Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2015

Tàu tên lửa tấn công nhanh mạnh nhất Đông Bắc Á có hơn Molniya?



Gần đây một số chuyên gia quân sự quốc tế cho rằng Việt Nam nên mua tàu tên lửa cỡ nhỏ Gumdoksuri của Hàn Quốc để tăng cường sức mạnh, tuy nhiên lớp tàu này có ưu việt hơn Molniya?

    Gumdoksuri (hay còn được gọi với cái tên PKG) là lớp tàu tên lửa tấn công nhanh của Hải quân Hàn Quốc được đóng phục vụ mục đích tuần tra ven bờ. Chiếc đầu tiên của lớp có tên Yoon Youngha mang số hiệu 711 chính thức vào biên chế ngày 17.12.2008.
    Tính đến thời điểm hiện tại đã có tất cả 17 chiếc Gumdoksuri đi vào hoạt động, đây được xem là lớp tàu tên lửa tấn công nhanh tốt nhất khu vực Đông Bắc Á. Trong ảnh là tàu ROKS Yoon Youngha số hiệu 711 trước lễ hạ thủy.
    Hàn Quốc bắt đầu phát triển tàu tuần tra lớp PKG vào năm 2003, sau khi một tàu lớp Chamsuri (PKM) bị chìm trong cuộc đụng độ với Hải quân Triều Tiên ngày 29.6.2002. Chương trình nghiên cứu có mã PKX được xem như dự án hiện đại hóa hạm đội tàu tuần tra của Hải quân Hàn Quốc.
    PKX gồm 2 phân lớp: tàu tên lửa PKG-A có lượng giãn nước 500 tấn được thiết kế để thực hiện một số nhiệm vụ thay cho tàu hộ vệ lớp Pohang và tàu pháo PKG-B có lượng giãn nước 200 tấn sẽ thay thế đội tàu tuần tra lớp Chamsuri đã khá cao tuổi.
    Theo kế hoạch đã được phê duyệt, Hải quân Hàn Quốc dự định đóng tất cả 18 tàu tên lửa PKG-A và 24 tàu pháo PKG-B.
    Phiên bản PKG-A có lượng giãn nước đầy tải 570 tấn; chiều dài 63 m; chiều rộng 9 m; mớn nước 3,2 m; thủy thủ đoàn 40 người. Đơn giá một tàu vào thời điểm năm 2009 là 37,7 triệu USD.
    Tàu được trang bị kết hợp 2 động cơ turbine khí General Electric LM500 cùng 2 động cơ MTU 12V 595 TE90 cho tốc độ tối đa 41,5 hải lý/h (76,9 km/h).
    Điểm đặc biệt của Gumdoksuri là tàu không có chân vịt như truyền thống mà lại sử dụng hệ thống đẩy phản lực nước cho khả năng xoay trở rất nhanh, đặc biệt thích hợp khi hoạt động ở vùng nước nông.
    Tuy nhiên hệ thống đẩy phản lực nước cũng có nhược điểm là chi phí cao, dễ bị hỏng hóc và chỉ đạt hiệu suất tốt khi chạy ở tốc độ cao.
    Hệ thống điện tử của Gumdoksuri khá tinh vi và hiện đại gồm radar tìm kiếm bề mặt STX SPS-100K; radar kiểm soát đường không 3D LIG Nex1 SPS-540K; radar kiểm soát hỏa lực Saab CEROS 200 và hệ thống ngắm quang điện tử do liên doanh Samsung Thales sản xuất.
    Ngoài ra, tàu còn được trang bị hệ thống tác chiến điện tử LIG Nex1 Sonata SLQ-200(V)K và 2 hệ thống phóng mồi bẫy KDAGAIE Mark 2.
    Phía trước tàu là pháo hạm Hyundai Wia cỡ 76 mm do Hàn Quốc chế tạo theo nguyên mẫu Oto Melara Super Rapid. Pháo sử dụng loại đạn 76 x 636 mmR có trọng lượng 12,34 kg; sơ tốc 905 m/s; tầm bắn 16 km với đạn thường và lên tới 40 km với đạn tăng tầm Vulcano; tốc độ bắn 120 phát/phút.
    Đảm nhiệm chức năng phòng không là pháo hạm Doosan DST nòng đôi cỡ 40 mm bố trí phía sau tàu, ngoài ra còn có thêm các tên lửa phòng không vác vai KP-SAM Shingung (hay còn gọi là Chiron).
    Vũ khí mạnh nhất của Gumdoksuri là 4 tên lửa hành trình chống hạm cận âm SSM-700K Hae Sung do Hàn Quốc tự chế tạo trong nước dựa trên việc tham khảo tên lửa Exocet của Pháp và Harpoon của Mỹ.
    Tên lửa SSM-700K có trọng lượng 718 kg; dài 5,46 m; đường kính 0,54 m; tầm bắn 150 km và tốc độ hành trình đạt tới Mach 0,85 (1.013 km/h). Đơn giá một quả là khoảng 2,3 triệu USD tại thời điểm chính thức đưa vào trang bị năm 2006.
    Có thể thấy rằng lớp tàu tên lửa tấn công nhanh Gumdoksuri của Hải quân Hàn Quốc ngoài thiết kế giúp làm giảm diện tích phản xạ radar thì năng lực tác chiến hoàn toàn không có gì nổi trội hơn Molniya của Việt Nam, nếu không muốn nói là còn có phần thua sút về hỏa lực.
    Việt Nam hoàn toàn không cần thiết phải mua tàu tên lửa lớp Gumdoksuri của Hàn Quốc như lời gợi ý của một vài chuyên gia, nhất là khi chúng ta đã tự đóng được tàu Molniya trong nước.
    Theo Đại lộ

    Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015

    Cận cảnh chiếc tàu hộ vệ tên lửa độc nhất của Hải quân Việt Nam.


    Cận cảnh chiếc tàu hộ vệ tên lửa độc nhất của Hải quân Việt Nam
    BPS-500 là tàu hộ vệ tên lửa hiện đại đầu tiên được đóng trong nước với sự trợ giúp kỹ thuật từ các chuyên gia nước ngoài.

    BPS-500 là dự án hợp tác đóng tàu quân sự giữa Nga và Việt Nam, trong đó đại diện phía Nga là Cục thiết kế phương Bắc (SPKB). Chiếc BPS-500 được nhà máy đóng tàu Ba Son đóng hoàn chỉnh, hạ thủy và chạy thử trên biển vào tháng 3/1999.
    Trong ảnh: BPS-500 trong quá trình chạy thử đường dài. Nguồn: Quân đội nhân dân.
    Tàu hộ vệ tên lửa BPS-500 được đóng theo công nghệ module tiên tiến với bề mặt góc cạnh nhằm giảm diện tích phản xạ radar, giúp tàu có khả năng tàng hình nhẹ. Trong ảnh: BPS-500 sau khi được hoàn thiện. Nguồn: Quân đội nhân dân.

    Điểm đặc biệt của BPS-500 là không sử dụng chân vịt như truyền thống mà sử dụng hệ thống đẩy pump-jet (phản lực nước).
    Hệ thống pump-jet cho khả năng vận hành tốt hơn ở vùng nước nông, khả năng cơ động cao hơn nhiều khi kết hợp với vòi phụt chỉnh hướng và độ ồn khi vận hành giảm đáng kể so với chân vịt thường. Trong ảnh: Hệ thống đẩy pump-jet của BPS-500. Nguồn VTV1.
    Sau khi chính thức vào biên chế, BPS-500 chủ yếu hoạt động ở vùng thềm lục địa và vùng biển phía Tây Nam. Trong ảnh: BPS-500 thực hiện tuần tra tại vùng biển ngoài khơi Vũng Tàu. Nguồn: Báo Bà Rịa - Vũng Tàu.
    Hệ thống điện tử của tàu gồm radar trinh sát trên không và bề mặt Pozitiv-E bố trí trong nắp chụp trên đỉnh tháp radar; radar điều khiển hỏa lực MR-123 và radar hàng hải MR-231.
    So với Molniya 1241.8 thì BPS-500 không được trang bị radar trinh sát bề mặt Garpun-Bal. Trong ảnh: tháp radar của BPS-500. Nguồn: Lao động.
    BPS-500 được thiết kế chuyên biệt cho nhiệm vụ tiêu diệt tàu mặt nước, vũ khí của tàu gồm 1 pháo tự động AK-176M cỡ 76,2 mm với 152 viên đạn bố trí phía trước mũi tàu.
    Pháo AK-176M bắn những viên đạn có trọng lượng 12,4 kg; tầm bắn hiệu quả 10 km, tối đa 15,5 km; tốc độ bắn 120 phát/phút; sơ tốc đạn 980 m/s. Trong ảnh: Pháo AK-176M trên BPS-500. Nguồn: Tuổi trẻ.
    Vũ khí chủ lực của BPS-500 là 8 tên lửa hành trình đối hạm 3M24 Uran-E có tầm bắn 130 km; tốc độ hành trình Mach 0,8; mang theo đầu đạn nặng 145 kg; độ cao bay giai đoạn công kích mục tiêu chỉ từ 3 - 5 m. Trong ảnh: Tên lửa Uran-e của tàu BPS-500. Nguồn: Tiền Phong.
    Để chống lại các cuộc tấn công đường không của máy bay và tên lửa đối hạm, tàu được trang bị 1 pháo cao tốc AK-630M cỡ 30 mm. Pháo AK-630M có tốc độ bắn 5.000 phát/phút; tầm bắn hiệu quả 4.000 m; sơ tốc đạn 900 m/s. Trong ảnh: pháo phòng không AK-630M trên tàu BPS-500. Nguồn: Tuổi trẻ.
    Mặc dù tính năng khá tiên tiến, tuy nhiên chỉ có duy nhất 1 chiếc BPS-500 được hoàn thành. Việt Nam sau đó đã lựa chọn mẫu Molniya 1241.8 để đóng với số lượng lớn.
    Trong ảnh: tàu hộ vệ tên lửa BPS-500 bên cạnh tàu hộ vệ săn ngầm Petya. Nguồn: Quân đội nhân dân.
    Gần đây đã xuất hiện một số thông tin cho biết phía Nga đang tiến hành cải tiến, nâng cấp tàu hộ vệ tên lửa BPS-500 cho Việt Nam để có thể đáp ứng tốt hơn yêu cầu tác chiến hiện đại.
    Trong ảnh: tàu hộ vệ tên lửa BPS-500 bên cạnh Molniya 1241.8 và Gepard 3.9 tại Quân cảng Cam Ranh. Nguồn: Quân đội nhân dân.
     Theo Đại Lộ

    Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

    Quốc gia nào đang sở hữu nhiều tàu tên lửa Tarantul/Molniya nhất?


    Trong tương lai gần, Việt Nam sẽ vươn lên giữ vị trí số 2 trong danh sách các quốc gia có nhiều tàu hộ vệ tên lửa cỡ nhỏ Tarantul/Molniya trong biên chế.

      Tàu hộ vệ tên lửa cỡ nhỏ Dự án 1241 được nghiên cứu, phát triển cho Hải quân Liên Xô từ cuối thập niên 1970 để thay thế tàu tên lửa Dự án 205 Osa đã cũ và không đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu của tác chiến hiện đại.
      Dự án 1241 gồm 4 biến thể chính là 1241.1; 1241.RE; 1241.1M/1241.1MR và 1242.1/1241.8 trong đó 3 biến thể đầu được NATO định danh là Tarantul, biến thể cuối cùng có tên gọi Molniya (Lightning).
      Hiện tại, các tàu tên lửa Tarantul/Molniya đang phục vụ trong biên chế của hải quân 8 quốc gia trên thế giới. Dưới đây là danh sách những nước đang sử dụng loại tàu tên lửa này xếp theo thứ tự giảm dần về số lượng.
      1. Nga
      Tàu hộ vệ tên lửa Tarantul Dự án 1241.1MR của Hải quân Nga
      Hải quân Nga đang có trong biên chế 23 tàu tên lửa Tarantul/Molniya, là quốc gia sở hữu số lượng lớn nhất lớp tàu tên lửa này. Các tàu tên lửa Tarantul của Hải quân Nga chủ yếu là ở biến thể 1241.1MR (21 tàu), được trang bị 4 tên lửa hành trình chống hạm siêu âm P270 Moskit.
      Tàu hộ vệ tên lửa Tarantul Dự án 1241.1M của Hải quân Nga
      Trong số 2 chiếc Tarantul/Molniya còn lại của Nga thì có 1 chiếc thuộc Dự án 1241.1M, tên lửa đối hạm trang bị cho tàu là loại P15 Termit thế hệ cũ thay vì P270 Moskit.
      Tàu hộ vệ tên lửa Molniya Dự án 1242.1 của Hải quân Nga
      Dự án 1242.1 cũng chỉ gồm 1 chiếc duy nhất được Hải quân Nga dùng với mục đích thử nghiệm, biến thể xuất khẩu của nó chính là Dự án 1241.8 đang phục vụ trong Hải quân Việt Nam và Ấn Độ.
      2. Ấn Độ
      Tàu hộ vệ tên lửa Tarantul Dự án 1241.RE của Hải quân Ấn Độ
      Tàu tên lửa Tarantul/Molniya được Ấn Độ đóng trong nước (với tổng số 12 chiếc) theo giấy phép của Nga và họ định danh là lớp Veer .
      Hiện tại Hải quân Ấn Độ đang có trong biên chế 10 chiếc Tarantul Dự án 1241.RE, so với Tarantul của Nga thì biến thể xuất khẩu có hệ thống điện tử khá khiêm tốn khi chỉ được trang bị radar kiểm soát mặt nước Garpun-Bal và radar kiểm soát hỏa lực MR-123 Vympel.
      Tàu hộ vệ tên lửa Molniya Dự án 1241.8 của Hải quân Ấn Độ
