Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2012

Nga ký hợp đồng bảo hiểm 6 tàu ngầm cho đối tác



Nhà máy đóng tàu Admiralty và công ty bảo hiểm SOGAZ đã ký hợp đồng bảo hiểm 6 tàu ngầm cho khách hàng nước ngoài.

(ĐVO) Theo các điều khoản của hợp đồng, công ty bảo hiểm SOGAZ sẽ cung cấp gói dịch vụ bảo hiểm cho các hoạt động đóng mới 6 tàu ngầm điện-diesel Project 636 cho khách hàng nước ngoài.

Hợp đồng bảo hiểm này sẽ cho phép nhà máy đóng tàu Admiralty giảm được các rủi ro về tài chính trong quá trình thực hiện hợp đồng đóng tàu ngầm cho khách hàng.

Phạm vi của hợp đồng được thực hiện cho những thiệt hại của người tham gia bảo hiểm đối với bên thứ 3, thời hạn hợp đồng sẽ kéo dài đến tháng 9/2016 gồm các giai đoạn như sau: đóng mới, hạ thuỷ, thử nghiệm tại nhà máy, thử nghiệm trên biển, vận chuyển và chuyển giao cho khách hàng.
Với hợp đồng bảo hiểm mới ký nhà máy đóng tàu Admiralty sẽ đảm bảo được khả năng thực hiện hợp đồng với khách hàng.
Đây là lần đầu tiên nhà máy đóng tàu Admiralty ký hợp đồng bảo hiểm cho hợp đồng đóng mới 6 tàu ngầm cho khách hàng nước ngoài với giá trị gần 2 tỷ USD.

Ông Alexander Buzakov, Tổng giám đốc nhà máy đóng tàu Admiralty cho biết: “Lựa chọn Tập đoàn bảo hiểm SOGAZ không phải là ngẫu nhiên, đây là công ty mạnh nhất hiện nay trong thị trường bảo hiểm, có nhiều kinh nghiệm trong các hoạt động bảo hiểm đóng tàu. Chúng tôi hy vọng rằng hợp tác với SOGAZ sẽ mang lại nhiều hiệu quả cho phép chúng tôi đạt được nhiều kinh nghiệm quý báu trong các hợp đồng bảo hiểm công nghiệp”.

Về phần mình, Chủ tịch Tập đoàn SOGAZ Ivanov phát biểu: “Bắt đầu hợp tác với nhà máy đóng tàu Admiralty là một sự kiện quan trọng với SOGAZ. Tôi hy vọng rằng các thoả thuận đã ký kết chỉ là bước đầu trong việc xây dựng mối quan hệ đối tác lâu dài cùng có lợi giữa hai công ty. SOGAZ đã đạt được nhiều kinh nghiệm trong bảo hiểm xây dựng các công trình biển, đây là kế hoạch tuyệt vời cho sự phát triển của nhà máy đóng tàu Admiralty, sức mạnh tài chính của chúng tôi sẽ cung cấp một sự bảo hiểm đáng tin cậy cho các lợi ích của nhà máy đóng tàu lâu đời nhất nước Nga”

SOGAZ được đánh giá là Tập đoàn bảo hiểm hàng đầu nước Nga với hơn 600 văn phòng hoạt động trên khắp đất nước.
(báo Đất Việt)

Thứ Bảy, 22 tháng 9, 2012

Biết địch,biết ta :Tàu ngầm Trung Quốc tụ tập về gần Vịnh Bắc Bộ


Trung Quốc đã hoành thành việc xây dựng căn cứ tàu ngầm hạt nhân chiến lược ở Tam Á, đảo Hải Nam.

(ĐVO) Tạp chí Khán Hòa (Kanwa) đưa tin, căn cứ tàu ngầm hạt nhân chiến lược của Hải quân Trung Quốc ở Tam Á, đảo Hải Nam đã được hoàn tất. Nơi đây có thể sẽ là nơi tập trung lực lượng tàu ngầm chiến lược của nước này.

Tàu ngầm tấn công lớp Thương và tàu ngầm hạt nhân chiến lược lớp Tấn có thể ở trong khu vực gần Vịnh Bắc Bộ để thực hiện các đòn tấn công bằng tên lửa hạt nhân chiến lược.

Trong vùng biển này, tàu lớp Tấn hoàn toàn có thể đảm bảo được an toàn cho chính mình khi tham gia các hành động tác chiến hạt nhân chiến lược.

Nơi tập trung lực lượng tàu ngầm hạt nhân chiến lược

Bài báo viết, sau 10 năm xây dựng, căn cứ tàu ngầm hạt nhân thứ hai của Trung Quốc tại Tam Á, Hải Nam đã hoàn thành.

Các hình ảnh vệ tinh mới nhất cho thấy, tại căn cứ này người ta cho xây dựng hàng loạt các kho lớn cực kì kiên cố, các cầu cảng neo đậu tàu ngầm cũng được tăng lên thành 4, mỗi cầu này dài 230m. Điều này có nghĩa trong tương lai số lượng tàu ngầm hạt nhân chiến lược sẽ tăng lên ít nhất là bằng với số cầu cảng.

Các nguồn tin bên ngoài chủ yếu dựa vào các hình ảnh vệ tinh và thông tin tình báo được tiết lộ để phỏng đoán về tình hình trang bị ở hai căn cứ tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc.

Hình ảnh vệ tinh mới nhất cho thấy, có hai tàu ngầm hạt nhân của hạm đội Nam Hải đang neo đậu ở Tam Á. Trong đó, chắc chắn 1 chiếc là tàu ngầm tiến công lớp Thương, chiếc còn lại rất có khả năng là tàu ngầm hạt nhân chiến lược lớp Tấn.

