Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

16-4 NGÀY NÀY NĂM ẤY.





15-4-1972 . Buổi sáng hôm ấy, chia tay buồn tưởng như muốn khóc. Có 4 thằng HN ra đảo cùng một ngày, bị chia mỗi thằng ở một tàu. Hôm nay 3 thằng theo tàu đi về xưởng X46 sửa chữa. Thể nào chúng nó cũng được tranh thủ về qua nhà? Thằng Nam còn chọc tôi nữa chứ: "Có cần người nhà gửi cái gì tao mang lên hộ". Tôi đứng một mình trên Quân cảng thẫn thờ. Sau khi tháo dây cho tàu, nhìn chân vịt khuấy nước đục ngầu vì nằm lâu ngày hà và san hô bám đầy, bỗng buột miệng nói: "Nhớ viết di chúc nhé!" thay vì nói :"Nhớ viết thư nhé". Ông lính cũ đứng kế bên Nam cằn nhằn : "Mẹ! Thằng này nói độc mồm,độc miệng ". Thủy thủ vốn kiêng đủ nói xui xẻo trước khi đi mà!Mấy hôm nay, bầu trời tự nhiên u ám như báo hiệu có một cái gì đó sắp xảy ra? Đơn vị được thông báo :"Tàu của Hải quân Mỹ đang di chuyển ra hướng Bắc", các đơn vị chuẩn bị vũ khí, lương thực sẵn sàng chiến đấu. Nhưng không biết ngày nào nó sẽ tấn công? Hôm nay hai tàu T140 của Khánh chuột và V624 của Nam "ba toác" đi sửa chữa ở Hải phòng. Tàu chúng nó đi mà quân cảng mọi ngày vui thế! Đầy ắp tiếng cười của mọi người nay im ắng hẳn.Đến sáng được thông báo khẩn cấp: "Máy bay Mỹ đêm qua đánh phá Hải phòng, Xưởng X46 cũng bị đánh". Thôi rồi! Không biết mấy thằng bạn mình có kịp tranh thủ về HN không? Hay bị vướng ở lại? Nếu ở lại thì có bị sao không?". Tàu của tôi và các tàu khác được lệnh ra khu neo sơ tán. Riêng tàu tôi về Hòn gai nằm đợi lệnh mới. Tàu buộc ké mấy cái xà lan đang đợi ăn than trong cảng. Suốt từ sáng đã báo động liên tục. Nhìn về hướng HP thấy khói đen kịt cả bầu trời như sắp có bão.Tin báo về kho xăng Thượng lý đã bị trúng bom. Từng tốp máy bay địch bay từ biển vào ném bom HP. Đầu đội nón sắt đứng trực chiến bên khẩu 12,7 ly, trời thì nắng như đổ lửa mà lòng cứ lo nghĩ về mấy thằng bạn giờ đây không biết thế nào? Nghe nói thằng Khánh bị thương? Mấy hôm sau, tàu đã chuyển ra neo ngoài vịnh Hạ long, đang ngủ trưa bỗng có người lay tôi dậy. Mở mắt ra thấy Khánh đang cười: "Uả! Tàu mày cập mạn khi nào? Tao nghe nói mày bị thương phải nằm viện cơ mà?" Nó dở lưng ra cho tôi coi, lưng lỗ chỗ mảnh đạn. Nhưng bị nhẹ. Hỏi chuyện thì được biết: Hai tàu cập Xưởng X46 buổi tối, tắm rửa, vệ sinh tàu xong, đang tí tởn mai hai thằng rủ nhau về HN. Thì 2 giờ sáng 16/4 máy bay Mỹ đánh HP. Khi máy bay Mỹ đánh phá, Khánh ngồi trên mâm pháo 37 li đạp cò, Nam khi đó được thuyền trưởng phân công sang tàu Khánh ở vị trí tiếp đạn nòng phải khẩu 37 ly trước mũi. Đang bắn thấy bỏng dát lưng,tưởng mình trúng bom Napan, Khánh vội bỏ bệ pháo nhảy xuống sông, anh em phải quăng phao xuống vớt lên. Đêm đó tàu Khánh hy sinh một anh lính Rada tên Hỷ quê Thái bình, anh đứng bắn bên khẩu 14,5 li mạn phải bị lãnh nguyên một trái bom bi vào người nát bét, hai mắt lồi ra biến dạng, chiếc mũ sắt anh đội bẹp dúm. Khánh được Nam cõng lên bờ đưa đi sơ cứu rồi về tàu. Hai tàu không sửa chữa gì nữa mà ra khu neo ngoài vịnh Hạ long núp.Kể từ lúc đó chúng tôi mới nhập ngũ được hơn hai tháng. Xuống tàu làm lính pháo thủ, mới được huấn luyện tháo lắp súng, lấy mục tiêu. Không thể tưởng tượng lúc ấy mình nhỏ con như thế nào? Cứ nghĩ mình khoác lên người bộ quần áo lính thì đã thành người lớn? Bây giờ nhìn lại con mình thì mới thấy mình còn trẻ con hơn chúng nó ! Khoảng hơn 1 tháng sau ,trong căn hầm chứa thủy lôi ngoài đảo ,dưới ánh sáng tù mù của đèn dầu . Chính trị viên phân đội đọc quyết định khen thưởng bằng khen cho Khánh, giấy khen cho Nam và những người khác. Tôi ngồi nghe mà cảm thấy tự hào về bạn mình. Có còn ai nghĩ dân HN chỉ biết ăn chơi không? Nhất là loại CÔCC như chúng tôi. Nhưng nói thật có một chút ghen tị với chúng nó.

Chiến đấu bảo vệ cảng Hải phòng.

Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

Đọc báo giùm bạn : Những trang đời huyền thoại (kỳ 3).

Những trang đời huyền thoại (Kỳ 3)

Kỳ ba: Vũng Rô - đêm Giao thừa năm ấy

QĐND Online - Trung tá Hồ Đắc Thạnh – Thuyền trưởng tàu không số năm xưa đã trở về cuộc sống bình dị giữa đời thường, nhưng trong ông vẫn tươi nguyên những ký ức của một thời vượt biển trên con đường huyền thoại. Và câu chuyện về “nắm đất thiêng” của cô giao liên trao cho ông trong chuyến vào bến Vũng Rô năm ấy mãi mãi là một kỷ niệm đẹp, ông luôn trân trọng, nâng niu...