      Biến thể Molniya 1241.8 (gồm 2 chiếc K91 và K92) của Ấn Độ khá đặc biệt khi họ quyết định sử dụng pháo hạm Oto Melara 76 SRGM thay vì AK-176 của Nga.
      3. Việt Nam
      Tàu hộ vệ tên lửa Tarantul Dự án 1241.RE của Hải quân Việt Nam. Nguồn: Quân đội nhân dân
      Hải quân Nhân dân Việt Nam bắt đầu đặt mua tàu tên lửa Tarantul Dự án 1241.RE từ năm 1999, 4 tàu đã được chuyển giao vào đầu những năm 2000 mang các số hiệu HQ-371; HQ-372; HQ-373 và HQ-374.
      Tàu hộ vệ tên lửa Molniya Dự án 1241.8 của Hải quân Việt Nam. Nguồn: Quân đội nhân dân
      Sau đó đến năm 2007, Hải quân Việt Nam nhận được 2 chiếc Molniya 1241.8 đầu tiên mang số hiệu HQ-375 và HQ-376, đây chính là những tàu chiến có năng lực đối hạm mạnh nhất của Việt Nam.
      Hiện nay Việt Nam đang đóng trong nước 6 tàu tên lửa Molniya 1241.8 theo giấy phép của Nga, dự kiến đến cuối năm 2015, Việt Nam sẽ có tổng cộng 12 tàu hộ vệ tên lửa Taraltul/Molniya hiện đại.
      4. BaLan
      Tàu hộ vệ tên lửa Tarantul Dự án 1241.RE của Hải quân Ba Lan
      Hải quân Ba Lan có tất cả 4 tàu tên lửa Tarantul 1241.RE nhận được từ thời Liên Xô, hiện nay các tàu chiến trên chỉ đảm nhiệm được chức năng tàu pháo tuần tra do Ba Lan không còn tên lửa P15 để trang bị. Hiện tại Ba Lan đang khá tích cực tìm khách hàng nước ngoài để bán lại toàn bộ 4 tàu tên lửa loại này.
      5. Romania
      Tàu hộ vệ tên lửa Tarantul Dự án 1241.RE của Hải quân Romania
      Hải quân Romania đang vận hành 3 tàu tên lửa Tarantul Dự án 1241.RE, toàn bộ 3 tàu trên đều đóng căn cứ tại cảng Mangalia.
      6. Ukraine
      Tàu hộ vệ tên lửa Tarantul Dự án 1241.1MR của Hải quân Ukraine
      Hải quân Ukraine có trong biên chế 2 tàu tên lửa Tarantul Dự án 1241.1MR. Tuy nhiên khác với Nga, các chiến hạm 1241.1MR của Ukraine chỉ được trang bị 4 tên lửa P15 Termit thay vì P270 Moskit.
      Có một số thông tin cho rằng cả 2 tàu trên của Ukraine đều đã bị quân Nga chiếm giữ sau khi sáp nhập bán đảo Crimea.
      7.8. Yemen và Bulgaria
      Tàu hộ vệ tên lửa Tarantul Dự án 1241.RE được sử dụng làm viện bảo tàng
      Hải quân Yemen và Bulgaria được cho là vẫn còn trong biên chế 1 tàu tên lửa Tarantul 1241.RE, tuy nhiên không rõ tình trạng kỹ thuật của những chiến hạm này hiện nay ra sao.
      Theo Đại lộ

      Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014

      Hai tàu Gepard chống ngầm của Việt Nam sẽ về nước năm 2016.