Việc nhận diện dựa vào việc trên tàu có 1 thiết bị định vị thủy âm (sonar) đặt ở phía sau đuôi. Loại sonar này gióng hệt như những loại khác trang bị cho các tàu ngầm hạt nhân chiến lược trước đây của Liên Xô. Đây chính là loại sonar mà Hải quân Trung Quốc dùng cho tàu ngầm hạt nhân chiến lược của mình, công nghệ này có thể Trung Quốc lấy được từ Belarus.

Bài viết giả thuyết rằng, sau khi hoàn thành việc xây dựng căn cứ ở Tam Á, lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc sẽ chuyển dần về đây.

Hiện ở đây chỉ có 1 chiếc tàu lớp Tấn, nhưng nhiều khả năng nó sẽ rời căn cứ Thanh Đảo để chuyển về Tam Á, ý đồ chiến lược của việc di chuyển quân này rất rõ ràng: lợi dụng điều kiện nước sâu của Vịnh Bắc Bộ và biển Đông, gây khó khăn cho Mỹ và các nước khác trong việc trinh sát tàu ngầm hạt nhân chiếc lược của Trung Quốc.

Hình ảnh minh họa bố trí cầu cảng, hầm trong núi căn cứ tàu ngầm Tam Á, đảo Hải Nam.

Căn cứ che giấu tiếng ồn tàu ngầm

Tại căn cứ tàu ngầm hạt nhân thứ nhất của Trung Quốc ở Thanh Đảo, độ sâu trung bình vào khoảng 100m, đối với sự ồn ào của tàu ngầm hạt nhân chiến lược mà nói, độ sâu này rất khó để có thể tránh đi được sự phát hiện của sonar đối phương.

Khi vận hành, nếu thời tiết không có mây, nắng to, tàu ngầm lớp Tấn thậm chí có thể bị phi hành đoàn trên máy bay chống ngầm P3-C nhìn thấy bằng mắt thường.

Với căn cứ Tam Á lại hoàn toàn khác, trong vòng bán kính 80km từ căn cứ này, độ sâu trung bình của nước biển vào khoảng 200m, rất có lợi cho việc ẩn mình của tàu ngầm.

Tàu ngầm hạt nhân chiến lược của Trung Quốc trước đây được gọi là tàu ngầm “Vịnh Bột Hải”, bởi vì chủ yếu xuất phát từ khu vực vịnh Bột Hải, Đông Bắc Trung Quốc.

Hiện nay, tàu ngầm lớp Tấn có thể gọi là tàu ngầm “Vịnh Bắc Bộ”. Bởi vì chúng có thể từ khu vực vịnh Bắc Bộ tiến hành các đòn công kích hạt nhân chiến lược.

Ngoài ra, căn cứ Tam Á là cửa ngõ tiến vào biển Đông của Trung Quốc. Tàu ngầm tấn công và tàu nổi có thể từ đây thực hiện các nhiệm vụ hành quân và tác chiến ở khu vực biển Đông, cũng như đối phó với các cuộc xung đột bất ngờ.

Các chuyên gia phân tích vũ khí phương Tây cho rằng, Trung Quốc mới chỉ đưa vào biên chế 1 tàu ngầm hạt nhân lớp Tấn, ngoài ra còn 2 tàu nữa đang trong quá trình thử nghiệm, và 1 chiếc đang được đóng. Loại tàu này có thể mang phóng tên lửa hạt nhân chiến lược Cự Lãng 2 (JL-2).

Căn cứ Tam Á cách đảo Guam gần 4.000 km, khoảng cách này hoàn toàn nằm trong tầm bắn của tên lửa JL-2. Với lợi thế về địa hình vùng nước ở biển Đông, tàu ngầm Trung Quốc hoàn toàn có thể im lặng tiến ra biển Đông từ đó thực hiện các đòn tấn công vào Alaska hoặc Hawaii.

Bài viết dự đoán, để đảm bảo sự an toàn tuyệt đối, tàu ngầm lớp Tấn sẽ hoạt động trong phần lãnh hải Trung Quốc thuộc Vịnh Bắc Bộ.

Trong trường hợp xảy ra chiến tranh, Trung Quốc sẽ điều thêm 2 tàu ngầm hạt nhân lớp Thương và 4 tàu ngầm chạy bằng diesel thuộc lớp Kilo Type 636M thực hiện phong tỏa các lối vào vịnh nhằm bảo vệ cho tàu lớp Tấn.

Anh Hoàng.

(Nguồn Đất Việt)

Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2012

Mãi mãi Hoàng Sa - Kỳ 2: Thiên nhiên ở đảo.



Những người từng đến Hoàng Sa giờ tuổi đã cao, song vẫn còn lưu giữ nhiều ký ức đẹp, sống động về vùng biển đảo thân yêu.

Mãi mãi Hoàng Sa - Kỳ 2: Thiên nhiên ở đảo
Đào giếng tại Hoàng Sa năm 1938 - Ảnh: Tư liệu

Dồi dào sản vật

Trở lại Hoàng Sa...

Tháng 10.1973, ông Lê Lan (Quảng Nam) trở lại Hoàng Sa lần thứ 2. “Chỉ còn khoảng 1 tuần nữa là về (đầu năm 1974 - PV) thì Trung Quốc đưa tàu chiến, binh lính đến lấn chiếm đảo. Mặc dù chúng tôi đã phân chia nhiệm vụ chiến đấu giữ đảo, vì đảo là chủ quyền của chúng ta, nhưng bọn chúng đông quá cùng tàu chiến nhiều nên cuối cùng chúng cũng chiếm được Hoàng Sa...” - ông Lê Lan kể trong uất nghẹn.