Tuổi 75, ông vẫn khoẻ mạnh, giọng nói trầm và ấm; gương mặt phúc hậu, dễ gần; tác phong giản dị, cởi mở. Đó là những cảm nhận của tôi khi tiếp xúc với cựu binh Hồ Đắc Thạnh – nguyên thuyền trưởng tàu không số – người có 12 chuyến vượt biển, vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam...

Ông say sưa kể về ngày xưa với niềm tự hào... “Cuối năm 1964, sau khi thực hiện hai chuyến tàu chở vũ khí vào bến Vũng Rô thắng lợi, tôi được Tư lệnh Hải quân giao nhiệm vụ tiếp tục chỉ huy tàu vượt biển, đúng đêm Giao thừa có mặt tại Vũng Rô. Nhận mệnh lệnh, lòng tôi trào dâng niềm vui khó nói nên lời vì sắp trở về quê hương, được gặp lại đồng chí, đồng bào yêu dấu...

Chuyến đi đúng vào dịp Tết nên ngoài việc tiếp nhận vũ khí, theo dõi thời tiết, nắm tình hình địch, chuẩn bị hậu cần… chúng tôi còn chủ động gói bánh chưng, làm giò chả, chuẩn bị mứt Tết sẵn sàng đón xuân trên biển. Trước giờ ra khơi, tôi kiểm tra công tác chuẩn bị lần cuối. Đến khoang hàng hải, bắt gặp một thùng gỗ đậy kín, bên ngoài có dòng chữ “Quà vui Tết, đón xuân”, bên cạnh một cành đào Nhật Tân chúm chím nụ, tôi hỏi đồng chí Hồng Lỳ thủy thủ trưởng: “Thùng này có danh mục ghi trong phiếu chuyển hàng cho bến không?”. Đồng chí Phan Nhạn, máy trưởng nhanh nhảu trả lời: “Báo cáo thuyền trưởng, thùng này do tàu ta xuất phiếu thôi ạ!”. Tất cả cùng cười vang...

Buổi tiễn đưa cán bộ, chiến sỹ tàu 41 thực hiện “nhiệm vụ đặc biệt” trong đêm đông 1964 thật bùi ngùi, xúc động. Đồng chí Tư lệnh Quân chủng, Đoàn trưởng và Chính ủy đoàn căn dặn từng người chu đáo. Những nụ hôn thắm nồng, những bàn tay xiết chặt gửi gắm niềm tin. Tình cảm hậu phương làm ấm lòng cán bộ, thủy thủ trên đường vào tiền tuyến lớn miền Nam...

Ông Hồ Đắc Thạnh (bên phải, hàng trên) trước bia ghi công các anh hùng, liệt sỹ hi sinh trên tuyến đường biển huyền thoại.

Thời tiết không thuận lợi, sau ba ngày vượt sóng to, gió lớn, luồn lách tránh các tuyến tàu tuần tiễu của địch, chiều 30 tháng Chạp, tàu 41 chuyển hướng vào bờ. Trưa hôm đó, khi chúng tôi đang dùng bữa “tất niên”, thì chiến sỹ trực canh báo cáo: “Mạn phải 30 độ, cự li 3 hải lý, phát hiện hai tàu địch di chuyển về phía Nam!”. Lệnh chuẩn bị chiến đấu được phát ra, tất cả về vị trí. Các lớp ngụy trang vũ khí được triển khai vừa che mắt địch, vừa có thể phục vụ chiến đấu được ngay.

Qua ống nhòm, tôi thấy rõ hai tàu tuần tiễu địch đang di chuyển. Phải tránh! Tôi ra lệnh cho tàu 41 chuyển hướng để tránh và tạo khoảng cách xa hơn, lúc này thời gian đã 16 giờ chiều... Sau khi xác định lại vị trí trên hải đồ, tôi lệnh cho máy trưởng sử dụng tốc độ dự bị. Tàu tăng tốc hành quân giữa ánh hoàng hôn bao trùm lên mặt biển...

Gần nửa ngày chống chọi với sóng gió, đúng 23 giờ 50, tàu chúng tôi vào tới Vũng Rô. Tôi cho thả xuồng và cử người vào bến tìm bộ phận đón. Trong lúc đang loay hoay thả xuồng thì thuyền của các đồng chí ở bến cặp mạn tàu. Gặp nhau tay bắt mặt mừng, tôi ôm chặt anh Sáu Thu mà hai hàng nước mắt chảy ròng, nghẹn ngào không nói nên lời…

Giữa lúc tình cảm giữa người ở bến và chúng tôi đang dồn nén, thì đột nhiên, hàng loạt súng pháo nổ vang, những chiếc đèn dù xanh, đỏ từ đồn địch ở dốc Ba Ty phụt lên treo lơ lửng giữa khoảng trời Vũng Rô.

- Lộ rồi sao? Địch đã phát hiện tàu ta chăng? Sao không thấy động tĩnh từ phía địch?

Mọi người hồi hộp, lo lắng... Từ khoang báo vụ, chiếc đài bán dẫn vang lên lời Bác Hồ chúc Tết nghe đầm ấm, thiết tha. Giao thừa! Mùa xuân 1965 đã tới. Thời khắc trời, đất giao hòa, chúng tôi vui mừng trào rơi nước mắt... Sau khi cử lực lượng cảnh giới nắm tình hình địch, cuộc liên hoan mừng tết Ất Tỵ được thực hiện ngay trong khoang máy và hầm hàng. Rượu, thịt, dưa hành, thuốc lá chúng tôi mang theo. Cá, mực đồng bào biếu tặng được bày ra thơm lừng, càng tăng thêm hương vị đậm đà của mùa xuân bất tận.