      Hãng tin Nga TASS trích lời kỹ sư trưởng Yevgeny Matveyev cho biết, tiến độ đóng 2 tàu khu trục Gepard tiếp theo cho Việt Nam đang đi đúng tiến độ. Đây là 2 chiếc thuộc phiên bản chống ngầm.
      HQ-011 và HQ-012 là 2 tàu khu trục Gepard 3.9 mà Việt Nam đã nhận.
      Đại diện của nhà máy đóng tàu Gorky Zelenodolsk phát biểu trước báo giới tại Triển lãm vũ khí quốc tế INDO Defence ở Jakarta (Indonesia) cho biết thêm, 2 tàu khu trục lớp Gepard 3.9 mà Nga đang đóng cho Việt Nam sẽ được bàn giao cho khách hàng đúng tiến độ - vào cuối năm 2016.
      "Một vài tàu khu trục nhỏ tương tự đã được đóng và bàn giao cho Việt Nam trước đây, bây giờ hai chiếc tàu tiếp theo đang được đóng tại nhà máy Gorky Zelenodolsk , chúng được trang bị với các loại trang thiết bị vũ khí khác nhau. Thời hạn giao hàng là cuối năm 2016", kỹ sư trưởng của Cục Thiết kế Zelenodolsk ông Yevgeny Matveyev cho biết.
      Theo các thông tin được công bố bởi nhà máy đóng tàu thì các tàu khu trục nhỏ Gepard tiếp theo trong hợp đồng của Việt Nam sẽ được trang bị hệ thống tên lửa diệt hạm, hệ thống trang thiết bị vũ khí chống ngầm... tiến độ đóng tàu đang được hoàn thành đúng tiến độ.
      Hai tàu khu trục nhỏ Gepard 3,89 với cấu hình vũ khí chống ngầm đang đóng cho Hải quân Việt Nam vẫn đang tiếp tục được hoàn thành tại nhà máy đóng tàu Gorky Zelenodolsk trong khuôn khổ hợp tác kỹ thuật-quân sự quốc tế. 
      Hợp đồng đóng hai tàu khu trục Gepard đề án 11.661 trước đây đã được ký kết vào năm 2005. Nhà máy đã đóng hoàn thành và bàn giao cho Việt Nam trong năm 2011.
      Ngoài ra, hai tàu này còn được trang bị hệ thống đẩy hiệu suất cao tiên tiến.
      Chiến hạm lớp Gepard 3.9 có chiều dài 102m, rộng 13,7m, lượng giãn nước 2.100 tấn, mớn nước 5,3m, vận tốc tối đa 28 hải lý/giờ, tầm hoạt động 7.000 km, hoạt động liên tục 15 ngày, thủy thủ đoàn 98 người. 
      Tàu được trang bị hệ thống thiết bị điện tử và vũ khí hiện đại, bao gồm: 1 pháo AK-176M 76,2 mm với 500 viên đạn; 2 pháo phòng không cao tốc AK-630M 30mm, cơ số đạn mỗi khẩu là 2.000 viên; 8 tên lửa hành trình chống hạm Kh-35 Uran-E; 1 hệ thống CIWS Palma gồm 2 pháo phòng không 6 nòng AO-18K cỡ 30 mm, 8 tên lửa phòng không 9M311 Sosna-R; hệ thống phóng mồi bẫy PK-10...
      Vũ khí chủ lực của hai chiến hạm này chính là tên lửa Kh-35 Uran-E có tầm bắn 130 km, tốc độ hành trình Mach 0,8; giai đoạn tấn công mục tiêu tên lửa hạ độ cao xuống cực thấp, chỉ cách mặt biển 3-5m; tên lửa sở hữu công nghệ tàng hình và chống nhiễu hiện đại, có thể hạ gục những tàu mặt nước có lượng giãn nước lên tới 5.000 tấn.
      Hồ Trung Nghĩa

      Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014

      Sức mạnh kho tên lửa chống hạm Việt Nam khi thêm Exocet Block-3.