“Tôi cùng 32 người khác bị đưa về tạm giam ở đảo Hải Nam 3 tháng, khi đó có thêm 21 người bị hải quân Trung Quốc bắt ở đảo khác. Sau đó chúng đưa tôi về trại tù binh ở Quảng Châu (Trung Quốc) khoảng 1 tháng rồi giao cho Tổ chức Hồng thập tự Quốc tế của Anh trao trả cho chính quyền Sài Gòn" - ông Lê Lan kể lại trong cuốn Kỷ yếu Hoàng Sa.

Câu chuyện của ông Ngô Tấn Phát, nhà ở Q.Hải Châu (TP.Đà Nẵng) kể nhẹ nhàng, nhưng đau đáu nỗi niềm về Hoàng Sa: “Năm 1959, tôi được Nha Khí tượng điều ra Hoàng Sa công tác tại Ty Khí tượng Hoàng Sa. Lúc đặt chân lên đảo nhìn ra biển thì thật sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp rực rỡ của màu nước biển phân chia từng lớp trong xanh, đậm nhạt từ bãi cát cho đến tít tận khơi xa mịt mù”. Ngoài phiên trực, theo ông Phát, thời gian rảnh rỗi ông cùng các bạn đi dạo quanh đảo, thả bộ trên bãi cát vòng quanh đảo, rồi tắm biển, câu cá, bắt ốc. Sản vật ở Hoàng Sa lúc bấy giờ nhiều vô kể, có nhiều cá mú, mực, tôm, cá khế, cá mập, rùa biển…

Ông Trương Văn Quảng, ở Q.Ngũ Hành Sơn (TP.Đà Nẵng) có thâm niên trên 10 lần ra Hoàng Sa, chủ yếu là tiếp liệu, vận chuyển nhu yếu phẩm cung cấp cho anh em giữ đảo và đo gió, mưa. Ông Quảng cho biết ông có đọc sách nên từ thời trẻ đã hiểu khá tường tận về chủ quyền Hoàng Sa: “Vào thời chúa Nguyễn Hoàng đến nay là trên 450 năm đã có văn kiện chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Khi vua Gia Long lên ngôi còn cho dựng miếu thờ người con gái đã mất ở Hoàng Sa. Thời Pháp, thuộc đảo lớn nhất ở Hoàng Sa có tên là Robert, sau đó người Việt Nam gọi là đảo cây Dừa, bởi vì trên đảo có nhiều cây dừa lớn”. Ông kể trên đảo có nhiều phân chim nằm sâu dưới lớp san hô và bọt biển. Ngoài ra còn có nhiều loại hải sản quý hiếm. “Khi đến Hoàng Sa, điều lý thú nhất là câu cá. Ở Hoàng Sa thời điểm đó ít ghe thuyền đến đánh bắt, nên có nhiều loại cá và dễ câu. Ở trên đảo ngoài câu cá còn bắt rùa biển, ốc tai tượng, nhất là rau câu biển, lấy hàng bao để làm đông sương ăn rất ngon. Khi hết nhiệm kỳ trở về đất liền, mỗi người mang một hoặc hai bao cá khô về làm quà biếu gia đình, bạn bè” - ông Quảng xúc động kể.

Còn ông Trần Văn Sơn, sau gần 40 năm ra đảo làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền (đoàn ông ra đảo năm 1973) đến giờ ông vẫn còn nhớ như in những khu vực trên đảo như nhà khí tượng, miếu bà, nhà thờ Công giáo, giếng nước... “Cá ở Hoàng Sa nhiều đến nỗi trong một đêm, một người có thể câu đến cả tạ”. Ông Sơn còn cho biết thêm, mỗi khi thời tiết đẹp, đứng ở đảo lớn Hoàng Sa có thể nhìn thấy 7 cụm đảo nhỏ xung quanh. “Khi tôi ra đảo, nhiều anh em đi trước có kể họ từng sang các đảo nhỏ xung quanh để lấy trứng chim. Còn với chúng tôi, đảo trưởng cấm không cho đi vì thời tiết xấu bất thường và có nhiều vùng xoáy rất nguy hiểm”.

Ký ức đẹp đẽ

Kỷ niệm khó phai nhất đối với ông Trần Văn Sơn thời ở Hoàng Sa là vào một đêm trăng sáng, ông cùng vài anh em trong đoàn đi tìm trứng rùa biển. “Tôi nhớ có một con rùa biển rất to lên bờ cát đẻ trứng, hai người đứng trên lưng mà nó vẫn bò đi được. Khi nó bò đến mép nước thì chúng tôi mới nhảy xuống. Phải nói là chưa bao giờ tôi thấy một con rùa biển to như thế” - ông Sơn kể một cách hào hứng.

Trong các câu chuyện của những người từng ở Hoàng Sa kể lại, bao giờ chúng tôi cũng nghe về vẻ đẹp Hoàng Sa cũng như lời khẳng định chủ quyền Hoàng Sa là của Việt Nam. “Tôi lúc đó tuổi đôi mươi, không vướng bận thê nhi, chút máu lãng tử trong người trỗi dậy. Hơn nữa nghe kể rằng ngày xưa triều Nguyễn lập đội Hoàng Sa, khi đưa tiễn họ ra đi, họ được xem như những anh hùng...” - ông Trần Hòa quê ở thị trấn Nam Phước, H.Duy Xuyên (Quảng Nam) nói. Ông Trần Hòa ra đảo năm 1973, và với ông những dấu tích từ thời xa xưa, những mái nhà, những câu chuyện ở đảo dường như mới in vào trong tâm trí ông: “Biển đảo hiền hòa và hào phóng, cung cấp hải sản không thiếu một thứ gì. Nhưng cũng có lúc nổi cơn giận dữ, biển thét gào với những trận cuồng phong, những đợt sóng cao như trái núi lừ lừ tiến vào đảo trông thật kinh hoàng. Nhưng điều may mắn là Hoàng Sa chưa bao giờ ngập trong sóng biển”.