Trong niềm vui chan chứa ấy, tôi thay mặt cán bộ, chiến sỹ tàu 41 chúc Tết các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, chiến sĩ, dân công và bà con đồng bào tại bến. Tiếng pháo tay thay pháo Tết nổ vang. Anh Sáu Thu giục cô gái ngồi bên cạnh (là giao liên của bến) thay mặt bà con địa phương chúc Tết anh em thủy thủ. Cô gái ửng hồng đôi má, ngập ngừng đứng lên: “Có Đảng, có Bác Hồ và đồng bào miền Bắc lo cho miền Nam từng khẩu súng, viên đạn, bát cơm, viên thuốc; có các anh thủy thủ vượt qua sóng to, gió lớn, đối mặt với quân thù vận chuyển hàng chi viện cho miền Nam, quê hương Phú Yên nguyện xứng đáng với nghĩa tình cao cả đó”. Nghe cô giao liên nói vậy, ai cũng nghẹn ngào, xúc động...

Cùng đồng đội về thăm Bộ Tư lệnh Hải quân.

Tối mồng một Tết Ất Tỵ, chúng tôi bốc dỡ hàng. Chiếc cầu tạm bằng cây không đủ sức cho số đông người đi lại, nên đa số anh chị em dân công phải dầm mình dưới nước chuyển hàng. Phía đèo Cả, súng địch vu vơ bắn cầm canh. Chúng đâu ngờ rằng, cách không xa là không khí làm việc khẩn trương của cán bộ, thủy thủ tàu 41 và đồng bào Phú Yên. Hàng bốc dưới tàu lên là vũ khí, thuốc men, quần áo. Hàng trên bờ xuống là khoai, sắn, bánh chưng, rượu, thịt đồng bào gửi tặng và hàng chục bao cát. Cát của Vũng Rô được chuyển xuống tàu để giữ ổn định phòng khi ra khơi gặp bão giông.

Công việc xếp dỡ hàng vừa xong, từ trong đêm tối có cô gái cầm trong tay một gói nhỏ được bọc cẩn thận bằng chiếc khăn tay trao cho tôi, giọng run run: “Bà con quê hương Phú Yên xin gửi theo tàu các anh nắm đất Vũng Rô, mảnh đất kiên cường, bất khuất. Dù giặc càn quét, lùng sục, bắt bớ, tàn sát dã man, đồng bào lên núi ăn củ mài, quả vả thay cơm nhưng vẫn một lòng, một dạ vững tin theo Đảng, theo Bác Hồ. Có súng, có đạn của miền Bắc chi viện, mảnh đất này sẽ là điểm tựa của những chiến công, là mồ chôn thây quân giặc cướp nước!”. Bùi ngùi, xúc động, cầm nắm đất Vũng Rô trong tay, tôi như muốn ôm cả đất trời quê hương Phú Yên vào lòng với tình cảm trân trọng, thiêng liêng...

Cuộc chia tay trong đêm xuân Ất Tỵ hết sức quyến luyến. Những giọt nước mắt tuôn trào, những lời chúc “lên đường thuận buồm, xuôi gió, ở lại mạnh khỏe, chiến đấu hăng say, hứa hẹn ngày trở lại”. Xa xa, tiếng pháo địch vẫn bắn cầm canh. Đúng 3 giờ sáng mồng hai Tết, tôi ấn mạnh tay chuông, con tàu rùng mình rẽ sóng ra khơi...”.

- Thưa bác! Nắm đất thiêng giờ nơi đâu? Cô giao liên năm nào bác có còn gặp lại? Tôi nêu câu hỏi.

Ông Hồ Đắc Thạnh trả lời: “Nắm đất thiêng Vũng Rô được chúng tôi nâng niu, gìn giữ suốt chặng đường vượt biển, hiện đang đặt trang trọng trong Bảo tàng Quân chủng Hải quân. Còn cô giao liên ngày ấy tôi đã đi tìm suốt 40 năm qua mới gặp lại!”.

Chuyện người cựu binh thủy thủ tàu không số đi tìm cô gái trao cho mình nắm đất trong đêm xuân Ất Tỵ khá cảm động... Chiến tranh kết thúc, ông Thạnh về công tác ở Bộ tư lệnh Vùng 3 Hải quân. Năm 1984 nghỉ hưu tại thành phố Quy Nhơn (Bình Định). Trong quãng thời gian ấy ông đã mải miết đi tìm, nhưng chẳng ai biết cô giao liên ngày ấy ở đâu. Mãi đến năm 2004 ông về thăm quê hương Phú Yên thì điều kỳ diệu đã đến. Người con gái mà ông đằng đẵng đi tìm gần nửa thập kỷ qua lại chính là bà Nguyễn Thị Tảng, phu nhân của đồng chí Nguyễn Văn Dữ, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh – nguyên Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Tuy An.

Trao nhau nắm đất thiêng từ thuở ấy, gặp lại sau hơn 40 năm xa cách, tóc họ giờ đã chuyển màu sương gió. Nhưng ký ức về những năm tháng chiến tranh ác liệt vẫn tươi nguyên. Ông bảo, những tấm Huân chương mà ông và bà Tảng đeo trên ngực áo thấm đẫm máu, mồ hôi và nước mắt của bao đồng đội kiên trung năm xưa đã anh dũng ngã xuống giữa lòng đất mẹ...

Kỳ 1: Trận đánh quyết tử và những dòng ghi trong “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”

Kỳ 2: Hai nửa cuộc đời của máy trưởng Phan Nhạn

Kỳ 4: Nhớ mãi tên anh

Bài và ảnh: Phan Tiến Dũng

(Nguồn báo QĐND)

Thứ Tư, 11 tháng 4, 2012

VÀI HÌNH ẢNH CHIẾN ĐẤU CỦA HẢI QUÂN VN THỜI KỲ CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC.(Nguồn ảnh :Quân sử VN)

Trong một lần bắn máy bay Mỹ.

Chiến đấu bảo vệ cầu Long biên (Hà nội).

Chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng ( Thanh Hóa).

Chiến đấu bảo vệ cảng Hải Phòng.
( Ảnh :Quân sử VN)


Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

Đọc báo giùm bạn : Những trang đời huyền thoại (kỳ 2).