      Kh-35E được coi là sát thủ diệt hạm của VN, nếu được trang bị thêm Exocet Block-3, kho tên lửa chống hạm của Việt Nam mạnh cỡ nào?
      Sức mạnh kho tên lửa chống hạm Việt Nam khi thêm Exocet Block-3
      Hồi cuối tháng 11/2013, Pháp đã tiến hành thử nghiệm thành công hệ thống tên lửa chống hạm phiên bản mới Exocet MM40 Block3. Được biết, đây là loại tên lửa được trang bị trên chiến hạm Sigma trong tương lai của Việt Nam.
      Sức mạnh kho tên lửa chống hạm Việt Nam khi thêm Exocet Block-3
      Theo đó, sát thủ diệt hạm Exocet MM40 Block 3 là một biến thể cải tiến mới nhất từ loại Exocet MM40 Block 2, tăng cường khả năng hoạt động, mở rộng tầm bắn và đặc biệt là hiệu quả tác chiến ở khu vực ven bờ.
      Sức mạnh kho tên lửa chống hạm Việt Nam khi thêm Exocet Block-3
      MM40 Block 3 có thể tiếp cận mục tiêu theo một quĩ đạo bay 3 chiều đã xác định trước, cơ động tấn công trong giai đoạn cuối ở độ cao cách mặt biển rất thấp. Thiết kế khung của tên lửa Exocet MM40 Block 3 giảm thiểu tối đa tiết diện phản xạ tín hiệu sóng radar, giúp nó có khả năng tàng hình nhẹ.
      Sức mạnh kho tên lửa chống hạm Việt Nam khi thêm Exocet Block-3
      MM40 Block 3 là tên lửa hành trình chống tàu mặt nước tốc độ cận âm được giới thiệu lần đầu năm 1980. MM40 Block 3 được dùng để tấn công tiêu diệt các tàu chiến cỡ nhỏ, cỡ trung (như tàu hộ vệ, tàu hộ tống, tàu khu trục). Tuy nhiên, MM40 cũng có khả năng đánh chìm được tàu sân bay nếu dùng nhiều loạt đạn tấn công cùng lúc.
      Sức mạnh kho tên lửa chống hạm Việt Nam khi thêm Exocet Block-3
      Tên lửa có chiều dài 5,79m, đường kính thân 0,35m, sải cánh 1,13m, trọng lượng phóng 875kg. Nó được lắp một động cơ rocket nhiên liệu rắn cho hành trình bay cho phép đạt tầm bắn từ 4-70km, tốc độ hành trình cận âm (Mach 0,9). Trong hành trình bay, độ cao tên lửa cách mặt nước khoảng 100m. Phụ thuộc vào điều kiện sóng biển mà pha cuối tên lửa bay cách mặt biển chỉ 2-15m.
      Sức mạnh kho tên lửa chống hạm Việt Nam khi thêm Exocet Block-3
      Exocet MM40 Block 3 được đánh giá là một tên lửa diệt hạm hiện đại bậc nhất của Hải quân Pháp và cả châu Âu. Vì vậy, sự có mặt của MM40 Block 3 cùng với Kh-35E trong kho tên lửa chống hạm VN sẽ là sự bổ sung hoàn chỉnh nhất. (Trong ảnh: Hệ thống tên lửa Kh-35E)
      Sức mạnh kho tên lửa chống hạm Việt Nam khi thêm Exocet Block-3
      Hiện nay, sát thủ diệt hạm Kh-35E được trang bị trên các chiến hạm hàng đầu của VN. Kh-35E (NATO định danh là SS-N-25 Switchblade) là loại tên lửa chống tàu tốc độ cận âm, đa năng có thể phóng từ nhiều phương tiện khác nhau (tàu chiến, máy bay cánh bằng, trực thăng, bệ phóng di động).
      Sức mạnh kho tên lửa chống hạm Việt Nam khi thêm Exocet Block-3
      Tên lửa được phát triển bởi Phòng thiết kế Zvezda (Tổng Công ty Tên lửa Chiến thuật Nga) vào năm 1983 nhằm thay thế cho P-15 Termit đã lỗi thời. Tên lửa có thân hình “khiêm tốn” so với các loại tên lửa chống tàu khác do Liên Xô sản xuất. Kh-35E dài 3,75m, sải cánh 0,93m, đường kính 0,42m, trọng lượng phóng 630kg (với động cơ tăng cường). Trên thân quả đạn có 4 cánh ổn định ở giữa thân (có thể gập gọn) cùng 4 cánh lái ở đuôi.
      Sức mạnh kho tên lửa chống hạm Việt Nam khi thêm Exocet Block-3
      Với trọng lượng đầu đạn nặng 145kg, Kh-35E có khả năng đánh chìm tàu chiến lượng giãn nước chừng 5.000 tấn. Khi chiến đấu, dữ liệu về mục tiêu được nạp vào tên lửa từ tàu phóng hoặc từ các nguồn bên ngoài. Kh-35E rời ống phóng bằng một động cơ tăng cường nhiên liệu rắn, quá trình bay đến mục tiêu tên lửa sử dụng động cơ phản lực cánh quạt đẩy.
      Sức mạnh kho tên lửa chống hạm Việt Nam khi thêm Exocet Block-3
      Trong hành trình bay, Kh-35E được dẫn đường bằng hệ định vị quán tính ở pha giữa và dùng radar chủ động ARGS-35E (kích hoạt khi cách mục tiêu 20km) ở pha cuối. Ở giai đoạn tiếp cận mục tiêu, quả đạn hạ độ cao xuống còn 5m so với mặt nước biển khiến cho hệ thống đối phó trên chiến hạm địch rất khó đánh chặn. Kh-35E có tầm bắn 130km.
      Sức mạnh kho tên lửa chống hạm Việt Nam khi thêm Exocet Block-3
      Theo dữ liệu của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockhom (SIPRI), năm 2004, Việt Nam đã ký thỏa thuận mua 400 quả Kh-35E. Việc chuyển giao hoàn tất trong giai đoạn 2008-2012. Với sức mạnh của Kh-35E cùng với Exocet MM40 Block 3 trong tương lai, sức mạnh chống hạm của Hải quân Việt Nam được tăng lên rất nhiều.

      Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2014

      Việt Nam có lưới lửa tác chiến chống tàu đổ bộ gần bờ.