Hữu Trà

Thứ Hai, 10 tháng 9, 2012

Mãi mãi Hoàng Sa.



Tiếp nối những đội hùng binh Lý Sơn một thuở, những chàng trai trẻ đất Quảng Nam, Đà Nẵng... trước 1975, đã vượt sóng gió ra Hoàng Sa giữ đảo. Đến bây giờ, những ký ức ở đảo xa vẫn còn in mãi trong tim mọi người.

Quần đảo tươi đẹp của Tổ quốc

Mỗi khi nhớ đến Hoàng Sa, tôi nghĩ có một ngày nào đó sẽ có dịp bước chân trở lại đảo với niềm tự hào đó là một phần của đất nước chúng ta và thuộc chủ quyền của ta (Ông Nguyễn Văn Đức, nhà ở Q.5, TP.HCM, ra Hoàng Sa đợt 37, tháng 10.1969) - Trích từ Kỷ yếu Hoàng Sa 2012

Giữa mùa thu năm 1971, chàng trai trẻ Lê Lan, nguyên quán ở Điện Trung, Điện Bàn (Quảng Nam) lúc bấy giờ mới 19 tuổi, là y tá theo đoàn ra đảo. Ông Lan nhớ lại: “Đợt tôi ra Hoàng Sa là đợt 45. Ra để đổi cho anh em đợt 44 đã hết nhiệm vụ. Chuyến đi xuất phát ở cảng Tiên Sa - Đà Nẵng từ 16 giờ hôm trước, tàu chạy luôn đêm đến khoảng 6 - 7 giờ sáng hôm sau là đến Hoàng Sa”. Ban đầu nhận lệnh ra giữ đảo, ông Lê Lan cũng như những người trong đoàn hết sức lo lắng: “Phải nói rằng, được công tác tại Hoàng Sa là một vinh dự lớn. Song cũng có ít nhiều lo lắng và băn khoăn nhất định. Vì Hoàng Sa cách xa đất liền, mênh mông biển nước và ở đó những 3 tháng”. Tàu đến Hoàng Sa hạ neo ngoài khơi, rồi dùng tàu cao su gắn máy đưa vào đảo. “Đặt chân lên đảo tôi thật sững sờ. Đường vào đảo như hang động, bởi hai bên san hô chất cao quá đầu, dây leo phủ kín. Giữa đường đi có đường ray xe goòng từ hồi Pháp để lại” - ông Lan nhớ lại.

Còn ông Phạm Khôi, hiện ở P.Thạch Thang (TP.Đà Nẵng) kể: “Tôi nhớ như in ngày tôi ra Hoàng Sa là ngày bà con ta đưa ông Táo về trời năm 1969. Lúc đó tôi rất hăm hở, háo hức vì mong muốn chinh phục, khám phá vùng đất mới của đất nước và vì khát vọng của người thanh niên đi bảo vệ biển đảo quê hương”. Ở Hoàng Sa lúc đó yên bình, thậm chí nhiều người còn tếu táo với nhau là đi Hoàng Sa để an dưỡng, chứ không phải đi làm nhiệm vụ. Bởi, không khí nơi đây trong lành, biển xanh, cát trắng, hải sản dồi dào. “Khi màn đêm buông xuống, anh em chúng tôi tụ tập lại bên nhau để nghe tin tức ở quê nhà. Cuộc sống biển xa muôn vàn khó khăn, nhưng vì mục đích lớn phải bảo vệ đảo, vì vùng đất máu thịt của Tổ quốc nên mọi người đều cố gắng vượt qua” - ông Phạm Khôi nói. Ông Nguyễn Văn Cúc, nhà ở P.Phước Mỹ (Q.Sơn Trà) có 3 lần ra Hoàng Sa từ năm 1973. Công việc của ông là khảo sát, sửa chữa và xây thêm bể ngầm chứa nước ngọt, đồng thời lấy mẫu đất, thực địa để chuẩn bị xây dựng sân bay. “Giờ nghĩ lại tôi thấy mình may mắn được làm việc, được cống hiến tại mảnh đất thiêng liêng ấy và tôi muốn chia sẻ để mọi người được biết, để con cháu thế hệ mai sau luôn biết rằng Hoàng Sa vô cùng tươi đẹp, là một phần của Tổ quốc Việt Nam”.

Mãi mãi Hoàng Sa
Cột hải đăng Hoàng Sa năm 1937 - Ảnh chụp từ tư liệu của Bảo tàng Đà Nẵng