Kỳ hai: Hai nửa cuộc đời của máy trưởng Phan Nhạn

QĐND Online - Mỗi lần vượt biển chở vũ khí vào miền Nam, những thủy thủ tàu không số đều xác định ra đi không hẹn ngày trở lại. Họ được tổ chức truy điệu sống trước lúc xuất bến. Vậy mà nhờ vào sự mưu trí, kiên cường và lòng quả cảm, một máy trưởng đã cùng đồng đội thực hiện 15 chuyến vượt biển, băng qua mưa bom, bão đạn của kẻ thù, vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí, đạn dược vào tiền tuyến lớn miền Nam. Bây giờ ở tuổi 80 con người huyền thoại ấy vẫn đang khó nhọc bươn chải giữa đời thường…Ông là Phan Nhạn – máy trưởng các tàu 41, 43. 56 (Đoàn tàu không số) năm xưa...

Vinh quang thời hoa lửa

Chìm khuất trong con hẻm mịt mù bụi than, ngôi nhà cấp 4 của ông Phan Nhạn thấp lè tè. Tiết trời cuối thu vậy mà không khí ngột ngạt đến khó thở. Đang tắm cho đứa cháu ngoại, thấy chúng tôi đến, ông dừng tay: “Bố mẹ bọn trẻ chia tay, tôi đành vừa làm ông vừa làm cha của chúng!”.

Tuy bận rộn nhưng ông cũng “ưu ái” dành thời gian để kể cho chúng nghe về hai nửa cuộc đời của ông...

“Tháng 3-1962, tôi được cấp trên điều về Đoàn 759 (Đoàn tàu không số). Sau đó biên chế về tàu 02 do đồng chí Nguyễn Dạt làm thuyền trưởng. Vốn quen nghề sông nước lại có tay nghề cơ khí, cấp trên tin tưởng giao cho tôi giữ chức máy trưởng, kiêm tổ trưởng tổ bộc phá. Được giao nhiệm vụ như vậy là tự hào lắm, bởi tàu 02 đi tiên phong mở màn cho chiến dịch “đường Hồ Chí Minh trên biển”. Không ai bảo ai nhưng chúng tôi đều mong chờ ngày vượt biển.

Ông Nhạn (áo sẫm) cùng đồng đội về thăm lại chiến trường xưa.

Và ước mơ cháy bỏng đã thành hiện thực, ngày 16-10-1962, tàu 02 nhận lệnh chở 20 tấn vũ khí vào vùng biển Cà Mau. Dẫu biết rằng chuyến đi vô cùng nguy hiểm nhưng ai nấy đều háo hức, bởi chúng tôi biết mỗi khẩu súng, viên đạn chi viện cho chiến trường miền Nam là rất quý. Đúng 23 giờ 45 phút, tàu 02 lặng lẽ rời Cảng Đồ Sơn - Hải Phòng ra khơi. Theo hải trình, tàu 02 sẽ đi qua đảo Hải Nam, rồi vòng ra phía ngoài quần đảo Hoàng Sa ở vùng hải phận quốc tế để tránh sự kiểm soát gắt gao của máy bay và tàu chiến Mỹ nhằm đảm bảo tuyệt đối bí mật cho cuộc hành trình. Thế nhưng, tàu 02 ra khơi chừng gần chục hải lý thì gặp gió mùa Đông Bắc giật cấp 5, cấp 6. Những đợt sóng hung hãn chồm lên, chiếc tàu gỗ tròng trành, chao đảo. Tất cả thủy thủ áo quần sũng nước, tơi tả. Máy chính, máy phụ hoạt động hết công suất nhưng con tàu vẫn ỳ ra, khó có thể tiếp tục vượt biển theo lý trình như dự kiến ban đầu. Trước tình hình đó, thuyền trưởng Nguyễn Dạt điện về đất liền xin cho tàu chuyển hướng đi gần quần đảo Hoàng Sa. Đây là một quyết định mạo hiểm vì đi vào vùng này gần đất liền, dễ bị tàu địch phát hiện, nhưng cũng chẳng còn phương án nào tốt hơn. Được sự nhất trí của trên, chúng tôi cho tàu chuyển hướng. Gần 2 giờ đồng hồ vật lộn với sóng gió, tàu gặp sự cố mất liên lạc với sở chỉ huy. Trong lúc nguy nan, anh em vẫn bình tĩnh, mưu trí điều khiển tàu vượt qua vĩ tuyến 17 ngay trước mũi tàu chiến Hạm đội 7 của Mỹ thường xuyên sục sạo, theo dõi.

Trên chuyến vượt biển gian nan ấy, ban ngày chúng tôi giả làm ngư dân thả lưới đánh cá, ngụy trang lừa địch. Tối đến cho tàu tăng tốc nhằm thoát khỏi sự đeo bám của chúng. Hành quân đến ngày thứ 6 thì đồng chí nhân viên hải đồ thông báo, tàu ta chỉ còn cách vùng biển Cà Mau khoảng gần 200 hải lý, như vậy là chậm hai ngày so với dự kiến. Theo kế hoạch, để giữ bí mật cho bến, tàu chỉ vào thả hàng trong thời gian ngắn rồi ra ngay trước khi trời sáng. Thế nhưng, sau gần 3 giờ đồng hồ, chúng tôi vẫn không bắt liên lạc và nhận được tín hiệu gì từ bến. Lúc này, các thủy thủ hết sức lo lắng. Nếu không vào bến ngay trong đêm, thì bắt buộc tàu phải chạy ngược ra vùng biển quốc tế, đợi đến đêm hôm sau mới vào lại. Nếu như vậy thì rất nguy hiểm vì tàu địch sẽ phát hiện tàu ta. Kim đồng hồ nhích dần tới 4 giờ 20, chúng tôi đang chuẩn bị cho tàu quay ra vùng biển quốc tế thì phát hiện bên mạn trái có một chiếc ghe. Thuyền trưởng Dạt ra lệnh dừng máy. Biết chắc đấy là ghe đánh cá của ngư dân vùng giải phóng nên chúng tôi nhờ họ dẫn đường vào bến an toàn. Gặp nhau, thủy thủ tàu không số và những người ở bến cảm động, ôm nhau khóc ròng. Hôm đó, anh Tư Đức, bến trưởng đã thốt lên: “Tàu của các anh đúng là con tàu huyền thoại”.