      Dù dùng đạn tên lửa thế hệ cũ nhưng tổ hợp tên lửa bờ 4K51 Rubezh của Việt Nam vẫn hữu hiệu trong tác chiến chống tàu đổ bộ.Dù dùng đạn tên lửa thế hệ cũ nhưng tổ hợp tên lửa bờ 4K51 Rubezh của Việt Nam vẫn hữu hiệu trong tác chiến chống tàu đổ bộ.
      Tổ hợp tên lửa bờ 4K51 Rubezh trang bị đạn tên lửa có sức công phá cực mạnh, rất hữu hiệu trong tác chiến chống tàu địch đổ bộ gần bờ.
      4K51 Rubezh là tổ hợp tên lửa bờ biển do Liên Xô phát triển từ năm 1970 bổ sung cho tổ hợp 4K44 Redut (Việt Nam cũng có trong trang bị) trong tác chiến chống tàu tầm gần. 
      Tổ hợp được thiết kế đơn giản, tính cơ động cao gồm: 4 xe phóng đạn (kiêm điều khiển) 3P51 (trong ảnh), 4 xe chở đạn tên lửa với 16 quả đạn.
      Dù dùng đạn tên lửa thế hệ cũ nhưng tổ hợp tên lửa bờ 4K51 Rubezh của Việt Nam vẫn hữu hiệu trong tác chiến chống tàu đổ bộ.
      Hiện nay, trong "lá chắn" phòng thủ bờ biển của Hải quân Nhân dân Việt Nam ngoài các tổ hợp tên lửa bờ 4K44 Redut có tầm bắn siêu xa, K-300P Bastion-P hiện đại nhất, còn có tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ tầm ngắn mang tên 4K51 Rubezh cũng do nước bạn Liên Xô viện trợ từ những năm 1980.
      Những năm 1960, lực lượng phòng thủ bờ biển Hải quân Liên Xô biên chế chủ yếu tổ hợp 4K44 Redut có tầm bắn siêu xa, đầu đạn cỡ lớn nhưng mỗi xe bệ phóng chỉ có một đạn và phải có nhiều phương tiện mang khí tài chiến đấu đi cùng. Lúc này, hải quân cần một tổ hợp tên lửa cơ động cao hơn, nhưng tầm bắn ngắn hơn bổ sung vào lưới phòng thủ bờ.
      Năm 1970, Cục thiết kế Raduga được giao nghiên cứu phát triển tổ hợp tên lửa thế hệ mới. Trong quá trình phát triển, các nhà thiết kế quyết định lựa chọn tên lửa hành trình chống tàu tầm ngắn P-15 Termit (NATO định danh là SS-N-2) trang bị cho tổ hợp, định danh là 4K51 Rubezh.
      Từ năm 1978, tổ hợp 4K51 Rubezh chính thức được chấp thuận đưa vào phục vụ trong Hải quân Liên Xô.
      Có thể nói, so với 4K44 Redut, tổ hợp 4K51 Rubezh gọn nhẹ hơn rất nhiều với việc tích hợp cả đài điều khiển hỏa lực, radar và ống phóng trên cùng một khung gầm xe bánh lốp cơ động cao.