Cúng đảo cầu bình yên

Ở ngoài đảo sợ nhất là cảnh thiếu nước, ông Phạm Khôi nói: “Chúng tôi sử dụng nước mưa được chứa ở các bể ngầm xung quanh nhà khí tượng. Khi tôi sống ở trên đảo thì chứng kiến 3 lần bị thiếu nước ngọt, mỗi lần kéo dài khoảng 10 ngày. Khát quá, nên chúng tôi lấy nước ở giếng lên để dùng, nhưng nước giếng chỉ uống được khi còn nóng, chứ để nguội rất khó uống. Uống nước giếng liên tục 3 ngày sẽ bị đau bụng”. Do thuốc men thiếu thốn, thành ra việc chữa trị bệnh cũng chỉ sử dụng đường và sữa mà thôi. “Những lúc như vậy mới thấm được tình cảm của anh em xa nhà” - ông Khôi tâm sự. Trong bao thứ vật dụng, nhu yếu phẩm, thuốc men mang ra Hoàng Sa, trên tàu bao giờ cũng có mấy chú heo để cúng đảo, một tập tục được truyền lại từ bao thế hệ người Việt từng giữ đảo Hoàng Sa. Nhiều người khi gặp gỡ, trò chuyện với PV Thanh Niên đều nhớ và kể rằng, bao giờ cũng vậy, trước khi đưa hàng hóa, thực phẩm, gạo, muối... xuống tàu để ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ, anh em cũng chuẩn bị 2 - 3 con heo, con lớn cỡ 50 - 70 kg và 2 con nhỏ hơn. Khi tàu vừa cập Hoàng Sa, theo thông lệ và tập tục truyền lại, những người ra đảo phải làm thịt một con heo để cúng đảo. Mục đích việc cúng tế này được lý giải là để cầu mong biển đảo phù trợ cho mọi người được bình yên. Những con còn lại, được nuôi nấng kỹ lưỡng để khi hoàn thành nhiệm vụ, về đất liền làm thịt con heo cúng tạ ơn đảo đã chở che để mọi người được mạnh khỏe, an lành trở về nhà với người thân, bạn bè...

Mãi mãi Hoàng Sa
Ông Phạm Khôi, nhân chứng từng sống, làm việc ở Hoàng Sa trao kỷ vật là vỏ ốc hoa ở Hoàng Sa cho UBND H.Hoàng Sa - Ảnh do Bảo tàng Đà Nẵng cung cấp

Theo nhiều người từng ở đảo, Hoàng Sa chỉ có dương liễu, dừa và cây nhàu, rất khó để trồng được loại cây rau quả nào để cải thiện thêm. Theo ông Khôi, bên bãi trồng cây dương liễu có một cái miếu rất thiêng, được xây dựng từ thời nhà Nguyễn, bên trong có tượng đồng đen, xung quanh miếu có hàng chục ngôi mộ đắp bằng đất được cho là nơi yên nghỉ của nhiều thế hệ người Việt giữ đảo Hoàng Sa. Nói về miếu thờ ở Hoàng Sa, nhiều người từng ra đây kể vanh vách: “Phía nam của đảo có một cái miếu xây tường, lợp ngói, cao 3 m, dài 3,5 m, ngang chừng 2,5 m quay về hướng nam. Chính giữa thờ tượng Phật, một tượng Quan Ông và hai bệ thờ. Trước tượng Phật có bàn nhỏ bày những quyển kinh, có một cái chuông và một cái mõ để tụng kinh, niệm Phật”. Người ở đảo thường kể cho nhau nhiều câu chuyện ly kỳ về sự linh thiêng của ngôi miếu, về chuyện mỗi khi hoàng hôn buông xuống, từng đàn cá lớn kéo về vũng nước gần miếu như để chầu; chuyện có người muốn nổ lựu đạn vào đàn cá, song đã bị tử vong vì lựu đạn nổ ngay trên tay; trong đó có chuyện một ông thuyền trưởng vào năm 1968 có ý định đưa tượng Phật bằng đồng đen lên tàu về đất liền. Khi tượng đã lên thuyền, nhưng rồi thuyền cứ xoay tròn, không tiến lui gì được. Thấy vậy, thuyền trưởng sợ quá, bèn mang tượng đặt lại trên miếu, đốt nhang lạy lục van xin thì thuyền mới yên ổn rời đảo.

Hữu Trà

Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2012

Cuộc tình giai thoại



Họ gặp gỡ trên đảo Vạn Hoa - Quảng Ninh rồi cưới nhau tại một đơn vị hải quân trong những năm tháng mưa bom bão đạn. Trong Quân chủng Hải quân, tình yêu của họ được nhiều người nhắc đến như một giai thoại

Biết tôi có ý định viết về ngày Gia đình Việt Nam (28-6), nhiều người quen trong Quân chủng Hải quân liền giới thiệu vợ chồng đại tá Nguyễn Hữu Doanh - bà Đỗ Thị Ngọc Bảo. Đến nhà vị đại tá về hưu này, tôi ấn tượng ngay khi thấy phù hiệu hải quân với những chiếc mỏ neo được lưu giữ rất nhiều và cẩn trọng. Ông trân trọng từng trái bàng vuông, tảng san hô, những kỷ vật thời chiến như nhân chứng cho tình yêu của đời mình.

“Tiếng sét”

Đại tá hải quân Nguyễn Hữu Doanh đã về hưu gần 10 năm nay nhưng trông ông vẫn phong độ như thời dọc ngang trên biển. Vợ ông, bà Đỗ Thị Ngọc Bảo, diễn viên múa Đoàn Văn công Hải quân năm nào, cũng vẫn còn nguyên sự duyên dáng, đằm thắm của thiếu nữ Hà thành. Khi ông bà lấy nhau, người ta mừng vì cặp trai tài gái sắc số 1 của quân chủng đã nên duyên nhưng ít ai biết rằng họ đã vượt qua bao thăng trầm, thử thách.