Sau này nghe các anh ở bến kể lại, chúng tôi mới biết, do sự cố tàu 02 mất liên lạc, nên sở chỉ huy đã điện thông báo tình hình cho bến và hẹn thời gian đón tàu. Nhận điện, các đồng chí ở bến bố trí người túc trực suốt ngày đêm từ Gành Hào đến mũi Cà Mau để đón tàu nhưng chờ hơn một ngày đêm mà vẫn không thấy tăm hơi. Vì thế anh em tại bến tưởng tàu chúng tôi gặp nạn, tất cả thủy thủ đã hi sinh, nên công tác đón tàu được hủy bỏ…”.

Từ chuyến vượt biển đầu tiên thắng lợi, Phan Nhạn tiếp tục được điều về giữ chức máy trưởng các tàu 41, 43, 56…Thời gian từ năm 1962 - 1968, ông đã 15 lần vượt biển trên các con tàu không số chở vũ khí vào chiến trường miền Nam. Tàu 41 được tuyên dương danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân... Trong số những con tàu ông tham gia, có nhiều người trên tàu 41 được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân...

Nhọc nhằn kế mưu sinh

Ông Nhạn nhìn về bức chân dung người phụ nữ phúc hậu trên bàn thờ, giọng nghèn nghẹn: “Vợ chồng sống với nhau chẳng được là bao! Từ ngày bà ấy đi xa, nhiều lúc tôi tưởng mình không thể nào qua khỏi!”.

Tôi hiểu nỗi buồn trong mắt người cựu binh tàu không số, bởi chuyện tình của ông rất đẹp nhưng cũng đầy vất vả, truân chuyên... Năm 1969, sau lần vượt biển trở về, ông nghỉ ngơi, học tập tại Đồ Sơn (Hải Phòng). Trai xứ Quảng chưa vợ lại to cao, đẹp trai, vậy mà ông vẫn “lính phòng không” vì mỗi lần tiếp xúc với con gái là lúng ta, lúng túng như “gà mắc tóc”. Mãi cho tới khi bạn bè giới thiệu, ông mới chịu làm quen người con gái xứ Huế có mái tóc dài óng ả, giọng nói dễ thương. Hồi ấy bà Hoàng Thị Khâm là công nhân Xí nghiệp dày da Hải Phòng. Yêu nhau chưa đầy một năm thì họ nên duyên chồng vợ. Đám cưới giản dị, ấm nồng trong vòng tay bạn bè của cô dâu và đồng đội của chú rể.

Tuổi 80, ông Nhạn vẫn cùng chiếc xe đạp bươn chải giữa cuộc đời.

Đất nước thống nhất, ông chuyển gia đình vào Nha Trang. Thành phố sau ngày giải phóng với bao nỗi bộn bề, người dân gồng mình khắc phục, hàn gắn vết thương chiến tranh. Vợ chồng ông cùng ba đứa con tá túc trong căn phòng tập thể chật chội. Tiền lương hai người gộp lại chưa đủ mua chiếc lốp xe đạp. Bà lại bị bệnh tim bẩm sinh nên đau ốm liên miên. Ông xoay trở đủ nghề kiếm tiền chữa bệnh cho bà. Dẫu cuộc sống còn vất vả, nhưng gia đình ông đầy ắp tiếng cười. Niềm vui ấy cũng chỉ được một thời gian, bởi năm 1991, bà Khâm qua đời để lại 3 đứa con thơ dại. Thời điểm này ông Nhạn xin về hưu sớm để lo lắng nuôi con ăn học. Phần đau buồn vì người vợ thân yêu về cõi vĩnh hằng, phần vì vết thương cũ tái phát, ông Nhạn tưởng chừng không qua khỏi, nhưng nhớ lời trăng trối của vợ trước lúc đi xa, ông gắng gượng sống để nuôi con.

Điều làm ông day dứt nhất là vì điều kiện kinh tế quá eo hẹp nên không thể lo cho con vào làm việc ở những nơi có mức lương khá giả. Bây giờ ba người con của ông vẫn chưa có nghề nghiệp ổn định, thu nhập bấp bênh. Vợ chồng cô con gái lớn chia tay, hai đứa cháu ngoại về ở hẳn với ông. Nhẽ ra ở tuổi “xưa nay hiếm” được hưởng cuộc sống an nhàn, đằng này ông vẫn lọ mọ lo lắng cơm nước, tắm giặt cho mình và hai cháu ngoại. Có thể nói, ông Phan Nhạn là thủy thủ tàu không số có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhất hiện nay. Ở tuổi gần 80, ông vẫn tá túc trong căn nhà cấp 4 xập xệ chừng 40 mét vuông. Tài sản quý giá nhất của ông là bức chân dung người vợ và tấm Huân chương chiến sỹ Giải phóng hạng Nhất trang trọng lồng trong khung kính...

Tuy sóng gió cuộc đời là vậy, nhưng ông vẫn phát huy phẩm chất của người thủy thủ tàu không số. Hiện ông vẫn là tổ trưởng dân phố. Hằng ngày ông túc tắc trên chiếc xe đạp cà tàng đến vận động bà con chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước. Thỉnh thoảng ông đến phường Phước Long, trường tiểu học Võ Thị Sáu nói chuyện truyền thống cho thế hệ trẻ. Bằng tấm gương mẫu mực của mình, ông đã cảm hóa được nhiều thanh niên hư hỏng tiến bộ. Ông cười vui: “Làm cái chức tổ trưởng dân phố là “quyền rơm, vạ đá” nhưng mình là cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thì bà con mới tin tưởng!”.

Đang nắng chói chang, bỗng dưng trời tối sầm lại. Phố biển Nha Trang sắp nổi cơn giông. Chúng tôi chào ông Nhạn để về cho kịp tránh cơn mưa. Nhìn dáng người thủy thủ tàu không số năm xưa tất tưởi lo chuẩn bị xô, chậu để hứng nước, tôi thấy thương ông vô cùng. Biết đến bao giờ ông mới có điều kiện xây một ngôi nhà tử tế để thoát cảnh “mưa dột, nắng xiên” trong phần đời còn lại?.

