuyến đi bị mắc cạn ở Biển Đông năm nào, lòng tôi không khỏi xúc động. Cứ nghĩ đến những hiểm nguy rình rập đã qua, lại thấy thành công của Đoàn tàu không số thật vĩ đại. Tôi càng bồi hồi hơn khi nhớ về những người đồng đội đã hòa thân mình vào biển cả mênh mông để góp phần đem lại chiến thắng rực rỡ cho đất nước, cho dân tộc.
Trần Tiền Vệ, Nguyên thủy thủ Đoàn tàu không số