Nếu chàng thanh niên người Hà Đông Nguyễn Hữu Doanh và cô thiếu nữ Hà Nội Đỗ Thị Ngọc Bảo không khoác lên mình bộ sắc phục hải quân thì có lẽ họ đã không có một tình yêu đẹp đến lung linh, không có một đám cưới đi vào “huyền thoại” của quân chủng. “Lăn lộn qua nhiều đơn vị nhưng đến khi vào hải quân, tôi mới tìm thấy tình yêu của đời mình” - đại tá Doanh thừa nhận.
Đại tá Nguyễn Hữu Doanh và vợ - bà Đỗ Thị Ngọc Bảo
Bà Bảo cho biết bà yêu sắc áo người lính hải quân như một lẽ tự nhiên. “Lần đầu tiên nhìn thấy bộ sắc phục xanh của hải quân, tôi đã không ngần ngại gia nhập đoàn văn công để phục vụ cán bộ, chiến sĩ khắp các mặt trận trên biển” - bà nói. Ngay những ngày đầu tiên vào đoàn văn công, cô gái Hà Nội đã bị “tiếng sét ái tình” khi gặp chàng trung úy Nguyễn Hữu Doanh, khi đó - năm 1971 - là cán bộ Trường Sĩ quan Hải quân ra đón đoàn đến đảo Vạn Hoa biểu diễn.

Thời ấy, lãnh đạo đoàn văn công không khuyến khích nữ diễn viên yêu sớm vì lo ngại chị em nghệ sĩ lấy chồng thì chẳng còn ai ra mặt trận biểu diễn. Bà Bảo bồi hồi: “Lúc ấy, tôi chưa từng biết thế nào là yêu nên rất giữ khoảng cách với các chàng trai”. Trong khi đó, chàng trung úy hải quân không giấu được cảm xúc chếnh choáng vì lần đầu tiên gặp gỡ cô văn công xinh đẹp. “Khi đó, người Hà Nội không nhiều nên nếu cùng đồng hương thủ đô thì hay lấy cớ để làm quen. Bà nhà tôi cũng có rất nhiều người nhận đồng hương, mà tôi là người đầu tiên” - ông hồi tưởng.

Vượt qua thử thách

Thời chiến, hầu như tình yêu nào cũng phải trải qua những thử thách của bom đạn, của lòng tin. Tình yêu trong quân ngũ thì thử thách đôi khi còn lớn hơn gấp bội. Sau một tháng biểu diễn trên đảo Vạn Hoa, đoàn văn công được điều ra các mặt trận tiền phương, trung úy Doanh cũng tiếp tục công tác tại Trường Sĩ quan Hải quân.

Trong những năm tháng mưa bom bão đạn ác liệt, các diễn viên múa mặc áo lính vẫn thường xuyên có mặt ở nhiều chiến trường: Vĩnh Linh, Cửa Việt, Quảng Trị... “Từ một cô gái vốn sợ ma, sợ bóng tối, tôi phải tập làm quen với bom đạn, với sự khốc liệt ở chiến trường” - bà Bảo nhớ lại. Ra mặt trận, gặp không ít chàng trai và cũng không thiếu những thanh niên Hà Nội “nhận đồng hương” nhưng cô diễn viên múa chỉ nghĩ về chàng trung úy trên đảo Vạn Hoa. Không lời hứa, không hẹn ước nhưng tình yêu của họ vẫn cứ lớn dần qua những cánh thư. “Có giai đoạn miền Bắc bị địch leo thang đánh phá, chúng tôi hoàn toàn không biết tin tức gì của nhau” - ông Doanh cho biết.

Đôi khi nửa năm trời mới nhận được một bức thư của nhau nhưng họ vẫn đều đặn viết, có ngày chỉ được vài chữ. Khi tình yêu đã vượt qua thử thách của sự sống và cái chết, dường như con người luôn biết trân trọng giá trị thiêng liêng của nó. Ba năm đằng đẵng chỉ yêu nhau qua thư, đến tháng 11-1974, trong lần hạnh ngộ cũng trên chính hòn đảo mà họ đã gặp nhau, một đám cưới đúng với phong cách thời chiến đã diễn ra.

Bức ảnh cưới của trung úy Nguyễn Hữu Doanh và cô văn công xinh đẹp

Đỗ Thị Ngọc Bảo chụp năm 1971. ẢNH DO NHÂN VẬT CUNG CẤP

Đồ cưới chính là bộ quân phục hải quân họ đang khoác trên mình. Những ca khúc vang lên trong đám cưới: Cuộc đời vẫn đẹp sao, Không cho chúng nó thoát... phản ánh không khí của thời đại. Dù đã nên vợ nên chồng nhưng ông bà luôn phải thuộc nằm lòng câu khẩu hiệu “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ”. Cưới xong, ông Doanh lại theo các chuyến tàu lên đường đi công tác, còn bà Bảo tiếp tục mang những điệu múa ra mặt trận xua tan sự khốc liệt của đạn bom.

Những cặp sĩ quan và văn công lấy nhau trong quân ngũ không ít. Ngay trong Quân chủng Hải quân cũng có những mối tình nảy nở từ mưa bom bão đạn nhưng cứ nhắc đến đại tá Nguyễn Hữu Doanh và nghệ sĩ múa Đỗ Thị Ngọc Bảo thì ai cũng nhớ. Khi lấy nhau, họ là đôi trai tài gái sắc nổi tiếng của hải quân nhưng điều làm người ta cảm phục chính là sự thủy chung son sắt mà họ dành cho nhau.

Trong những năm tháng bặt tin tức từ bà Bảo, có vị tướng cấp cao trong quân đội muốn gả con gái cho ông Doanh nhưng ông khéo léo từ chối mối lương duyên mà nhiều chàng trai mơ ước để tiếp tục chờ đợi người phụ nữ của đời mình. Ngoài mặt trận, bà Bảo cũng từng nghe loáng thoáng tin đồn người mình yêu có thể sẽ kết hôn với con gái của một cán bộ cấp cao nhưng dù xa mặt vẫn không cách lòng. Chính niềm tin và sự chờ đợi bền bỉ đã giúp mối tình của họ thêm đẹp.