Kỳ 1: Trận đánh quyết tử và những dòng ghi trong “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”

Kỳ 3: Vũng Rô – Đêm giao thừa năm ấy

Bài, ảnh: Phan Tiến Dũng

(Nguồn báo QĐND)

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012

Hình ảnh của một thời (Do Nguyễn hoài Nam cung cấp).

Lính tàu T112, tiểu đoàn 136 đang bảo dưỡng tàu trong lúc nghỉ giữa giờ tại xưởng sửa chữa tàu X50 (Đà Nẵng)năm 1975.

Từ trái sang:Bình (bị khuất) , Nam , Tư , ?, Hòa vâu , Hải tù , ? , trên tàu ở cảng Cửa Hội.

Từ trái sang:Nam ba toác , Khánh chuột , Lợi quắt tại cảng Cửa Hội năm 1976.

Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012

Đọc báo giùm bạn :Những trang đời huyền thoại (Kỳ 1) .

Kỷ niệm 50 năm đường Hồ Chí Minh trên biển

QĐND Online - Từ năm 1961 – 1975, trên tuyến “đường Hồ Chí Minh trên biển” đã có 1.789 chuyến tàu không số vận chuyển 150 ngàn tấn vũ khí trang bị và 80 ngàn lượt cán bộ, vượt qua hàng vạn hải lý, khắc phục hơn 4.000 quả thủy lôi, chống chọi hơn 20 cơn bão, chiến đấu hơn 30 lần với tàu địch, đánh trả 1.200 lần máy bay địch tập kích, bắn rơi 5 chiếc và bắn cháy nhiều tàu xuồng của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Để lập nên những chiến công chói lọi ấy, có biết bao người con ưu tú anh dũng chiến đấu và không ít người trong số đó đã ngã xuống giữa lòng biển khơi. Báo QĐND Online trân trọng giới thiệu một số nhân vật tiêu biểu, mà chiến công của họ là những trang đời huyền thoại…

Kỳ 1: Trận đánh quyết tử và những dòng ghi trong “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”

“Hai chìm, bảy nổi, chín lênh đênh”. Đấy là câu ví von về cuộc đời mình của ông Trần Ngọc Tuấn, cựu chính trị viên tàu 43, Đoàn tàu không số. Ông nói vậy, bởi trong chín lần vượt biển, thì hai lần đánh chìm tàu để không bị rơi tài sản vào tay giặc, bảy chuyến còn lại đều thành công. Để có được kỳ tích ấy, ông và đồng đội đã anh dũng chiến đấu và không ít người trong số đó vĩnh viễn nằm lại giữa lòng biển xanh…

Trận đánh quyết tử

Nha Trang chiều mưa. Những cơn mưa mùa thu khiến phố biển thêm an lành và mát mẻ. Trong ngôi nhà nhỏ số 9A/1B, phố Đặng Tất, cựu chiến binh đoàn tàu không số Trần Ngọc Tuấn say sưa kể về những kỷ niệm một thời cùng đồng đội vượt biển chở vũ khí, lương thực chi viện chiến trường miền Nam.

Những câu chuyện ông kể nhiều tình tiết, tản mạn và nghe qua có vẻ “hơi rông dài” nhưng chắp nối, sắp xếp các sự kiện, thì chính những điều tưởng chừng tản mạn và rông dài ấy lại là nguồn tư liệu vô giá, đầy chất bi tráng về chiến công của các thế hệ cán bộ, thủy thủ đoàn tàu không số năm xưa đã làm nên con đường huyền thoại – đường Hồ Chí Minh trên biển – Con đường của ý chí và sự sáng tạo Việt Nam…

Năm 1968, cục diện trên chiến trường phát triển mạnh mẽ và rộng khắp, trước tình hình đó, Bộ Tổng tham mưu tin tưởng giao nhiệm vụ cho Đoàn 759 tham gia vận chuyển vũ khí vào chiến trường miền Nam, phục vụ Chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân – 1968. Chuyến đi đặc biệt ấy, con tàu mang số hiệu số 43 gồm 17 thuyền viên, do thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng và Chính trị viên - Bí thư Chi bộ Trần Ngọc Tuấn chỉ huy. Nhiệm vụ trên giao là tàu 43 chở 37 tấn vũ khí vượt biển vào huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi) giao hàng tại bến bí mật.

Ông Trần Ngọc Tuấn (thứ 4 từ trái sang, hàng đứng) cùng đồng đội trên tàu 43 trước lúc đi chiến dịch Mậu Thân – 1968.

Đêm 27-2-1968, tàu 43 và 3 chiếc tàu khác nhận lệnh xuất bến. Mặt biển đen đặc, gió lạnh thốc từng cơn, những con tàu lầm lũi đè sóng thẳng hướng vào Nam. Tuy đã được chuẩn bị rất kỹ và ngụy trang kín đáo, nhưng trên đường đi, máy bay và tàu chiến địch đã nghi ngờ phát hiện và theo dõi sát sao các hoạt động của tàu ta. Trước tình thế đó, chính trị viên Trần Ngọc Tuấn bình tĩnh động viên anh em giả vờ đánh bắt cá, lòng vòng trên biển suốt 3 ngày đêm. Mặc sóng to, gió lớn, bất chấp hành động quần đảo của máy bay và sự phong tỏa của tàu chiến địch, những thủy thủ tàu không số vẫn can trường, bình tĩnh xử lý linh hoạt các tình huống. Cứ kiên trì, bền gan hành quân như vậy, đến đêm thứ ba tàu 43 vào tới vùng biển Quảng Ngãi. Tất cả mọi thành viên đều khấp khởi mừng thầm, bởi chỉ còn một thời gian rất ngắn nữa thôi tàu sẽ cập bến.