      "Tìm hiểu" thành phần tên lửa 4K51 Rubezh

      Biên chế một khẩu đội tên lửa 4K51 Rubezh gồm có 4 xe phóng đạn 3P51, 4 xe nạp đạn và 16 quả đạn tên lửa hành trình chống tàu P-15M – cải tiến từ đạn P-15U.
      Xe phóng đạn 3P51 thiết kế đặt trên khung gầm cơ sở xe vận tải bánh lốp hạng nặng MAZ-543M. Trên xe phóng lắp đặt cabin điều khiển hỏa lực, đài radar trinh sát – dẫn bắn Harpoon, cụm 2 ống phóng tên lửa KT-161 cùng một số thành phần phụ khác.
      vũ khí
      Anten radar trinh sát - dẫn bắn Harpoon trong trạng thái chiến đấu.
      Trong đó, đài radar trinh sát – dẫn bắn Harpoon được dùng để phát hiện mọi mục tiêu trên mặt biển (tầm trinh sát 40-100km) và làm nhiệm vụ cung cấp lệnh dẫn đường cho tên lửa. Anten của radar khi hành quân thu lại trong các ống thủy lực gấp gọn phía trước cabin điều khiển, khi chiến đấu nhờ hệ thống thủy lực được nâng cao lên 7,3m.
      Cụm ống phóng tên lửa KT-161 trong trạng thái hành quân thì cửa ống phóng quay về phía sau, khi chiến đấu thì quay một góc về hướng bắn 110 độ và đưa vào góc nâng phóng đạn 20 độ.
      Tổ hợp Rubezh trang bị đạn tên lửa hành trình chống tàu tầm ngắn tốc độ dưới âm P-15M được cải tiến dựa trên đạn P-15U. Đạn P-15M có chiều dài khoảng 6,56m, sải cánh 2,5m, đường kính thân (lớn nhất) 0,78m, trọng lượng phóng 2,5 tấn, lắp đầu đạn nổ phá uy lực mạnh 513kg (có một số nguồn thì cho là 454kg). 
      Trên thân tên lửa, có 3 cánh đuôi tam giác gắn liền thân và 2 cánh lớn ở giữa thân được gấp gọn trong trạng thái hành quân.
      vũ khí
      Đạn tên lửa P-15M rời bệ phóng với động cơ khởi tốc và động cơ hành trình cùng đốt.
      Về động cơ đạn, P-15M lắp động cơ khởi tốc nhiên liệu rắn đặt ở phía dưới thân gần đuôi tên lửa và động cơ hành trình nhiên liệu lỏng cho phép đạt tốc độ hành trình 1.100km/h (Mach 0,9), tầm bắn từ 8-80km (nghĩa là vô hiệu với mục tiêu dưới 8km), trần bay của tên lửa 25-50-250m được nạp vào máy tính trên tên lửa trước khi phóng.
      Đạn P-15M trang bị hệ thống định vị quán tính trong giai đoạn bay hành trình ở pha đầu, pha giữa, ở pha cuối có thể dùng 2 phương án dẫn đường gồm: tự dẫn bằng radar chủ động kích hoạt khi cách mục tiêu 10-20km; dùng đầu tự dẫn hồng ngoại Snegir-M.

      Rất hữu hiệu khi chống tàu đổ bộ

      Khi có lệnh chiến đấu, khẩu đội tên lửa sẽ nhanh chóng cơ động ra trận địa phòng thủ bờ biển. Tại trận địa, xe phóng sẽ nâng anten radar lên độ cao cần thiết, quay ống phóng về hướng phóng và đưa ống phóng về tư thế phóng đạn. Trong cabin điều khiển, sĩ quan theo dõi màn hình radar tìm kiếm, phát hiện, xác định tọa độ và nạp thông tin mục tiêu vào bộ nhớ đạn tên lửa. Sau đó, chỉ chờ lệnh của chỉ huy kíp chiến đấu là phóng đạn.
      Sau khi ấn nút phóng, tên lửa rời ống phóng bằng động cơ khởi tốc, ra khỏi ống phóng thì động cơ hành trình cũng khởi động đồng thời cánh chính tên lửa mở ra. Sau khi cháy hết nhiên liệu, động cơ khởi tốc sẽ tự động tách khỏi tên lửa và rơi xuống biển.
      Tên lửa bay với động cơ nhiên liệu lỏng và hạ xuống độ cao hành trình theo lập trình sẵn.
      Ở pha cuối tiếp cận mục tiêu, đầu tự dẫn radar chủ động hoặc đầu tự dẫn hồng ngoại (cài đặt sẵn khi chưa phóng) tự khóa mục tiêu và điều khiển tên lửa tấn công bằng đầu đạn nửa tấn thuốc nổ.
      vu khí
      Có thể nói, tổ hợp tên lửa bờ 4K51 Rubezh có tính cơ động cao khi cả radar và bệ phóng tên lửa đều nằm cùng một xe.
      Có thể nói, tổ hợp tên lửa bờ 4K51 Rubezh có tính cơ động cao khi cả radar và bệ phóng tên lửa đều nằm cùng một xe, đạn tên lửa có sức công phá cực mạnh, xe phóng có thể phóng loạt 2 tên lửa vào mục tiêu hoặc là nhiều xe phối hợp phóng loạt nhiều đạn.
      Tuy nhiên, tổ hợp không phải là không có nhược điểm, không những thế đó còn là nhược điểm lớn. Tổ hợp dùng loại tên lửa chống tàu đã lỗi thời, kích thước quá lớn, tốc độ không cao, dễ bị gây nhiễu điện tử. 
      Động cơ tên lửa dùng nhiên liệu lỏng nên khả năng duy trì trạng thái sẵn sàng chiến đấu không cao (nhiên liệu lỏng không thể để lâu trong đạn mà phải chứa bên ngoài, khi chiến đấu thì nạp vào).
      Nhưng dẫu sao, với đầu đạn cực mạnh như vậy, đạn P-15M nói riêng và tổ hợp 4K51 Rubezh vẫn rất hữu hiệu khi tác chiến chống tàu vận tải, tàu đổ bộ cỡ lớn, nhỏ thường có hệ thống phòng thủ không mạnh, nó sẽ dễ đột phá hơn nhất là khi dùng phương án phóng loạt tên lửa.