Thời trai trẻ, với quân hàm trung úy, chàng trai Nguyễn Hữu Doanh chẳng khác nào “hot boy” với không ít cô gái vây quanh. Cô diễn viên trẻ Đỗ Thị Ngọc Bảo cũng nức tiếng đẹp người, đẹp nết và là hoa khôi của đoàn văn công. Đôi trai tài gái sắc của Quân chủng Hải quân nên vợ nên chồng cũng vì thế trở thành một giai thoại về tình yêu của những người lính hải quân những năm tháng chống Mỹ.

Tự hào một thuở dọc ngang

Nhập ngũ năm 1962, chàng trai Nguyễn Hữu Doanh được cử đi học tình báo, nhảy dù, sĩ quan thông tin vô tuyến… nhưng giai đoạn được dọc ngang trên biển với các chuyến tàu vẫn là thời kỳ hào hùng nhất. Kể cả khi đã được điều về công tác ở Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu, ông Doanh vẫn gắn bó với hải quân và đặc biệt được lên kế hoạch chi viện Trường Sa. Ông từng đi cùng Tư lệnh Hải quân, Đô đốc Giáp Văn Cương, trong nhiều chuyến ra đảo, thị sát trên biển để xây dựng nhà tại các đảo chìm.

Cả chục chuyến ra Trường Sa, với óc quan sát tinh tường và trí nhớ của người làm công tác tham mưu, ông nhớ đặc điểm của từng đảo, diện tích, quân số... Ông khoe với tôi trái bàng vuông lấy trên đảo Sinh Tồn trong chuyến đi Trường Sa cách đây ngót 20 năm. “Một trong những vinh dự lớn nhất đời tôi có lẽ là năm tháng bám biển, gây dựng cơ sở vật chất đầu tiên cho quần đảo Trường Sa” - ông tự hào.

Nghệ sĩ múa Đỗ Thị Ngọc Bảo cũng được tặng huy chương Vì sự nghiệp biển đảo Tổ quốc sau những năm tháng cống hiến cho lực lượng hải quân. Cô văn công xinh đẹp năm nào khoe: “Cách đây không lâu, những cựu binh văn công của Quân chủng Hải quân chúng tôi có dựng lại Câu cá, một tiết mục múa rất nổi tiếng thời chống Mỹ, để diễn lại. Tuổi thì già rồi nhưng nhiệt huyết vẫn như năm nào”.

Bà Bảo cho biết nhiều người cho rằng lẽ ra nếu không vào hải quân thì với tài năng của một nghệ sĩ múa trẻ, bà đã có thể nổi tiếng hơn. “Thế nhưng, cho tới giờ, tôi vẫn tự hào về quyết định gia nhập văn công hải quân. Điều tuyệt vời nhất với một nghệ sĩ là được đi khắp nơi phục vụ đồng bào, chiến sĩ. Tôi còn được nhiều hơn thế khi tìm thấy người bạn đời. Vậy thì tôi phải cám ơn những năm tháng là văn công hải quân” - bà bộc bạch.

Vẫn tình tứ như ngày nào

Sau khi nghỉ hưu, đại tá Doanh rất mê tập luyện thể thao. Chơi tennis từ nhiều năm nay, hiện ông là VĐV có hạng, từng vô địch tennis Hà Nội lứa tuổi dưới 50 và là HLV, trọng tài tennis cấp quốc gia.
Bà Bảo ngoài thời gian chăm sóc cháu, lúc rảnh rỗi vẫn dựng vở giúp các đoàn nghệ thuật. Bà coi đó là nguồn vui và giúp mình sống lại nhiều ký ức của những năm phục vụ trong quân ngũ.
Ông đã xấp xỉ thất thập, bà cũng qua tuổi 60 nhưng họ vẫn gọi nhau là “anh - em” rất tình tứ, nhất là khi kể lại chuyện tình yêu của 40 năm trước, họ vẫn say sưa, nồng nàn như thể mọi chuyện vừa mới xảy ra hôm qua.
Họ có 2 người con, cô con gái đầu cũng chọn môi trường quân đội giống cha mẹ, hiện là cán bộ triển vọng của một doanh nghiệp quân đội; còn anh con trai đang công tác trong một công ty tài chính dầu khí.
MẠNH DUY

Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012

Sức mạnh 'ong độc' của Hải quân Việt Nam


Ngoài việc được biên chế 2 hộ vệ hạm tên lửa Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ, Quân chủng Hải quân còn có tàu tên lửa cực kỳ cơ động, cao tốc Molnya. Dưới đây là những hình ảnh mới nhất của loại chiến hạm được gọi là “ong độc”.

Hai chiếc này nằm trong hợp đồng mua 12 chiếc Taratul V mà Việt Nam ký với Nga. Số còn lại sẽ do Việt Nam tự đóng theo công nghệ được chuyển giao.
Tàu tên lửa Molnya (NATO gọi là Tarantul V) của Hải quân Nhân dân Việt Nam. Đây là một trong 2 tàu tên lửa cao tốc đầu tiên thuộc Project 1241.8 mà Việt Nam mua của Nga.