Đúng 0 giờ 50 phút ngày 1-3-1968, tàu 43 cách bờ khoảng chừng 20 hải lý thì bất ngờ bị 4 tàu chiến của địch tăng tốc bao vây. Chúng đồng loạt bắn pháo sáng lên bầu trời đêm, những tia chớp sáng rực cả một vùng biển. Chỉ sau vài phút các loại pháo trên tàu địch bắn tới tấp vào tàu 43. Tiếp đến, chúng khép dần vòng vây hòng bắt sống toàn bộ tàu ta.

Không còn cách nào khác, Thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng đứng trên đài chỉ huy phát lệnh tiêu hủy tài liệu, sẵn sàng chiến đấu. Chính trị viên Trần Ngọc Tuấn đến từng vị trí động viên anh em giữ vững tinh thần. Tại khoang lái, chiến sĩ hàng hải Vũ Xuân Ruệ một tay giữ chặt bánh lái, tay còn lại cầm quả thủ pháo giơ cao, giọng dõng dạc: “Báo cáo chính trị viên! Chúng tôi đã sẵn sàng!”. Chính trị viên Tuấn hài lòng: “Được! Các đồng chí giữ vững vị trí chiến đấu!”.

Chính trị viên Tuấn vừa dứt lời thì đạn pháo địch từ bốn chiến hạm bắn cấp tập vào tàu 43. Cùng lúc 10 tàu cao tốc (loại nhỏ) xuất hiện, mỗi đợt hai chiếc lao vào tấn công bên mạn phải tàu ta. Thuyền trưởng Thắng vẫn hiên ngang trên đài chỉ huy cho tàu luồn lách chờ tàu địch vào gần hơn nữa. Tàu địch cách tàu ta 300 mét, 250 mét, rồi 150 mét…

“Nhằm thẳng tàu địch. Bắn!”. Thuyền trưởng Thắng hô lớn.

Chỉ chờ có vậy, các loại súng của ta đồng loạt nã đạn. Một tàu địch trúng đạn bốc cháy dữ dội, hai chiếc khác bị thương nặng. Bị ta đánh trả bất ngờ gây tổn thương nặng nề, máy bay địch điên cuồng vãi đạn xuống tàu 43. Mặt biển như sôi lên vì đạn pháo và rốc-ket. Tiếng DKZ, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 ly của ta rền vang. Trận chiến đấu diễn ra rất căng thẳng, nhưng vì lực lượng của ta không cân sức, nên tàu 43 trúng đạn, chao đảo. Chiến sĩ Vũ Văn Ruệ bị thương nặng, toàn thân đẫm máu, tay vẫn giữ chặt bánh lái. Ở vị trí DKZ, chiến sĩ quân y kiêm pháo thủ số 2 Võ Nho Tòng cũng trúng đạn, hi sinh… Sau hơn 3 giờ đồng hồ chiến đấu ngoan cường, tàu ta vừa dùng bom chìm và bộc phá chặn, vừa sử dụng đại liên, trung liên, súng máy 12,7 ly tiêu diệt thêm 3 máy bay HU-1A, bắn hư hại nhiều tàu cao tốc địch rồi lao vào bờ… Quyết không để phương tiện và vũ khí rơi vào tay địch, thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng ra lệnh hủy tàu….

Ông Trần Ngọc Tuấn (người mặc áo quân phục cũ, đeo kính) thắp hương tưởng niệm các đồng đội đã hi sinh.

Ông Trần Ngọc Tuấn đứng dậy bước về phía bàn thờ, thắp nén nhang kính cẩn tưởng nhớ những đồng đội đã hi sinh. Đôi vai gầy của người thủy thủ tàu không số rung lên. Ông nói, giọng nghẹn ngào, mắt ngấn nước: “Chiến tranh là tổn thất và thương vong. Chẳng có cuộc chiến nào mà không mất mát, hi sinh. Không biết bao lần tôi như đứt từng khúc ruột khi chứng kiến những đồng đội thân yêu của mình hi sinh. Đã mấy chục năm trôi qua nhưng tôi vẫn nhớ mãi lời trăng trối của đồng chí Vũ Văn Ruệ trước lúc ra đi: “Chính trị viên ở lại chiến đấu, trả thù cho em!”. Vũ Văn Ruệ vừa cưới vợ được 20 ngày thì xung phong lên đường. Còn Võ Nho Tòng thì vừa hoàn thành chuyến đi thứ nhất đã tình nguyện đi chuyến thứ hai. Đêm trước ngày lên đường, Tòng còn tâm sự với tôi: “Sau chuyến này em xin tranh thủ về quê cưới vợ. Hôm đó, nhất định chính trị viên phải làm chủ hôn cho chúng em!”. Vậy mà… cậu ấy đã hy sinh, toàn thân ngã vào chân pháo nhưng tay vẫn ôm chặt quả đạn. Để rồi cô thôn nữ Nguyễn Thị Ghi, quê Thái Thụy, Thái Bình vĩnh viễn không bao giờ gặp lại người mình yêu nữa...”.

Những dòng ghi trong “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”

Nhấp ngụm trà đặc quánh, cựu chiến binh Trần Ngọc Tuấn trao cho tôi cuốn “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”. Ông nói: “Tôi còn sống đến ngày hôm nay là nhờ bác sỹ Thùy Trâm và bà con thôn Quy Thiện. Cháu đọc đi, trong cuốn sách này cô Trâm có viết về tôi và đồng đội của tôi đấy!”.

Tôi đọc những dòng bác sĩ Đặng Thùy Trâm viết trong cuốn nhật ký mà cảm thấy khung cảnh chia ly giữa người ra đi và người ở lại thời chiến tranh thật đáng trân trọng. Cuộc chia ly ấy giản dị, hồn nhiên và sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng: “Vậy là chiều nay các anh lên đường, để lại cho mỗi người một nỗi nhớ mênh mông giữa khu rừng vắng vẻ. Các anh đi rồi nhưng tất cả nơi đây còn ghi lại bóng dáng các anh: những con đường đi, những chiếc ghế ngồi chơi xinh đẹp, những câu thơ thắm thiết yêu thương. Nghe anh Tuấn ra lệnh: “Tất cả ba lô lên đường!”. Những chiếc ba lô vụng về may bằng những tấm bao Mỹ đã gọn gàng trên vai, mọi người còn nấn ná đứng lại trước mình bắt tay chào mình một lần cuối. Bỗng dưng một nỗi nhớ thương kỳ lạ đối với miền Bắc trào lên trong lòng mình như mặt sông những ngày mưa lũ và… mình khóc ròng đến nỗi không thể đáp lại lời chào của mọi người. Thôi! Các anh đi đi, hẹn một ngày gặp lại trên miền Bắc thân yêu”.

- Thưa bác, cơ duyên nào bác có tên trong cuốn nhật ký này?

Ông Tuấn trả lời: “Thì trong chuyến vượt biển vào Quảng Ngãi hồi Mậu Thân – 1968 đó! Ngày ấy nhân dân xã Phổ Hiệp, huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi) đã che chở, đùm bọc, yêu thương cán bộ, thủy thủ tàu 43 trong những thời điểm khó khăn, ác liệt nhất!”.

Ông kể: “Khi những tiếng nổ lớn ầm vang cả một vùng biển vừa tan cũng là lúc chúng tôi đã ở trong vòng tay che chở của đồng bào thôn Quy Thiện. Hôm đó, quân Mỹ hùng hổ tiến vào làng. Tiếng quát tháo, chửi thề inh ỏi. Tiếng giày đinh nện rầm rầm trên mặt đất. Vậy mà dưới hầm bí mật, chúng tôi vẫn được bà con che chở… Mười ngày đêm nằm hầm trong tình trạng thương vong, nếu không có sự đùm bọc, tận tình chăm sóc của nhân dân thì tôi và đồng đội đã bị địch bắt. Nếu ở lâu dưới hầm bí mật nguy cơ sẽ bị lộ, nên chúng tôi được du kích cáng lên bệnh xá của chị Đặng Thùy Trâm. Hai lần đi đều gặp địch buộc phải quay lại và đến đêm thứ ba mới về tới trạm xá. Trong thời gian điều trị, tôi và đồng đội được bác sĩ Thùy Trâm chăm sóc tận tình, chu đáo. Hình ảnh nữ bác sĩ Thùy Trâm – người con gái Thủ đô Hà Nội duyên dáng, trẻ trung, lạc quan, yêu đời tận tình cứu chữa thương binh trở thành liều “thuốc quý” động viên chúng tôi vượt qua tất cả…

Nói về kỷ niệm lúc chia tay bà con Phổ Hiệp, cựu chiến binh Trần Ngọc Tuấn bùi ngùi: “Không bao giờ tôi quên được giây phút chia tay trước khi vượt Trường Sơn trở về đơn vị hôm 10-4-1968. Tôi là người cuối cùng chia tay mảnh đất nặng tình, nặng nghĩa ấy. Hôm đó, Thùy Trâm nắm chặt tay tôi, mắt đẫm lệ: “Thôi! Các anh đi mạnh giỏi, bình yên, hẹn ngày gặp lại trên miền Bắc thân yêu!”. Phút chia tay bịn rịn khiến tôi không kìm được lòng mình…Và không ngờ lần chia tay ấy, vĩnh viễn chúng tôi chẳng bao giờ được gặp lại Thùy Trâm bằng xương, bằng thịt nữa!”…

Chính trị viên tàu không số năm xưa bình dị giữa đời thường.

Chiến tranh đã lùi xa, ông Tuấn giờ đã ở tuổi “xưa nay hiếm”. Năm 1968 bị thương ra Bắc điều trị, rồi chuyển ngành qua làm cán bộ trường Đại học Thủy sản. Gần hai chục năm đứng trên bục giảng, ông “truyền lửa” vào sinh viên bằng những câu chuyện về bao chiến công huyền thoại của đoàn tàu không số năm xưa. Về hưu với khoản tiền lương 116 đồng (nay là 2.700.000 đồng) cuộc sống của vợ chồng ông vô cùng khó khăn. Vợ ông – bà Nguyễn Thị Đệ một thời là thanh niên xung phong. Suốt 5 năm bám trụ trên tuyến lửa Quảng Bình và Quảng Trị, nhưng nay bà vẫn không có chế độ gì. Để có tiền nuôi con ăn học, ông bươn chải khắp nơi, từ nhân viên gác cổng trường, rồi nhân viên bảo vệ… Bây giờ con cái trưởng thành, cuộc sống khá hơn, ông tham gia hội cựu chiến binh. Những lúc vết thương không hành hạ, bệnh tình thuyên giảm là ông lại đến từng gia đình trong khu phố vận động con cháu lên đường nhập ngũ. Bằng tấm gương mẫu mực của mình, ông vận động, thuyết phục thanh niên hư hỏng tiến bộ. Thỉnh thoảng ông lại tìm về thăm hỏi những người đồng đội năm xưa…

Cũng có lúc ông cảm thấy như bị “lãng quên”. Ông chuyển ngành khi quân hàm trung úy, nhưng mới đây Quân chủng Hải quân gửi giấy mời tham gia hội thảo khoa học lại ghi thiếu tá. Ông cười hiền: “Chắc các anh ấy thương nên phong quân hàm vượt cấp cho tớ! Đùa vui vậy thôi, chứ còn sống đến ngày hôm nay là hạnh phúc lắm rồi. Chỉ tiếc thương những đồng đội đã hi sinh giữa biển khơi!”.

Tuy cựu chiến binh Trần Ngọc Tuấn không hề trách cứ ai, nhưng tôi thấy ông quá thiệt thòi. Chín lần vượt biển, thì hai lần gặp địch bủa vây, hai lần chỉ huy đánh bộc phá hủy tàu nhưng ông và đồng đội vẫn mưu trí thoát khỏi vòng vây địch. Các chuyến đi còn lại đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chở vũ khí vào miền Nam. Với những chiến công ấy, ông xứng đáng được phong tặng danh hiệu cao quý nhất. Tuy không được Nhà nước tuyên dương, nhưng biết bao đồng đội và đồng bào luôn coi ông là người anh hùng…

Kỳ 2: Hai nửa cuộc đời của máy trưởng Phan Nhạn

Bài và ảnh: Phan Tiến Dũng

(Nguồn báo QĐND)