So với những tàu tên lửa Molnya cơ sở thuộc Project 1241.1 mà Việt Nam nhận của Nga trước đó, tàu Molnya thuộc Project 1241.8 có một số thay đổi đặc biệt là ở hệ thống vũ khí
Tàu tên lửa cao tốc Molnya Project 1241.8 được lắp đặt hệ thống tên lửa Uran-E , vận tốc cận âm 3M-23E (SS-N-25 Switchblade); tên lửa có khối lượng 600kg mang đầu đạn 145kg, được phóng từ container phóng/vận chuyển và có thể tiêu diệt mục tiêu ở cự ly đến 130km.
Ngoài ra, các tàu tên lửa Molnya Project 12418 còn được trang bị 12 tên lửa phòng không...
Cận cảnh tàu tên lửa Molnya.
Đây là một trong những tàu tên lửa Molnya thuộc Project 1241.1 (NATO gọi là tàu hộ tống lớp Tarantul I) mà Nga cung cấp cho Hải quân Việt Nam trong những năm 1999.
Các tàu tên lửa Molnya được sử dụng để tác chiến tại các vùng cửa biển và ven bờ. Với lượng giãn nước chỉ hơn 500 tấn, tính cơ động cao, tấn công và sơ tán nhanh, Molnya có khả năng độc lập tác chiến và chiến đấu hiệp đồng trong đội hình biên đội, tạo nên thế trận cực kỳ linh hoạt.
Tàu tên lửa cao tốc BPS-500 lắp ráp tại Việt Nam từ năm 1999 với kỹ thuật của Nga, tàu tên lửa cao tốc BPS-500 có chiều dài 62 m, tải trọng 517 tấn...

Tàu tên lửa cao tốc BPS-500.

Pháo hạm Svetlyak thuộc lớp Project 10412 mang số hiệu HQ-261.

Pháo hạm Svetlyak thuộc lớp Project 10412.

Tàu tên lửa Molnya, hộ vệ hạm tên lửa Đinh Tiên Hoàng.

Thứ Tư, 22 tháng 8, 2012

Chiêm ngưỡng tàu biển 'khủng' nhất thế giới


Khi cần phải chuyên chở cùng lúc 22 xà lan, mỗi cái nặng gần 3.000 tấn, chu du nửa vòng thế giới, bạn sẽ cần một tàu vận tải “khủng” tới cỡ của Blue Marlin – một trong những tàu biển dị thường nhất từng lướt mình trên các đại dương.

Tàu Blue Marlin đang chuyên chở cùng lúc 23 xà lan có trọng lượng tổng cộng gần 60.000 tấn. Ảnh: Daily Mail

Theo tờ Daily Mail, Blue Marlin là tàu vận tải bán ngầm hạng nặng, có chiều dài 217m, chiều cao mớn nước 42m và sở hữu boong tàu có kích cỡ bằng 2 sân bóng đá. Tàu vận hành nhờ động cơ diesel 17.000 mã lực và đạt vận tốc tối đa 24km/h.

Người ta mô tả, việc lái con tàu khổng lồ này giống như kiểm soát một tòa cao ốc văn phòng nổi. Với trọng tải 75.000 tấn, thay vì chở các hàng hóa thông thường như tivi, đồ chơi, cà phê, đồ gia dụng – điện tử, tàu Blue Marlin thường được giao nhiệm vụ “cõng” trên lưng các tàu thuyền nhỏ hơn và cả các giàn khoan dầu.

Blue Marlin lập kỷ lục vận tải khi chuyên chở giàn khoan Thunder Horse nặng 60.000 tấn của BP từ Okpo, Hàn Quốc tới Corpus Christi, Mỹ năm 2004. Ảnh: Daily Mail

Khi lực lượng Hải quân Mỹ muốn đưa tàu khu trục hỏng hóc USS Cole về nhà, họ nhờ tới Blue Marlin. Và khi Hải quân Australia muốn mang một hàng không mẫu hạm từ Tây Ban Nha về nước, họ cũng yêu cầu duy nhất sự trợ giúp của tàu vận tải bán ngầm hạng nặng này.

Với những chuyến hàng nặng hàng chục ngàn tấn như 22 chiếc xà lan xuất cảng từ Hàn Quốc tới địa điểm hoàn thiện ở Rotterdam (Hà Lan), không chiếc cần trục nào trên thế giới đủ lớn để có thể nâng chúng lên boong của tàu Blue Marlin. Và đây chính là lúc con tàu thể hiện sự ưu việt vượt trội của mình.

Hãng Diamond Offshore cũng đặt hàng Blue Marlin chở giàn khoan Ocean Monarch từ Singapore tới Corpus Christi, Mỹ. Ảnh: Daily Mail

Boong tàu Blue Marlin được thiết kế có khả năng lặn, giúp nó biến mất dưới 13m nước khi các khoang chứa hàng được bơm ngập nước. Các món hàng như giàn khoan, tàu thuyền khi đó có thể cho thả nổi trước khi boong tàu Blue Marlin được nâng lên bằng cách làm trống các khoang chứa.

Đối với chuyến hàng hơn 20 chiếc xà lan, hãng điều hành đã phải chế tạo các giàn giữ đặc biệt cho Blue Marlin. Các xà lan được chia nhóm và thả nổi, rồi chất lên boong tàu thành nhiều lần.

Blue Marlin đang chở chuyến hàng "nhẹ" hơn gồm 2 tàu ngầm hạt nhân hạng Viktor III dọc bờ biển Nga. Ảnh: Daily Mail

Cho tới hiện tại, chuyến hàng lớn nhất của Blue Marlin là vận chuyển giàn khoan Thunder Horse của hãng BP, trị giá gần 1 tỷ USD và nặng 60.000 tấn, đi suốt quãng đường gần 25.750km từ Hàn Quốc tới Vịnh Mexico.

Blue Marlin được hạ thủy lần đầu tiên vào năm 1999 và hiện là tàu vận tải hạng nặng lớn nhất trên thế giới. Tuy nhiên, nó dự kiến sẽ bị tụt xuống vị trí thứ 2 khi người chị em Dockwise Vanguard, có trọng tải 110.000 tấn, chính thức rời xưởng đóng tàu ở Hàn Quốc vào cuối năm nay.

Tuấn Anh